Tài liệu Giáo dục văn hóa ứng xử cho sinh viên trường cao đẳng văn hóa nghệ thuật việt bắc

  • Số trang: 85 |
  • Loại file: PDF |
  • Lượt xem: 630 |
  • Lượt tải: 0

Mô tả:

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TRẦN THANH NGÀ GIÁO DỤC VĂN HÓA ỨNG XỬ CHO SINH VIÊN TRƯỜNG CAO ĐẲNG VĂN HÓA NGHỆ THUẬT VIỆT BẮC LUẬN VĂN THẠC SĨ GIÁO DỤC HỌC Thái Nguyên - Năm 2011 ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TRẦN THANH NGÀ GIÁO DỤC VĂN HÓA ỨNG XỬ CHO SINH VIÊN TRƯỜNG CAO ĐẲNG VĂN HÓA NGHỆ THUẬT VIỆT BẮC Chuyên ngành: Giáo dục học Mã số: 601401 LUẬN VĂN THẠC SĨ GIÁO DỤC HỌC NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: TS. Nguyễn Thị Thanh Huyền Thái Nguyên - Năm 2011 MỞ ĐẦU 1. Lý do chọn đề tài Trong xu thế hội nhập quốc tế như hiện nay, xã hội đang thay đổi từng ngày với tốc độ nhanh. Hội nhập kinh tế quốc tế đã tạo nên những chuyển biến tích cực trên nhiều lĩnh vực khác nhau của đời sống xã hội như: Kinh tế; chính trị; văn hoá; nghệ thuật; giáo dục và đào tạo…Tuy nhiên, mặt trái của nền kinh tế hiện nay cũng đã có những ảnh hưởng tiêu cực đến các vấn đề: Đạo đức, luân lý, định hướng giá trị, thế giới quan, nhân sinh quan lối sống và VHƯX …của nhiều tầng lớp trong xã hội, trong đó có thế hệ trẻ, đội ngũ SV các trường đại học, cao đẳng. SV là lực lượng đông đảo, có vai trò to lớn trong sự nghiệp đổi mới đất nước. Nói đến SV, tức là nói đến thế hệ đang nắm trong tay tri thức cùng với những hiểu biết về tiến bộ xã hội nói chung và sự phát triển đất nước nói riêng. Họ là lớp người đang được đào tạo toàn diện và đầy đủ nhất, là chủ nhân tương lai của đất nước, là lực lượng tham gia vào quá trình phát triển kinh tế - xã hội. Đại hội lần thứ IX của Đảng Cộng sản Việt Nam đã xác định: “Đối với thế hệ trẻ, chăm lo giáo dục bồi dưỡng, đào tạo phát triển toàn diện về chính trị, tư tưởng, đạo đức, lối sống, văn hóa, sức khỏe, nghề nghiệp; giải quyết việc làm, phát triển tài năng và sức sáng tạo, phát huy vai trò xung kích trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc” [11, tr.126]. Để thực hiện nhiệm vụ vinh quang và cũng đầy khó khăn này, bên cạnh việc chuẩn bị về tri thức chuyên môn, kỹ năng nghề nghiệp, SV cần được trang bị lối sống có văn hóa, đặc biệt là VHƯX để đáp ứng yêu cầu đòi hỏi của thực tiễn xã hội. Thành phố Thái Nguyên là nơi tập trung nhiều trường đại học, cao đẳng, nơi tập trung nhiều SV sinh sống. Cùng với cả nước, Thái Nguyên đang bước vào thời kỳ đẩy mạnh CNH - HĐH. Điều này làm cho đời sống tinh thần của SV vừa phong phú vừa phức tạp, nhiều xu hướng mới nảy sinh trong lối sống của SV. Vì thế, xây dựng con người với lối sống có văn hóa, giao tiếp ứng xử có văn hóa đã trở thành một nhiệm vụ cấp bách, đặc biệt đối với SV hiện nay. 1 Trường Cao đẳng VHNT Việt Bắc, nằm trên địa bàn Phường Đồng Quang Thành phố Thái Nguyên, là cái nôi đào tạo cán bộ làm công tác văn hóa - nghệ thuật của khu vực Đông Bắc. Nhà trường luôn quan tâm đến công tác giáo dục VHƯX cho SV, coi đây là một vấn đề quan trọng, góp phần không nhỏ vào sự thành công trong đào tạo của nhà trường cũng như góp phần phát triển sự nghiệp giáo dục và đào tạo trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên. Xuất phát từ những lý do trên, tôi chọn vấn đề “Giáo dục văn hóa ứng xử cho sinh viên Trường Cao đẳng Văn hóa Nghệ thuật Việt Bắc” làm đề tài nghiên cứu của mình. 2. Mục đích nghiên cứu Trên cơ sở làm rõ những khía cạnh về văn hóa, văn hóa ứng xử, qua khảo sát và phân tích thực trạng giáo dục văn hóa ứng xử cho sinh viên Trường Cao đẳng Văn hóa Nghệ thuật Việt Bắc, đề xuất những biện pháp nâng cao hiệu quả công tác giáo dục văn hóa ứng xử cho sinh viên Trường Cao đẳng Văn hóa Nghệ thuật Việt Bắc nói riêng, trường cao đẳng nói chung. 3. Đối tượng và khách thể nghiên cứu 3.1 Đối tượng nghiên cứu Giáo dục văn hóa ứng xử cho sinh viên Trường Cao đẳng Văn hóa nghệ thuật Việt Bắc. 3.2 Khách thể nghiên cứu Văn hóa ứng xử của SV Trường Cao đẳng Văn hóa Nghệ thuật Việt Bắc. 3.3 Khách thể điều tra Trong phạm vi nghiên cứu của đề tài chúng tôi điều tra trên 9 cán bộ quản lý, 40 giảng viên, 288 sinh viên của các khoa Nghiệp vụ văn hóa & Du lịch, Mỹ thuật, Âm nhạc, Sư phạm Nhạc - Họa. 4. Nhiệm vụ nghiên cứu - Nghiên cứu cơ sở lý luận của việc giáo dục văn hóa ứng xử cho sinh viên - Nghiên cứu thực trạng giáo dục văn hóa ứng xử cho sinh viên Trường Cao đẳng Văn hóa Nghệ thuật Việt Bắc. 2 - Đề xuất những biện pháp nhằm nâng cao hiệu quả giáo dục văn hóa ứng xử cho sinh viên Trường Cao đẳng Văn hóa Nghệ thuật Việt Bắc nói riêng, sinh viên các trường cao đẳng nói chung. 5. Giả thuyết khoa học Văn hóa ứng xử là biểu hiện một phần của nhân cách con người. Giáo dục văn hóa ứng xử cho thế hệ trẻ, đặc biệt đội ngũ sinh viên là việc làm quan trọng và cần thiết. Nếu chỉ ra được biểu hiện và các yếu tố ảnh hưởng đến văn hóa ứng xử của sinh viên Trường Cao đẳng Văn hóa Nghệ thuật Việt Bắc thì sẽ đề xuất được những biện pháp giáo dục phù hợp, nhằm giúp sinh viên biết cách giao tiếp ứng xử có văn hóa, phù hợp với chuẩn mực xã hội góp phần phát triển toàn diện nhân cách sinh viên, đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp đổi mới. 6. Phương pháp nghiên cứu 6.1. Phương pháp nghiên cứu lý thuyết Thu thập tư liệu và các công trình nghiên cứu, đọc, phân tích theo từng bộ phận, từng mặt, theo lịch sử để hiểu một cách đầy đủ, toàn diện vấn đề nghiên cứu. Từ đó liên kết các thông tin từ nguồn tư liệu đã đọc và phân tích để xây dựng hệ thống lý thuyết phù hợp với vấn đề nghiên cứu. 6.2. Phương pháp nghiên cứu thực tiễn 6.2.1. Phương pháp điều tra Sử dụng hệ thống câu hỏi đóng và câu hỏi mở để khảo sát cán bộ, giảng viên và sinh viên Trường Cao đẳng Văn hóa Nghệ thuật Việt Bắc nhằm tìm hiểu thực trạng giáo dục văn hóa ứng xử và những yếu tố ảnh hưởng đến giáo dục văn hóa ứng xử cho sinh viên. Đây là phương pháp chủ yếu sử dụng để thu thập thông tin. 6.2.2. Phương pháp phỏng vấn Với phương pháp này, người nghiên cứu trò chuyện với một số cán bộ quản lý, giảng viên và sinh viên. Nội dung xoay quanh vấn đề văn hóa ứng xử và thực trạng giáo dục văn hóa ứng xử cho sinh viên hiện nay. 6.2.3. Phương pháp quan sát Người nghiên cứu tri giác các hoạt động giáo dục văn hóa ứng xử của cán 3 bộ, giảng viên và biểu hiện của sinh viên nhằm thu thập thông tin. 6.2.4. Phương pháp lấy ý kiến chuyên gia Xây dựng phiếu trưng cầu ý kiến của những nhà giáo dục trực tiếp làm công tác giáo dục SV. 6.3. Phương pháp thống kê toán học Sử dụng toán thống kê để phân tích, xử lý số liệu điều tra. 7. Phạm vi nghiên cứu Văn hóa ứng xử của sinh viên được biểu hiện trong tất cả các hoạt động của cuộc sống hàng ngày, nhưng trong phạm vi đề tài này chúng tôi chỉ nghiên cứu văn hóa ứng xử của sinh viên trong nhà trường cụ thể là: cách ứng xử của sinh viên với thầy cô, với bạn bè, và trong việc chấp hành nội quy, quy chế của nhà trường. 8. Đóng góp mới của luận văn - Khảo sát và phân tích một cách có hệ thống thực trạng giáo dục văn hóa ứng xử của sinh viên Trường Cao đẳng Văn hóa Nghệ thuật Việt Bắc. - Đề xuất những biện pháp giáo dục văn hóa ứng xử cho sinh viên Trường Cao đẳng Văn hóa Nghệ thuật Việt Bắc. 4 PHẦN II: NỘI DUNG VÀ KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU Chương 1: Cơ sở lý luận về giáo dục văn hóa ứng xử cho sinh viên 1.1. Lịch sử nghiên cứu vấn đề 1.1.1. Lịch sử nghiên cứu trên thế giới Trong các thập niên 60 - 80 của Thế kỷ XX, tại Liên Xô và các nước xã hội chủ nghĩa Đông Âu vấn đề văn hoá, VHƯX bắt đầu được các tác giả quan tâm nghiên cứu, tuy nhiên cách nghiên cứu tiếp cận VHƯX tương đồng với lối sống [34, tr.9 - 10]. Trong những năm 1977 - 1978, Trung tâm nghiên cứu khoa học về thanh niên ở Bungari nghiên cứu về vấn đề giáo dục đạo đức cho thanh niên trong đó đề cập đến vấn đề giáo dục VHƯX, định hướng lối sống của thanh niên [2, tr.16-17]. Năm 1985, Viện nghiên cứu thế giới của Nhật Bản đã chú trọng nghiên cứu thanh niên của 11 quốc gia với lứa tuổi từ 18 - 24 tuổi. Tiếp theo đó, Viện khảo sát xã hội Châu Âu nghiên cứu trên thanh niên 10 nước Châu Âu. Cả hai cuộc điều tra này đều đề cập đến vấn đề định hướng lối sống và giáo dục VHƯX cho thanh niên nhằm giúp họ chuẩn bị bước vào cuộc sống [2, tr.17-18]. 1.1.2. Lịch sử nghiên cứu ở Việt Nam Trong nền văn hóa Việt Nam cổ truyền không có khái niệm VHƯX, văn hóa lối sống. Trước năm 1945, khái niệm phong hóa và phong tục được dùng rộng rãi trong ngôn ngữ nói và ngôn ngữ viết. Khái niệm phong hóa, vừa phản ánh sự bền vững của phong tục tập quán vừa chỉ rõ mức độ thấm đượm nhuần nhụy, tinh tế của giáo dục và văn hóa dân tộc trong muôn mặt đời thường [13, tr.12 - 13]. Năm 1987 - 1988, Ban lý luận giáo dục và giáo dục chuyên nghiệp thực hiện đề tài: “Nghiên cứu và điều tra về xu hướng nhân cách của SV”. Đề tài đã chỉ ra những xu hướng nhân cách của SV trong đó nhấn mạnh VHƯX là một bộ phận cấu thành nhân cách [2, tr.17-18]. Đề tài cấp Nhà nước, nghiên cứu về lối sống và môi trường, mã số KX.06 13 được nêu khái quát trong “Báo cáo tổng kết chương trình nghiên cứu về văn hóa, 5 văn minh, mã số KX - 06 (1991 - 1995)” như sau: “Lối sống, trong một chừng mực nhất định, là cách ứng xử của những người cụ thể của môi trường sống. Môi trường là cái khách quan quy định, là điều kiện khách quan trực tiếp tác động và ảnh hưởng đến lối sống của con người, của các nhóm xã hội và cộng đồng dân cư”. Định nghĩa này tiếp cận lối sống như một phương thức ứng xử thực tế của con người trong một môi trường nhất định [35, tr.3]. Trong nhưng năm gần đây, ngoài một số công trình liên quan đến văn hóa lối sống, như bàn luận về lối sống, nếp sống, đạo đức chuẩn giá trị xã hội thì cũng có một vài công trình nghiên cứu VHƯX. Trong cuốn “Tìm về bản sắc văn hóa Việt Nam”, tác giả Trần Ngọc Thêm đã dành hai chương để bàn về VHƯX với môi trường tự nhiên và môi trường xã hội. VHƯX được tác giả quan niệm gồm hai hàm nghĩa: tận dụng và ứng phó thông qua giao lưu và tiếp biến văn hóa [29, tr.376-572]. Trong tác phẩm “VHƯX của người Hà Nội với môi trường thiên nhiên” các tác giả tập trung làm rõ mối quan hệ giữa môi trường thiên nhiên và VHƯX đối với môi trường thiên nhiên ở người Hà Nội, từ truyền thống đến hiện đại. Trước thách thức của toàn cầu hóa trong quá trình đẩy mạnh CNH - HĐH các tác giả đã đề xuất một số phương hướng, quan điểm, giải pháp và điều kiện xây dựng VHƯX của người Hà Nội với môi trường thiên nhiên. Khái niệm “VHƯX” được tập thể tác giả xác định gồm “cách thức quan hệ, thái độ và hành động của con người đối với môi trường thiên nhiên, đối với xã hội và đối với người khác”[7, tr.54]. Tác giả Phạm Minh Hạc trong cuốn “Văn hóa và giáo dục, giáo dục và văn hóa” cho rằng: VHƯX của con người liên quan chặt chẽ với các kỹ năng giao tiếp đặc trưng được hình thành ở họ, ví dụ như kỹ năng “chỉnh sửa” các ấn tượng ban đầu về người khác khi mới làm quen với họ, tôn trọng các quan điểm, sở thích, thị hiếu, thói quen của người khác [15, tr.123 - 125]. Ngoài ra còn có thể kể đến những công trình khác dưới dạng các chuyên đề khoa học, bài tạp chí, bài báo đề cập đến một phương diện nhất định của VHƯX. Chẳng hạn trong chuyên luận “Tình người, giao tiếp và văn hóa giao tiếp” thuộc 6 công trình “Văn hóa và giáo dục, giáo dục và văn hóa”, tác giả Trần Trọng Thủy quan niệm “giao tiếp chính là phương tiện thể hiện của tình người. Văn hóa giao tiếp của con người có liên quan chặt chẽ với các kỹ năng giao tiếp đặc trưng, được hình thành ở họ, ví dụ kỹ năng “chỉnh sửa” các ấn tượng ban đầu về người khác khi mới làm quen với họ; tôn trọng các quan điểm, sở thích, thị hiếu, thói quen… của người khác…” [15, tr.124 - 125]. Có thể nói, cho đến nay ở nước ta các cách tiếp cận triết học, xã hội học, văn hóa học là các hướng tiếp cận chính trong nghiên cứu văn hóa lối sống, VHƯX. Ngoài ra, còn các cách tiếp cận lịch sử, tâm lý và kinh tế cũng đã được vận dụng trong các công trình nghiên cứu về lối sống và VHƯX tại Việt Nam. Trong các công trình nghiên cứu nêu trên, các tác giả đều đã đi nghiên cứu và làm rõ khái niệm VHƯX, những biểu hiện của VHƯX. Tuy nhiên, vẫn còn vắng bóng những công trình nghiên cứu sâu về giáo dục VHƯX cho SV. Vì vậy, chúng tôi đi sâu nghiên cứu “Giáo dục văn hóa ứng xử cho sinh viên Trường Cao đẳng Văn hóa Nghệ thuật Việt Bắc”. 1.2. Một số khái niệm công cụ của đề tài 1.2.1. Văn hóa Thuật ngữ văn hóa đã xuất hiện từ lâu trong ngôn ngữ nhân loại nhưng cho đến nay vẫn là một trong những khái niệm phức tạp và khó xác định. Lưu Hướng (khoảng năm 77 - 76 trước Công nguyên), thời Tây Hán (Trung Quốc), là người đầu tiên đưa ra định nghĩa về văn hóa. Trong sách “Thuyết uyển bài Chi Vũ” ông viết: bậc thánh nhân trị thiên hạ, trước dùng văn đức sau mới dùng vũ lực. Phàm dùng vũ lực đều để đối phó kẻ bất phục tùng, dùng văn hóa không thay đổi được thì sau đó sẽ chinh phạt [12, tr.15]. Ở đây, văn hóa được hiểu như cách thức điều hành xã hội bằng “văn trị” để “giáo hóa” con người, đối lập với việc dùng vũ lực để đối phó. Theo ngôn ngữ của Phương Tây, từ tương ứng với văn hóa của tiếng Việt (Culture trong tiếng Anh và tiếng Pháp, kultur trong tiếng Đức) có nguồn gốc từ các dạng của động từ Latin là colo, colui, cultus với hai nghĩa: (1) giữ gìn, chăm sóc, 7 tạo dựng trong trồng trọt; (2) cầu cúng [21, tr.19-20]. Theo quan điểm của UNESCO, văn hóa được định nghĩa “là tất cả những gì làm cho dân tộc này khác với dân tộc khác, từ những sản phẩm tinh vi, hiện đại nhất cho đến tín ngưỡng, phong tục, tập quán, lối sống và lao động, nhờ đó con người tự định vị mình trong không gian, thời gian nhất định để có thể giải thích thế giới, phát triển các năng lực biểu hiện, giao lưu, sáng tạo”. Nội dung của khái niệm văn hóa được UNESCO xem xét qua bốn bộ phận hợp thành: Hệ thống ý niệm (khái niệm, quan điểm); Hệ thống giá trị, chuẩn mực, biểu tượng; Hệ thống biểu hiện văn hóa (nghệ thuật, văn hóa, khoa học v.v...); Hệ thống hành động và ứng xử văn hóa [33, tr.9 - 13]. Nhà sử học Đào Duy Anh coi văn hóa là “sinh hoạt”. Nhà nghiên cứu Phan Ngọc xem văn hóa là “hoạt động” [18, tr.32]. Trong cuốn “Cơ sở văn hóa Việt Nam”, tác giả Trần Ngọc Thêm định nghĩa: “Văn hóa là một hệ thống hữu cơ các giá trị vật chất và tinh thần do con người sáng tạo và tích lũy qua quá trình hoạt động thực tiễn, trong sự tương tác giữa con người với môi trường tự nhiên và xã hội” [30, tr.16]. Theo Đại từ điển tiếng Việt: “Văn hóa là những giá trị vật chất, tinh thần do con người sáng tạo ra trong lịch sử” [28]. Trong cuốn “Phát triển giáo dục, phát triển con người”, Giáo sư Phạm Minh Hạc và các cộng sự định nghĩa: “Văn hóa là hệ thống giá trị vật chất và tinh thần, do con người, cộng đồng, dân tộc, loài người sáng tạo. Có văn hóa của nhân loại, văn hóa dân tộc, văn hóa cộng đồng, văn hóa gia đình và văn hóa của từng con người” [14, tr.79]. Nhìn chung, các khái niệm trên đều xác định khái niệm văn hóa theo định nghĩa rộng hoặc thiên về vận động của văn hóa như sinh hoạt, hoạt động, hoặc thiên vào trạng thái tĩnh, trạng thái kết quả của văn hóa như tổng thể các giá trị vật chất và tinh thần. Với cách tiếp cận biện chứng để nắm bắt trạng thái vận động và cả trạng thái tĩnh của văn hóa, Hồ Chí Minh đã có nhiều phát biểu về văn hóa, trong đó có một quan niệm đáng chú ý như sau: “Vì lẽ sinh tồn cũng như mục đích của cuộc 8 sống, loài người mới sáng tạo và phát minh ra ngôn ngữ, chữ viết, đạo đức, pháp luật, khoa học, tôn giáo, văn học, nghệ thuật, những công cụ cho sinh hoạt hằng ngày về mặc, ăn, ở và các phương thức sử dụng. Toàn bộ những sáng tạo và phát minh đó tức là văn hóa”[24, t3, tr.431]. Người xem xét văn hóa trong sự thống nhất với kinh tế, chính trị, xã hội, việc xây dựng văn hóa thực sự là một “mặt trận”. Từ cách đặt vấn đề như vậy, chúng tôi quan niệm văn hóa gồm bốn hàm nghĩa sau: - Tri thức, kinh nghiệm hiểu biết về thiên nhiên, xã hội và con người. - Các giá trị (chuẩn mực) văn hóa. - Các thể thức biểu hiện văn hóa của cá nhân (hành vi văn hóa, lối ứng xử văn hóa) và xã hội (văn chương, nghệ thuật, khoa học v.v...). - Hoạt động sáng tạo, giao lưu và phát triển các giá trị tinh thần và vật chất. Các hàm nghĩa trên tương tác nhau. Hai hàm nghĩa đầu là nền tảng tích lũy từ thế hệ trước và là kết quả hoạt động sáng tạo, giao lưu và phát triển văn hóa. Hai hàm nghĩa sau là thể chế, hình thức biểu hiện văn hóa để thông qua đó diễn ra các hoạt động sáng tạo, giao lưu và phát triển văn hóa. Từ những quan điểm trên theo chúng tôi có thể hiểu: Văn hóa là hệ thống các giá trị tinh thần, vật chất do con người sáng tạo, giao lưu, tích lũy và phát triển thông qua hoạt động cải biến và ứng xử với thiên nhiên, xã hội, bản thân được biểu hiện dưới dạng các thể thức ngày càng sâu sắc, đa dạng để tôn vinh và phát triển toàn diện con người, nhằm làm cho thế giới giàu tính người. 1.2.2. Ứng xử Ứng xử là từ ghép gồm “ứng” và “xử”. “Ứng” là ứng đối, ứng phó. “Xử” là xử thế, xử lí, xử sự. Ứng xử là phản ứng của con người đối với tác động của người khác đến mình trong một tình huống cụ thể nhất định. Ứng xử không thể hiện sự chủ động trong giao tiếp mà chủ động trong phản ứng có lựa chọn, tính toán, thể hiện qua thái độ, hành vi, cử chỉ, cách nói năng - tuỳ thuộc vào tri thức, kinh nghiệm và nhân cách của mỗi người nhằm đạt kết quả cao nhất trong giao tiếp [20, tr.31]. 9 Tác giả Nguyễn Khắc Viện cho rằng: “ứng xử được hiểu là chỉ mọi phản ứng của động vật khi một yếu tố nào đó trong môi trường kích thích, các yếu tố bên ngoài và tình trạng bên trong gộp lại thành một tình huống và tiến trình ứng xử để kích thích có định hướng nhằm giúp chủ thể thích nghi với hoàn cảnh” [36]. Theo từ điển Tiếng Việt do Hoàng Phê chủ biên, ứng xử được định nghĩa: “là có thái độ, hành động, lời nói thích hợp trong việc ứng xử” [28]. Hai tác giả Lê Thị Bừng và Hải Vang trong cuốn “Tâm lý học ứng xử” đã đưa ra khái niệm ứng xử: “là sự phản ứng của con người đối với sự tác động của người khác đến mình trong một tình huống cụ thể nhất định. Nó thể hiện ở chỗ con người không chủ động giao tiếp mà chủ động trong phản ứng có sự lựa chọn, có tính toán, thể hiện qua thái độ, hành vi, cử chỉ, cách nói năng, tùy thuộc vào tri thức, kinh nghiệm và nhân cách của mỗi người, nhằm đạt kết quả giao tiếp nhất định” [6, tr.11]. Từ những khái niệm trên chúng tôi hiểu: Ứng xử là phản ứng của con người đối với sự tác động của người khác trong một tình huống nhất định. Là một biểu hiện của giao tiếp, là sự phản ứng của con người trước sự tác động của người khác với mình trong một tình huống nhất định được thể hiện qua thái độ, hành vi, cử chỉ, cách nói năng của con người. Ứng xử tốt sẽ thiết lập và duy trì được các mối quan hệ, giúp cho tinh thần thoải mái, tạo được thiện cảm và sự tin cậy nơi mọi người. Không chỉ là ứng xử giữa người với người mà còn là ứng xử với môi trường, thiên nhiên. 1.2.3. Văn hóa ứng xử VHƯX chịu sự quy định của phương thức sản xuất xã hội và toàn bộ những điều kiện sống của con người. Tuy vậy, VHƯX không phải là sản phẩm thụ động của mối quan hệ giữa lực lượng sản xuất với quan hệ sản xuất và những điều kiện sống. Bởi lẽ, phạm vi của VHƯX rộng hơn phạm vi của phương thức sản xuất. Ngoài sản xuất vật chất con người còn có các hoạt động khác như: hoạt động chính trị xã hội, văn hóa sinh hoạt v.v... Phạm vi của VHƯX có thể tương ứng với phạm vi của hình thái xã hội. Hình thái xã hội gắn với hoạt động mọi mặt của con người 10 nhưng nó là một hiện thực khách quan, độc lập với ý thức và tình cảm con người. Trong khi đó, VHƯX phản ánh hoạt động của chủ thể và bao gồm: nhận thức, tình cảm, động cơ, hành động xã hội (hoặc ứng xử xã hội), khuôn mẫu ứng xử, thể chế xã hội và toàn bộ mối liên hệ biện chứng giữa chúng cũng như hệ thống vận hành mối liên hệ đó theo một bảng giá trị xã hội nhất định. VHƯX của con người là kết quả hoạt động của con người trong quá trình thích nghi và biến đổi hoàn cảnh sống mà con người vừa là sản phẩm của hoàn cảnh, vừa là chủ thể sáng tạo ra hoàn cảnh sống đó. VHƯX là biểu hiện của cái xã hội trong cái cá nhân cho nên có tính linh hoạt và động cơ cao. VHƯX phản ánh mối liên hệ biện chứng giữa cái phổ biến với cái đặc thù và cái đơn nhất, cho nên nội dung và phạm vi của nó rộng lớn và đa tầng, đa nghĩa. VHƯX có mặt vật chất của nó, như quan hệ lao động, trình độ và thời gian lao động, các phương thức thỏa mãn nhu cầu vật chất, các cách thức ứng xử với tự nhiên. Lĩnh vực tinh thần của VHƯX dựa trên các hoạt động sản xuất vật chất của các cá nhân và nhóm xã hội. Bình diện tinh thần của VHƯX là những tiềm năng tinh thần của xã hội, quy định các hoạt động sống của con người trong các điều kiện và môi trường xã hội cụ thể. Tác giả Phạm Minh Hạc trong cuốn “Văn hóa và giáo dục, giáo dục và văn hóa” cho rằng: VHƯX của con người liên quan chặt chẽ với các kỹ năng giao tiếp đặc trưng được hình thành ở họ, ví dụ như kỹ năng: “chỉnh sửa” các ấn tượng ban đầu về người khác khi mới làm quen với họ, tôn trọng các quan điểm, sở thích, thị hiếu, thói quen của người khác [15, tr.123 - 124]. Trong công trình “Tìm về bản sắc văn hóa Việt Nam”, tác giả Trần Ngọc Thêm không trình bày một định nghĩa về VHƯX nhưng đã xác định những nội hàm của khái niệm này. Tác giả cho rằng, các cộng đồng chủ thể văn hóa tồn tại trong quan hệ với hai loại môi trường: môi trường tự nhiên (thiên nhiên, khí hậu...) và môi trường xã hội (các dân tộc, quốc gia láng giềng…). Với mỗi loại môi trường đều có cách thức xử thế phù hợp là: tận dụng môi trường (tác động tích cực) và ứng phó với môi trường (tác động tiêu cực). Đối với môi trường tự nhiên, việc ăn uống 11 là tận dụng, còn mặc, ở, đi lại là ứng phó. Đối với môi trường xã hội - tác giả xác định: “bằng các quá trình giao lưu và tiếp biến văn hóa, mỗi dân tộc đều cố gắng tận dụng những thành tựu của các dân tộc lân bang để làm giàu thêm cho nền văn hóa của mình; đồng thời lại phải lo ứng phó với họ trên các mặt trận quân sự, ngoại giao...” [29]. Theo tác giả, VHƯX với môi trường tự nhiên và môi trường xã hội có hai hàm nghĩa là: tận dụng và ứng phó. Có thể coi đó là thái độ ứng xử và cách thức thể hiện thái độ này là giao lưu và tiếp biến văn hóa [29]. Khái niệm “VHƯX” được tập thể tác giả công trình “VHƯX của người Hà Nội với môi trường thiên nhiên” xác định gồm “cách thức quan hệ, thái độ và hành động của con người đối với môi trường thiên nhiên, đối với xã hội và đối với người khác”[7, tr.55]. Như vậy, VHƯX theo các tác giả gồm 3 chiều quan hệ: với thiên nhiên, xã hội và bản thân. VHƯX gắn liền với các thước đo mà xã hội dùng để ứng xử. Đó là các chuẩn mực xã hội. Cụ thể VHƯX thông thường được chi phối bởi bốn hệ chuẩn mực cơ bản của nhân cách: hệ chuẩn mực trong lao động; hệ chuẩn mực trong giao tiếp; hệ chuẩn mực gia đình; các chuẩn mực phát triển nhân cách. Trong quá trình ứng xử, con người phải lựa chọn giữa cái thiện và cái ác, cái đúng và cái sai, cái đẹp và cái xấu, cái hợp lý và cái phi lý… Sự lựa chọn này bị chi phối cũng bởi bốn hệ chuẩn mực là: hệ chuẩn mực đạo đức, hệ chuẩn mực luật pháp, hệ chuẩn mực thẩm mỹ và trí tuệ, hệ chuẩn mực về niềm tin. Các cách tiếp cận trên cho thấy VHƯX là những ứng xử được tổng quát hóa từ cách ứng xử của mỗi cá nhân rồi thông qua tuyển chọn để điều chỉnh, bổ sung tạo nên những quy chuẩn và từng bước hợp thức hóa những quy chuẩn trong mỗi khuôn mẫu ứng xử bằng các biện pháp cưỡng bức (luật định, quy chế, nội quy, hương ước, gia phong…) hoặc khuyến khích cổ vũ sự tự ý thức của mỗi cá nhân khi họ thực hiện các quan hệ ứng xử. Như vậy, theo chúng tôi khái niệm VHƯX được gián tiếp, trực tiếp làm rõ gồm: thái độ, cách thức quan hệ, hành động và kỹ năng lựa chọn nhằm tận dụng, ứng phó và thể hiện tình người với môi trường tự nhiên, môi trường xã hội và với 12 bản thân. Thái độ, cách thức quan hệ, hành động và kỹ năng lựa chọn đều bị chi phối bởi các giá trị được biểu hiện dưới dạng chuẩn mực cơ bản của xã hội. VHƯX là nét đẹp của con người thể hiện qua lời nói, hành động, suy nghĩ đối với người khác, đối với tự nhiên. VHƯX đòi hỏi con người phải được học tập, rèn luyện và tu dưỡng. Đây là những tiền đề nhận thức cần thiết để xác định quan niệm về VHƯX và giáo dục VHƯX cho SV trong mỗi nhà trường. 1.2.4. Giáo dục văn hóa ứng xử Giáo dục được hiểu là quá trình hình thành và phát triển nhân cách con người theo yêu cầu xã hội. Được tổ chức có mục đích, có kế hoạch, được tiến hành dưới vai trò chủ đạo của nhà giáo dục nhằm giúp đối tượng giáo dục phát triển về: trí tuệ, đạo đức, thẩm mỹ, thế giới quan, nhân sinh quan.v.v. giúp họ biến kinh nghiệm xã hội - lịch sử thành kinh nghiệm bản thân [17, tr.3 - 4]. Giáo dục bao gồm nhiều lĩnh vực khác nhau: - Giáo dục trí dục - Giáo dục đức dục - Giáo dục thẩm mỹ - Giáo dục tình cảm - Giáo dục môi trường Giáo dục VHƯX là một nội dung nằm trong giáo dục đạo đức. Giáo dục VHƯX là cung cấp các tri thức, thông tin thích hợp, nhằm giúp SV nâng cao nhận thức, sự hiểu biết, điều tiết cảm xúc bản thân, thay đổi hành vi theo hướng tốt đẹp hơn, từ đó định hướng những giá trị tốt đẹp trong VHƯX, trong xã hội. Đồng thời trang bị kiến thức sống giúp các em hội nhập cuộc sống văn minh, hiện đại. Như vậy có thể hiểu “Giáo dục VHƯX là quá trình trang bị cho SV những tri thức, hiểu biết về khuôn mẫu ứng xử, những chuẩn mực hành vi đạo đức, phát triển khả năng giao tiếp, giúp SV có thái độ, cách thức quan hệ, hành động và kỹ năng lựa chọn, ứng xử linh hoạt, phù hợp trong mọi tình huống đa dạng của cuộc sống”. 13 1.3. Những vấn đề chung về giáo dục văn hóa ứng xử cho sinh viên 1.3.1. Một số đặc điểm tâm lý của sinh viên Hiểu theo cấp độ xã hội, SV là một bộ phận của thanh niên, là những người có độ tuổi từ 18 - 19 đến 24 - 25 tuổi đang theo học ở các trường đại học và cao đẳng. Họ là những người đang chuẩn bị gia nhập vào đội ngũ trí thức của xã hội, họ đang chuẩn bị cho hoạt động lao động trong một lĩnh vực nghề nghiệp nhất định. Hiểu theo cấp độ cá nhân, SV là những người đang trưởng thành về mặt xã hội, hoàn thiện về thể lực, định hình về nhân cách, học tập để tiếp thu những tri thức, kỹ năng - kỹ xảo của một lĩnh vực nghề nghiệp. SV là lực lượng kế tiếp, bổ sung cho đội ngũ trí thức tương lai. Họ là lớp người có văn hóa cao và có điều kiện để thu thập các thông tin về mọi lĩnh vực trong cuộc sống. V.I.Lênin đã từng đánh giá: “SV là bộ phận nhạy cảm nhất của giới trí thức, là tầng lớp có trình độ tiên tiến nhất trong hàng ngũ thanh niên. Song bên cạnh đó, SV còn thiếu kinh nghiệm sống, cần được bổ sung bằng kinh nghiệm của lớp chiến sĩ già” [38]. Ở Việt Nam, SV là lực lượng trí thức trẻ có vai trò quan trọng trong sự nghiệp CHN - HĐH đất nước. Sự nghiệp này đòi hỏi SV phải có trình độ, có kiến thức để học tập và tiếp thu những tiến bộ của khoa học công nghệ tiên tiến đồng thời cũng là để khẳng định vai trò, trách nhiệm với dân tộc, đất nước. Bên cạnh đó, SV là những người trẻ tuổi, chưa độc lập về kinh tế, còn thiếu kinh nghiệm sống nên khi gặp phải những khó khăn thử thách hay những cạm bẫy cám dỗ, họ rất dễ dao động, cuốn vào lối sống tự do, chuộng vật chất và dễ bước vào con đường tệ nạn xã hội [9]. Ở mỗi lứa tuổi khác nhau có những đặc điểm tâm lý nổi bật, chịu sự chi phối của hoạt động chủ đạo. Lứa tuổi SV có những đặc điểm tâm lý nổi bật sau: 1.3.1.1. Nhận thức Ở tuổi SV, các quá trình nhận thức đều phát triển mạnh: độ tinh nhạy của các giác quan tăng lên rõ rệt, tri giác có mục đích đạt tới mức cao, quan sát trở nên có mục đích, có hệ thống và toàn diện. Tư duy sâu sắc và mở rộng, tỏ ra chặt chẽ, nhất 14 quán và có căn cứ. SV có tính nhạy bén cao, có khả năng lý giải và gán ý nghĩa cho những ấn tượng cảm tính ban đầu bằng kinh nghiệm đã có và những tri thức khoa học đã tích lũy được trong quá trình học. SV có năng lực giải quyết những nhiệm vụ trí tuệ ngày một khó khăn hơn, lập luận mang tính logic. Đó chính là sự phát triển trí tuệ của SV. Do sự phát triển trí tuệ cao như vậy nên trong hoạt động nhận thức của mình, SV có thể hoạt động trí tuệ tập trung, căng thẳng, tiến hành hoạt động tư duy với sự phối hợp của nhiều thao tác tư duy: phân tích - tổng hợp, so sánh, trừu tượng hóa - khái quát hóa để đi sâu vào tìm hiểu những môn học, những chuyên ngành khoa học một cách chuyên sâu nhằm nắm được đối tượng, nhiệm vụ, phương pháp và quy luật của khoa học đó với mục đích trở thành những chuyên gia về các lĩnh vực nhất định. Hoạt động nhận thức của SV gắn liền với học tập, rèn luyện chuẩn bị nghề nghiệp trong tương lai của họ. Như vậy, sự phát triển trí tuệ của SV gắn liền và phát triển cùng với hoạt động học tập của họ. 1.3.1.2. Đời sống tình cảm Lứa tuổi SV là giai đoạn phát triển nhất về các loại tình cảm cấp cao: tình cảm trí tuệ, tình cảm đạo đức, tình cảm thẩm mỹ…và được biểu hiện rất đa dạng, phong phú trong đời sống cũng như mọi hoạt động của SV. Tình cảm cấp cao ở SV đã có chiều sâu và mang một chất lượng mới hơn hẳn SV phổ thông. Tình bạn cùng giới ở SV đặc biệt phát triển. Tình bạn giúp SV gắn kết với nhau trong học tập, vui chơi, giải trí và cùng nhau chia sẻ kinh nghiệm trong học tập, cuộc sống. Do vậy, tình bạn đã làm phong phú tâm hồn và nhân cách SV. Bên cạnh đó, tình yêu nam nữ là lĩnh vực rất đặc trưng cho thấy SV là những người trưởng thành về mọi mặt. 1.3.1.3. Một số phẩm chất nhân cách tiêu biểu của sinh viên Xu hướng của SV phát triển nổi bật, họ có lý tưởng rõ rệt, có ước mơ và kỳ vọng vào nghề nghiệp tương lai đang theo học. Hoạt động học tập chuẩn bị cho nghề nghiệp tương lai là hoạt động cơ bản trong đời sống của SV. 15 Mặt khác, nhu cầu của SV cũng phát triển cả số lượng, chất lượng so với học sinh phổ thông và các tầng lớp khác trong xã hội. Họ có nhu cầu khá cao về tiêu dùng, giải trí, giao lưu, nhu cầu tham gia vào các hoạt động chính trị - xã hội. Tự đánh giá là một trong những phẩm chất quan trọng, biểu hiện trình độ phát triển cao của nhân cách. Tự đánh giá ở SV là một dạng hoạt động nhận thức, trong đó đối tượng nhận thức chính là bản thân chủ thể, là quá trình chủ thể thu thập, xử lý thông tin về chính mình. Tự đánh giá, tự ý thức có vai trò quan trọng đối với tự nhận thức, tự phê phán và điều chỉnh lối sống của SV. Bởi, nhờ đó mà SV nhìn nhận được chính mình để có thái độ, hành vi, hoạt động phù hợp nhằm điều chỉnh, tự giáo dục để hoàn thiện, phát triển bản thân theo những mục tiêu nhất định. 1.3.2. Ý nghĩa của giáo dục văn hóa ứng xử cho sinh viên Đất nước ta đang trong thời kì đẩy mạnh CNH - HĐH và hội nhập kinh tế quốc tế. Mặt trái nền kinh tế thị trường đã có những ảnh hưởng tiêu cực đến nền văn hóa truyền thống của dân tộc. Dư luận xã hội trong những năm gần đây rất quan tâm đến một vấn đề “nóng” và nhạy cảm, trở thành diễn đàn xã hội - giáo dục, đó là “Văn hóa học đường, VHƯX”. “Theo thống kê của Bộ Giáo dục & Đào tạo, từ đầu năm học 2009 - 2010 đến nay, cả nước xảy ra 1.598 vụ HSSV đánh nhau cả ở trong và ngoài trường học. Trong những năm gần đây số lượng HSSV bị kỷ luật buộc thôi học vì VHƯX và tư cách đạo đức “có vấn đề” tăng đến mức báo động. Ngày xưa, không bao giờ có cảnh trò vô lễ với thầy. Đối với trò “một chữ cùng là thầy, nửa chữ cũng là thầy”, không bao giờ trò giám cãi tay đôi với thầy. Ngược lại, người thầy luôn có ý thức mình phải làm gương cho học trò, giữ khoảng cách thầy trò đúng đạo. Nay thật xót xa và kinh hoàng khi có những hiện tượng học trò thuê xã hội đen đánh thầy, thậm chí cầm dao đâm thầy chỉ vì mâu thuẫn nhỏ [23]. Trước thực trạng đó, chúng ta cần nhận thức được rằng hòa vào dòng chảy của sự phát triển, VHƯX trong nhà trường cũng phải phát triển lên một tầm cao mới. Nhu cầu được giáo dục, rèn luyện VHƯX trở thành một bộ phận không thể tách rời của đời sống học đường. Vì vậy, việc giữ gìn và phát huy nền văn hóa tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc đi từ việc rèn luyện, giáo dục VHƯX hàng ngày cho SV 16 là vấn đề được Đảng và Nhà nước đặt ra như một nhiệm vụ hàng đầu hiện nay, cần được các trường đại học, cao đẳng hưởng ứng mạnh mẽ. Có vậy chúng ta mới huy động được nguồn lực nội sinh chấn hưng bằng con đường giáo dục. VHƯX trong nhà trường là những gì tinh túy, tốt đẹp, được mọi người chấp nhận. VHƯX trong nhà trường thể hiện diện mạo giáo dục, trình độ dân trí của một vùng miền và trong đó còn thể hiện chất lượng giáo dục và đào tạo. Giáo dục VHƯX trong nhà trường nhằm: - Giúp SV có được nhận thức đúng đắn để có hành vi ứng xử giao tiếp có văn hóa trong học tập, sinh hoạt và trong các môi trường xã hội khác nhau. VHƯX giúp mọi người gần gũi, thân thiện, hòa hợp với nhau, có sự đồng cảm, chia sẻ từ đó làm cho quan hệ giữa người với người trở nên tốt đẹp hơn, nâng cao ý thức cộng đồng. - Giáo dục VHƯX làm cho văn hóa học đường trở nên tốt đẹp, xây dựng được môi trường văn hóa lành mạnh, trong sáng, đầy tính nhân văn, có sức cảm hóa, sức lan tỏa sâu rộng trong xã hội từ đó góp phần hình thành và phát triển nhân cách con người mới. - Giáo dục VHƯX sẽ tạo ra môi trường học tập, rèn luyện có lợi nhất cho SV, giúp họ cảm thấy tự nhiên, thoải mái, vui vẻ, ham học trong môi trường văn hóa đích thực. Với SV, có được môi trường thể hiện đúng nghĩa VHƯX trong nhà trường là có được niềm vui, niềm tin khi đến trường. SV khi được tôn trọng, thừa nhận sẽ thấy mình có giá trị, thấy rõ trách nhiệm và “công học tập” (cách dùng của Bác Hồ trong thư gửi SV nhân ngày khai trường năm học đầu tiên của nước Việt Nam độc lập - tháng 8/1945) của mình. Môi trường ứng xử có văn hóa sẽ giúp các em tích cực khám phá, trải nghiệm, tích cực tương tác và hợp tác hiệu quả với GV, nhóm bạn, nỗ lực đạt thành tích học tập, rèn luyện cao nhất. - Tạo ra môi trường thân thiện cho SV, giúp các em cảm thấy an toàn, cởi mở, biết chia sẻ và chấp nhận các nhu cầu, hoàn cảnh khác nhau. Nếu VHƯX trong nhà trường được thực hiện sẽ mở ra phong trào khuyến khích SV phát biểu và bày tỏ quan điểm cá nhân, tư duy sáng tạo được thúc đẩy. Thực hiện VHƯX trong nhà 17 trường chính là tiến hành xây dựng mối quan hệ ứng xử tôn trọng, hiểu biết, học hỏi lẫn nhau giữa thầy và trò một cách đích thực. 1.3.3. Nhiệm vụ của giáo dục văn hóa ứng xử cho sinh viên 1.3.3.1. Giáo dục cho sinh viên có tri thức về chuẩn mực đạo đức xã hội Trong lịch sử văn hóa Việt Nam và Á Đông, đạo đức luôn được coi là gốc của văn hóa, đặc biệt trong ứng xử. Đạo đức chính là phép ứng xử có nhân phẩm giữa người này với người khác. Đạo đức luôn luôn là mối quan hệ hai chiều, là một thể chế đặc thù của xã hội nhằm điều chỉnh các hành vi của con người trong các lĩnh vực của đời sống xã hội. Đạo đức chính là phương thức xác lập mối quan hệ giữa cá nhân và xã hội, giữa lợi ích xã hội và lợi ích cá nhân [34, tr.39 - 40]. Hồ Chí Minh quan niệm đạo đức là “phải yêu kính nhân dân, phải thực sự tôn trọng quyền làm chủ của nhân dân... Phải nắm vững quan điểm giai cấp, đi đúng đường lối quần chúng, thành tâm học hỏi quần chúng... Phải thật thà, ngay thẳng, không được giấu dốt, giấu khuyết điểm, sai lầm. Phải khiêm tốn, gần gũi quần chúng, không được kiêu ngạo. Phải thực sự cầu thị, không được chủ quan. Phải “chí công vô tư” và có tinh thần “lo trước thiên hạ, vui sau thiên hạ” [25, t10, tr.311]. Như vậy, Hồ Chí Minh quan niệm đạo đức là sự thống nhất tư tưởng và phong cách sống. Ở Người, đạo đức đóng vai trò như là lẽ sống thấm vào tư tưởng và VHƯX. Đạo đức được xác định bởi hai yếu tố quan trọng nhất là lao động và tình thương. Lao động làm cho con người trở thành người hơn. Và quan hệ ứng xử người - người chỉ trở thành quan hệ đạo đức khi nó mang trong mình sự tự nguyện. Tự nguyện là tự ý thức về giá trị đạo đức, tự hành động, tự kiểm tra mình theo giá trị đó. Tự nguyện là cơ sở của tình thương. Theo Hêghen, tình thương là sự từ bỏ ý thức về bản thân, quên mình đi trong người khác và chính trong sự quên mình ấy con người lại nhận ra mình và làm chủ được mình. Sự từ bỏ ý thức cá nhân, không tính toán, không vụ lợi là bản chất của tình thương. Như vậy, tình thương là “cho” chứ không phải là “nhận”, là “tự hiến dâng” chứ không phải “bị hiến dâng” [34, tr.43 - 44]. Chuẩn mực xã hội và giá trị xã hội là hai phạm trù của triết học giờ đây được 18
- Xem thêm -