Tài liệu Hiện tương “bẫy thu nhập trung bình” ở các nước đang phát triển và bài học kinh nghiệm cho việt nam hiện nay

  • Số trang: 46 |
  • Loại file: DOCX |
  • Lượt xem: 1071 |
  • Lượt tải: 0

Mô tả:

ĐẠI HỌC QUỐC GIA TP.HCM TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ-LUẬT KHOA KINH TẾ ---------- BÀI TIỂU LUẬN HIỆN TƯỢNG “BẪY THU NHẬP TRUNG BÌNH” Ở CÁC NƯỚC ĐANG PHÁT TRIỂN VÀ BÀI HỌC KINH NGHIỆM CHO VIỆT NAM GVHD: TS.Nguyễn Chí Hải SVTH: Trần Thị Hiền K104010023 Phạm Thị Bảo Hoài K104010028 Trần Thị Thúy Kiều K104010040 Nguyễn Trúc Nhã K104010058 Phan Thị Nhung K104010064 Trương Thị Thùy Ni K104010065 Lớp: K10401 1 _Tp.HCM, 4/2013_ MỤC LỤC A. PHẦN MỞ ĐẦU 1 1. Tính cấp thiết của đề tài 2. Mục tiêu nghiên cứu 1 2 3. Đối tượng nghiên cứu 2 4. Phạm vi nghiên cứu 3 5. Phương pháp nghiên cưu 3 6. Ý nghĩa thực tiễn của đề tài 3 7. Kết cấu của đề tài 3 B. PHẦN NỘI DUNG 4 CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ THUYẾT 4 1.1 Các quan niệm về bẫy thu nhập trung bình 4 1.2 Nguyên nhân rơi vào tình trạng bẫy thu nhập trung bình 8 1.3 Giải pháp để thoát khỏi bẫy thu nhập trung bình9 1.3.1 Dưới góc nhìn của các chuyên gia 9 1.3.2 Chính sách công nghiệp tiên phong 10 CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG BẪY THU NHẬP TRUNG BÌNH Ở CÁC NƯỚC ĐANG PHÁT TRIỂN VÀ CÁC NƯỚC CÓ NỀN KINH TẾ MỚI NỔI 2.1 Bẫy thu nhập trung bình ở các nước đang phát triển 2.1.1 Thái Lan 12 12 2.1.1.1 Khái quát kinh tế Thái Lan 12 2.1.1.2 Hoạt động R&D và chất lượng nguồn nhân lực 14 2.1.1.3 Thể chế chính trị 15 2.1.1.4 Năng lực cạnh tranh quốc tế 2.1.2 Philippines 17 2 16 12 2.1.2.1 Khái quát kinh tế Philippines 17 2.1.2.2 Hoạt động R&D và chất lượng nguồn nhân lực 18 2.1.2.3 Thể chế chính trị 20 2.1.2.4 Năng lực cạnh tranh quốc tế 21 2.2 Sức ép của bẫy thu nhập trung bình ở các nước có nền kinh tế mới nổi 2.2.1 Trung Quốc 22 2.2.1.1 Khái quát kinh tế Trung Quốc 22 2.2.1.2 Hoạt động R&D và chất lượng nguồn nhân lực 23 2.2.1.3 Thể chế chính trị 25 2.2.1.4 Năng lực cạnh tranh quốc tế 26 2.2.2 Ấn Độ 26 2.2.2.1 Khái quát kinh tế Ấn Độ 26 2.2.2.2 Hoạt động R&D và chất lượng nguồn nhân lực 27 2.2.2.3 Thể chế chính trị 28 2.2.2.4 Năng lực cạnh tranh quốc tế 29 CHƯƠNG 3: BÀI HỌC KINH NGHIỆM CHO VIỆT NAM 31 3.1 Khái quát kinh tế Việt Nam 31 3.2 Nguy cơ mắc bẫy thu nhập trung bình 32 3.3 Bài học kinh nghiệm cho Việt Nam 35 3.3.1 Bài học kinh nghiệm từ Thái Lan và Philippines 3.3.2 Bài học kinh nghiệm từ Trung Quốc 3.3.3 Bài học kinh nghiệm từ Ấn Độ 37 C. PHẦN KẾT LUẬN 38 1. Kết luận 38 2. Kiến nghị 39 D. TÀI LIỆU THAM KHẢO 41 3 36 35 22 DANH MỤC BẢNG Trang Bảng 2.1: GDP bình quân đầu người của Thái Lan giai đoạn 2008 – 2011...........12 Bảng 2.2: Số lượng bằng sáng chế được cấp theo năm..........................................24 Bảng 2.3: Đầu tư vào giáo dục của Trung Quốc năm 2010..................................24 Bảng 3.1:Tóm tắt các chỉ số tăng trưởng của Việt Nam giai đoạn 1990-2009.......33 Bảng 3.2 Chỉ số tham nhũng của Việt Nam giai đoạn 2001-2012.........................34 Bảng 3.3: Tăng trưởng GDP và hệ số ICOR của các quốc gia..............................35 4 DANH MỤC HÌNH Trang Hình 1.1: Sơ đồ về bẫy thu nhập trung bình của ông Kenichi Ohno........................6 Hình 1.2: Các giai đoạn phát triển của một nền kinh tế...........................................7 Hình 2.1 Thể chế liên quan hoạt động kinh tế tại Thái Lan...................................15 Hình 2.2: Chỉ số cạnh tranh giữa hai ngành công nghệ tại Thái Lan.....................16 Hình 2.3: Thể chế liên quan hoạt động kinh tế tại Philippines..............................20 Hình 2.4: Chỉ số cạnh tranh giữa hai ngành công nghệ tại Philippines..................21 Hình 2.5: Chỉ số tham nhũng ở Trung Quốc năm 2010.........................................25 5 A.PHẦN MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài Hành trình “ hóa rồng” của các nước thế giới thứ 3 là hành trình đầy thử thách. Các quốc gia đang phát triển không những phải đối mặt với những bất cập của nền kinh tề như chất lượng tăng trưởng, năng suất, hiệu quả, sức cạnh tranh của nền kinh tế còn thấp, các cân đối vĩ mô chưa vững chắc, chất lượng nguồn nhân lực…. Bên cạnh đó còn là vấn đề phải vượt qua bẫy thu nhập trung bình”. Năm 2009, Việt Nam chính thức vượt qua ngưỡng thu nhập thấp, trở thành quốc gia có thu nhập trung bình theo cách phân loại của Ngân hàng Thế giới (WB). Tuy nhiên, theo đánh giá chung của nhiều nhà nghiên cứu kinh tế, tăng trưởng mà Việt Nam có được trong một thời gian qua ngoài lý do chính sách đổi mới đúng hướng hiệu quả, sự điều hành kinh tế vĩ mô nhạy bén, phù hợp thì phần quan trọng là do tác động của tự do hóa đúng thời điểm, đồng thời đã tận dụng lợi thế vị trí địa lý, nguồn tài nguyên phong phú, nguồn lao động trẻ dồi dào, … Nhưng liệu Việt Nam có thể tiếp tục tăng trưởng nhanh và bền vững, tiếp đó có thể đứng vào các nước có thu nhập cao như Hàn Quốc, Đài Loan đã làm trong thời gian qua, hay chúng ta lại đi vào vết xe đổ của Philippines (2.123 USD/năm) và Indonesia (2.900 USD/năm)? Có thể thấy, hiện nay Việt Nam đã vượt qua khỏi ngưỡng đói nghèo, nhưng những gì mà chúng ta đã làm để vượt qua khỏi ngưỡng đó thì lại phụ thuộc quá nhiều vào ngoại lực, vào các chính sách mở cửa với các luồng vốn FDI (vốn đầu tư trực tiếp) – trong khi những nguồn nội lực thì chưa được phát huy một cách hiệu quả và tích cực. Sự phụ thuộc quá nhiều vào các yếu tố bên ngoài này có thể giúp Việt Nam tăng trưởng tới mức thu nhập trung bình, thậm chí có thể trung bình cao, nhưng rất có thể cũng sẽ chỉ dừng lại ở mức đó mà thôi – hay nói cách khác là đã rơi vào “bẫy thu nhập trung bình”. Theo lý thuyết kinh tế và bài học rút ra từ các quốc gia đã vượt qua khỏi mức thu nhập trung bình thì quốc gia đó phải có “chính sách tốt” và “sự năng động của khu vực tư nhân”. 1 Thái Lan, Malayxia đã thành công với giai đoạn đầu quá trình công nghiệp hóa. Nhưng họ cũng chỉ quẩn quanh mãi ở mức thu nhập bình quân đầu người 5000$/năm trong suốt 30 năm nay. Các nước Mỹ Latinh đã từng tăng trưởng ấn tượng liên tục 50-60 năm, đặc biệt là Brazil với mức tăng trưởng bình quân 6%/năm suốt 100 năm, nhưng đến nay khu vực này vẫn đang giậm chân tại chỗ. Chỉ có Hàn Quốc, Đài Loan, Hồng Kông, Singapore và mới đây nhất là Chile mới thoát khỏi bẫy thu nhập trung bình và vươn lên hàng ngũ các quốc gia có thu nhập cao. Vậy Việt Nam chúng ta, đất nước đi sau, mới đây đã gia nhập vào hàng ngũ các quốc gia có thu nhập bình quân đầu người trung bình liệu có rơi vào “bẫy thu nhập trung bình” như các nước láng giềng hay không ? Liệu Việt Nam sẽ vươn lên thành quốc gia phát triển trong nay mai hay cứ giậm chân tại chỗ ở mức thu nhập trung bình khi mà điều kiện nước ta hiện nay đang rất giống với các nước như Thái Lan, Malayxia,… ở những thập niên 80, 90 (thế kỷ XX) về rất nhiều mặt. Đó là lý do nhóm 1 chọn đề tài “Hiện tương “bẫy thu nhập trung bình” ở các nước đang phát triển và bài học kinh nghiệm cho Việt Nam hiện nay” để nghiên cứu. 2. Mục tiêu nghiên cứu  Nghiên cứu vấn đề bẫy thu nhập trung bình ở các quốc gia đang phát triển: Philippines, Thái Lan và sức ép của bẫy thu nhập trung bình từ các nền kinh tế mới nổi: Trung Quốc, Ấn Độ.  Khái quát nền kinh tế Viêt Nam và nguy cơ mắc bẫy từ kinh nghiệm của các quốc gia rút ra bài học cho Việt Nam để có thể vững bước hơn trên con đường phát triển kinh tế. 3. Đối tương nghiên cứu  Tình hình kinh tế của Thái Lan, Philippines, Malaysia, Trung Quốc, Ấn Độ.  Hoạt động nghiên cứu và phát triển (R&D) và chất lượng nguồn nhân lực của Thái Lan, Philippines, Trung Quốc, Ấn Độ.  Thể chế chính trị của Thái Lan, Philippines, Trung Quốc, Ấn Độ.  Năng lực cạnh tranh quốc tế của Thái Lan, Philippines, Trung Quốc, Ấn Độ. 4. Phạm vị nghiên cứu 2 Nghiên cứu vấn đề bẫy thu nhập trung bình ở các quốc gia đang phát triển: Philippines, Thái Lan, Malaysia và sức ép của bẫy thu nhập trung bình từ các nền kinh tế mới nổi: Trung Quốc, Ấn Độ. 5. Phương pháp nghiên cứu  Phương pháp thống kê, thu thập thông tin trên các trang web.  Phương pháp đánh giá.  Phương pháp tổng hợp. 6. Ý nghĩa thực tiễn của đề tài Từ những cơ sở lý thuyết, phân tích và đánh giá tác giá bẫy thu nhập trung bình ở các nước đang phát triển: Philippines, Thái Lan, Malaysia và sức ép của bẫy thu nhập trung bình từ các nước nền kinh tế mới nổi: Trung Quốc, Ấn Độ. Rút ra bài học kinh nghiệm cho Việt Nam ta có thể đưa ra các giải pháp cho Việt Nam tránh “bẫy thu nhập trung bình”, cũng như chỉ ra những thách thức có thể nảy sinh đối với một nước thu nhập trung bình. 7. Kết cấu của đề tài Kết cấu đề tài gồm 3 chương:  Chương 1: Cơ sở lý thuyết  Chương 2: Thực trạng bẫy thu nhập trung bình ở các nước đang phát triển và các nước có nền kinh tế mới nổi  Chương 3: Bài học kinh nghiệm cho Việt Nam 3 B.PHẦN NỘI DUNG CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ THUYẾT 1.1 Các quan niệm về hiện tượng bẫy các nước thu nhập trung bình Theo đúng nghĩa, phát triển phải hình thành nhờ nâng cao chất lượng vốn con người hơn là nhờ may mắn vì có được nguồn tài nguyên thiên nhiên dồi dào hay vị trị địa lý thuận lợi để dễ dàng tiếp nhận hỗ trợ và đầu tư nước ngoài. Nếu phụ thuộc vào những yếu tố không tự mình tạo ra, quốc gia có thể tăng trưởng đến mức thu nhập thấp, trung bình hay cao với một chút nỗ lực, nhưng rồi cuối cùng cũng sẽ bị mắc kẹt ở mức thu nhập đó nếu không xây dựng được ý thức quốc gia và những thể chế để khuyến khích nâng cao chất lượng nguồn nhân lực. Tình trạng này được gọi là “bẫy phát triển”. Nếu đất nước có chút ít lợi thế về tài nguyên thiên nhiên và vị trí địa lý, đất nước đó sẽ dễ bị rơi vào “bẫy thu nhập trung bình”  Theo Indermit Gill, cố vấn và Homi Kharas, chuyên gia kinh tế trưởng của Ngân hàng thế giới (WB) thì “ bẫy của các nước thu nhập trung bình” hay “bẫy thu nhập trung bình” là tình trạng không đáp ứng nổi những đòi hỏi cao và rất cao khi nền kinh tế đã đạt đến mức thu nhập trung bình. Thu nhập của các quốc gia trên thế giới được chia theo 3 mức:  Nước có thu nhập thấp: thu nhập bình quân đầu người dưới mức 1000USD/năm.  Nước có mức thu nhập trung bình: thu nhập bình quân đầu người đạt từ 1000USD đến 10000USD/năm.  Nước có mức thu nhập cao: thu nhập bình quân đầu người đạt trên 10000USD/năm. Trong đó có hai mốc quan trọng: thu nhập bình quân đầu người trên 1000 USD người/năm và trên 10.000 USD người/năm. Chỉ có nền kinh tế nào vượt qua mốc thứ nhất và sau đó tiếp tục tăng trưởng mạnh để đạt tới mốc thứ hai, rồi vẫn tiếp tục tăng trưởng thì mới trở thành nền kinh tế công nghiệp hóa. 4  Theo quan niệm của Kenichi Ohno, Viện Nghiên cứu chính sách Quốc gia Tokyo và của Homi Kharas, chuyên gia kinh tế trưởng của Ngân hàng thế giới, sự ngộ nhận về khả năng đáp ứng yêu cầu cao và rất cao về trình độ chuyên môn hóa của nền kinh tế, trình độ nguồn nhân lực bản địa và trình độ quản lý vĩ mô chính là bẫy thu nhập trung bình ngăn cản sự hóa rồng của nền kinh tế: tưởng là đã đáp ứng được các nhu cầu để tiếp tục phát triển, nhưng hóa ra thế vẫn chưa đủ để “cất cánh”; không còn quá nghèo để phải dồn mọi nguồn lực cho tăng trưởng, song lại chưa đủ giàu về hạ tầng kinh tế - xã hội, về các nguồn lực nội sinh cho “bước nhảy sinh mệnh” của đất nước. Cái chính của bẫy thu nhập ở đây chính là chất lượng phát triển, trình độ phát triển của một đất nước không thể vượt qua được cái ngưỡng do chính mình tạo ra. Cũng theo giáo sư Kenichi Ohno, bẫy thu nhập trung bình được ví như một cái “trần thủy tinh vô hình” ngăn cản sự phát triển của các quốc gia từ giai đoạn 2 lên giai đoạn 3 trong quá trình phát triền 4 giai đoạn:  Giai đoạn 1: Do sự gia tăng FDI ồ ạt, các lĩnh vực của nền kinh tế như thiết kế, công nghệ, sản xuất và marketing đều được chỉ đạo bởi người nước ngoài. Ở giai đoạn này, các nguyên liệu và các thành phần quan trọng của sản xuất đều phải nhập khẩu, nguồn lực trong nước chỉ cung cấp đất công nghiệp và lao động kỹ năng thấp. Điều đó tạo việc làm cho người nghèo, nhưng giá trị nội tại thấp và giá trị được tạo ra chủ yếu bởi người nước ngoài. Việt Nam đang ở giai đoạn này.  Giai đoạn 2: Khi FDI tích lũy và sản xuất mở rộng, cung nội địa cho nền kinh tế bắt đầu phát triển. Ở giai đoạn này, công nghiệp lắp ráp trở nên cạnh tranh và vòng tuần hoàn giữa nhà lắp ráp và nhà cung cấp được thiết lập. Nguồn lực trong nước đã tạo ra sự phát triển cho nền công nghiệp. Sáng tạo giá trị nội tại tăng, nhưng sản xuất cơ bản vẫn dưới sự quản lý và hướng dẫn nước ngoài. Thái Lan và Malaysia đã đạt đến giai đoạn này. 5  Giai đoạn 3: Nội địa hóa kỹ năng và kiến thức bằng cách phát triển nguồn nhân lực trong nước để thay thế lao động nước ngoài ở mọi khâu của sản xuất bao gồm quản lý, công nghệ, thiết kế, vận hành xí nghiệp, hậu cần, quản lý chất lượng, và marketing là thách thức tiếp theo của nền kinh tế. Khi mức độ phụ thuộc nước ngoài giảm, giá trị nội tại tăng đáng kể. Nền kinh tế nổi lên như một nhà xuất khẩu năng động của các sản phẩm chất lượng cao, thách thức những đối thủ cạnh tranh ở trình độ cao hơn và thiết lập lại bức tranh công nghiệp toàn cầu. Hàn Quốc và Đài Loan đang trong giai đoạn này.  Giai đoạn 4: Giai đoạn cuối cùng, nền kinh tế tạo được khả năng tạo ra sản phẩm mới và xu hướng thị trường toàn cầu. Nhật Bản, Mỹ và một số nước EU hiện đang là những nhà sáng tạo công nghiệp. Hình 1.1: Sơ đồ về bẫy thu nhập trung bình của ông Kenichi Ohno Nguồn: www.tinkinhte.com Chiếc trần thủy tinh vô hình giữa giai đoạn 2 và giai đoạn 3 chính là “bẫy thu nhập trung bình”. Vượt qua được sự ngăn cản của chiếc trần thủy tinh này, nền kinh tế sẽ chuyển từ giai đoạn phụ thuộc một phần vào ngoại lực sang hoàn toàn dựa vào nội lực. Lúc đó, nguồn nhân lực trong nước đủ trình độ thay thế hoàn toàn lao động nước ngoài, nền kinh tế đủ trình độ là nhà xuất khẩu năng động với các sản phẩm chất lượng cao đáp ứng và cạnh tranh với nền kinh tế thế giới. 6  Theo Giáo sư Trần Văn Thọ, Đại học Waseda, Tokyo thì khung khái niệm cơ bản của “bẫy thu nhập trung bình” bắt đầu bằng việc phân tích ba giai đoạn phát triển của một nền kinh tế: Hình 1.2: Các giai đoạn phát triển của một nền kinh tế Nguồn: Theo tạp chí nghiên cứu và phát triển Thời đại mới số 24 - GS.Trần Văn Thọ  AB: Xã hội truyền thống, chưa phát triển, trực diện với bẫy nghèo.  BC: Giai đoạn phát triển ban đầu, thoát khỏi bẫy nghèo, thị trường đang trên quá trình hình thành, C là mức thu nhập trung bình.  CD: Tiếp tục phát triển bền vững lên mức thu nhập cao (D).  CE: Trì trệ hoặc phát triển với tốc độ rất thấp, trực diện bẫy thu nhập trung bình. Điểm C trong hình chỉ giai đoạn đạt mức thu nhập trung bình. Một nước cò GDP bình quân đầu người 500 USD nếu phát triển trung bình năm là 7% (không phải tốc độ GDP mà là tốc độ thu nhập đầu người) nghĩa là tăng gấp đôi thu nhập đầu người trong 10 năm, thì nước nầy cần bội tăng thu nhập 3 lần (cần 30 năm) để đạt mức 4.000 USD hoặc cần 40 năm để đạt 8.000 USD là những mức thuộc thu 7 nhập trung bình cao. Nếu thu nhập trung bình tăng mỗi năm 5% thì nước này cần từ 45 đến 60 năm mới đạt được mức thu nhập trung bình cao nói trên.  Từ việc phân tích trên, ta thấy có rất nhiều quan niệm khác nhau về “bẫy thu nhập trung bình”. Tuy nhiên, chúng ta có thể rút ra khái niệm ngắn gọn về “bẫy của thu nhập trung bình ” như sau: “bẫy thu nhập trung bình” hiểu một cách đơn giản nhất đó là khi một quốc gia thoát khỏi mức thu nhập thấp bước vào nhóm các nước có mức thu nhập trung bình, nhưng trong một thời gian dài có thể là 30 năm, 50 năm hoặc có thể là mãi mãi nước đó vẫn không thể vươn lên hàng các quốc gia có mức thu nhập cao – quốc gia phát triển, nghĩa là nước đó đã mắc vào bẫy thu nhập trung bình. Việc chuyển từ một nước nghèo sang một nước có thu nhập trung bình là một quá trình phát triển kéo dài rất nhiều năm. Tuy nhiên, nếu quá trình phát triển bền vững tiếp tục thì từ mức thu nhập trung bình cao tiến lên mức thu nhập cao chỉ cần một khoảng thời gian ngắn. Quá trình nầy chỉ cần 15 năm nếu thu nhập đầu người tăng mỗi năm 5%. Đây là khoảng thời gian rất ngắn.Tuy nhiên, như nhiều người đã nhận định, quá trình đó ngắn nhưng rất khó khăn. 1.2 Nguyên nhân rơi vào tình trạng bẫy thu nhập trung bình Các quốc gia đang phát triển lại vướng vào “ bẫy thu nhập trung bình” là do các nguyên nhân chính sau :  Sự suy giảm hiệu quả vốn đầu tư sau quá trình kích thích tăng trưởng.  Tiếp tục tình trạng của một nền kinh tế gia công.  Sự phân hóa thu nhập dẫn đến phân cực và bất ổn. Ngoài ra, quá trình phát triển từ thu nhập thấp đến thu nhập trung bình cũng ngầm chứa nhiều yếu tố là nguyên nhân để một nước rơi vào bẫy trung bình. Đó là sự hủy hoại môi trường sống mà phải mất nhiều nguồn lực và thời gian khắc phục, sự thay đổi môi trường xã hội dễ tạo ra những xung đột, tâm lý đòi thưởng công trạng biểu hiện ở nhu cầu hưởng thụ sớm. 8 Thực tế, có nhiều nền kinh tế ở châu Á từ nghèo chuyển thành có thu nhập trung bình, nhưng có rất ít trong số đó vượt lên như trường hợp của Đài Loan và Hàn Quốc. Philippines là quốc gia điển hình của tình trạng vướng vào bẫy thu nhập trung bình đã không thể vượt qua ngưỡng 2.000 USD trong nhiều thập niên. Indonesia cũng mất hơn một thập niên để từ trên 1.000 USD vượt lên hơn 2.000 USD/người. Còn Thái Lan thì bất ổn kéo dài từ sau 2005 và cũng mất hơn hai thập niên mới vượt qua con số 3.000 USD. Nước ta với mức thu nhập bình quân đầu người khoảng 1.200 USD như hiện nay, nếu không rút kinh nghiệm từ các nước láng giềng trên đây, cũng như không học tập mô hình phát triển của Đài Loan và Hàn Quốc thì liệu 15 đến 20 năm nữa có vượt qua bẫy thu nhập trung bình hay không? Chính vì thế mà Việt Nam phải cẩn trọng để tránh vướng vào “bẫy thu nhập trung bình”. 1.3. Giải pháp để thoát ra tình trạng bẫy thu nhập trung bình 1.3.1 Dưới góc nhìn của các chuyên gia: Ở bất kỳ giai đoạn nào, nếu muốn nền kinh tế có những thành tựu trong tăng trưởng và phát triển, mỗi nền kinh tế đều cần phải được quản lý sáng tạo và điều chỉnh không ngừng. Tuy nhiên, nếu chỉ như thế, nền kinh tế vẫn không vượt qua được bẫy thu nhập trung bình. Những đòi hỏi cao và rất cao để vượt qua bẫy này, theo Indermit Gill, Homi Kharas và các chuyên gia WB, gồm:  Chuyển từ đa dạng hóa sang chuyên môn hóa: Khi bắt đầu tăng trưởng, các nền kinh tế đều có xu hướng đa dạng hóa. Nhưng xu hướng này đảo ngược thành chuyên môn hóa khi nền kinh tế đạt tới một ngưỡng nào đó về hiệu quả tính trên quy mô tương ứng. Ở Singapore, ngưỡng này là 2500 USD người/năm. Một số nước khác từ 5000 – 8000 USD người/năm.  Có ý chí và có phương thức đổi mới công nghệ: Khi các doanh nghiệp trong một nền kinh tế đạt tới “biên giới công nghệ” thì cần phải khuyến khích sự xuất hiện của các doanh nghiệp mới với công nghệ mới. Điều này đòi hỏi phải thay đổi từ luật lệ, chính sách đến bản thân doanh nghiệp. Chọn thời 9 điểm thực hiện bước chuyển này và xử lý được sự phản kháng của các nhóm lợi ích là thách thức lớn đối với các chính phủ.  Biết ưu tiên đầu tư cho giáo dục đại học và nghiên cứu khoa học: Chuyển ưu tiên từ đầu tư chung cho giáo dục sang đầu tư cho các nghiên cứu khoa học (R&D) khi nền kinh tế đạt tới trình độ nào đó về chuyên môn hóa, đòi hỏi phải sản xuất được những sản phẩm mới với các quy trình công nghệ mới. Thông thường, do không biết chính xác các hoạt động R &D nào cần đầu tư, các chính phủ buộc phải ưu tiên đầu tư cho giáo dục đại học và sau đại học. 1.3.2 Chính sách công nghiệp tiên phong: Chính sách công nghiệp tiên phong nhằm củng cố sự cân bằng vốn rất mong manh và hay thay đổi giữa chỉ đạo của nhà nước và định hướng thị trường, giữa cam kết toàn cầu hóa và duy trì công cụ chính sách, giữa lãnh đạo quyết đoán với nhu cầu lắng nghe doanh nghiệp tư nhân một cách cẩn trọng. Chính sách này rất khó thực hiện so với việc đơn giản buông lỏng thị trường hoặc kiểm soát mọi việc bằng cỗ máy nhà nước. Hợp phần chủ đạo của chính sách này là chấp nhận cơ chế thị trường và toàn cầu hóa, tinh thần học hỏi linh hoạt của cả chính phủ và khu vực tư nhân, và mối tương tác phức tạp, không ngừng thay đổi giữa hai khu vực này. Cụ thể hơn, chính sách công nghiệp tiên phong phải thỏa mãn tất cả những điều kiện sau:  Phát triển theo cơ chế thị trường trong bối cảnh toàn cầu hóa: khu vực tư nhân tham gia chủ yếu vào hoạt động sản xuất, đầu tư, thương mại và các hoạt động kinh tế khác trong môi trường cạnh tranh mở do cơ chế thị trường và quá trình toàn cầu hóa tạo ra. Nhà nước không tham gia vào hoạt động sản xuất, trừ những lĩnh vực khu vực tư nhân chưa sẵn sang tiếp quản vai trò của nhà nước.  Nhà nước mạnh: Nhà nước đảm đương vai trò vững chắc và chủ động trong việc định hướng và hỗ trợ phát triển mặc dù về nguyên tắc, mọi hoạt động sản xuất đều do tư nhân tiếp nhận là chủ yếu. 10 CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG BẪY THU NHẬP TRUNG BÌNH Ở CÁC NƯỚC ĐANG PHÁT TRIỂN VÀ CÁC NƯỚC CÓ NỀN KINH TẾ MỚI NỔI 2.1 Bẫy thu nhập trung bình ở các nước đang phát triển 2.1.1 Thái Lan 2.1.1.1 Khái quát kinh tế Thái Lan: Bảng 2.1: GDP bình quân đầu người của Thái Lan giai đoạn 2008 – 2011 Nguồn: http://data.worldbank.org Phục hồi đầu tư tư nhân của Thái Lan sau cuộc khủng hoảng tài chính châu Á 1997-1998 đã chậm chạp. Cho đến năm 1996, tốc độ tăng trưởng của Thái Lan đã được đặc trưng bởi tỷ lệ cao trong tổng đầu tư. Phục hồi đầu tư tư nhân sau khi cuộc khủng hoảng diễn ra chậm hơn so với sự phục hồi quá khứ và hiện tại tỷ lệ đầu tư như vậy vẫn còn thấp mặc dù sự phục hồi kinh tế mạnh mẽ sau năm 2001. Năm 2004, đầu tư tư nhân chỉ đạt khoảng 15% của tổng sản phẩm quốc nội (GDP), so với mức trung bình của hơn 25% trong giai đoạn trước khủng hoảng. Bản chất của sự tăng trưởng của Thái Lan cũng đã thay đổi trong những năm gần đây. Trước khi cuộc khủng hoảng tài chính, như với hầu hết các nền kinh tế Đông Á, tăng trưởng đã giúp giá cao tích lũy vốn. Giữa năm 1977 và năm 1996, 11 tổng số nhân tố năng suất (TFP) đóng góp tăng trưởng trung bình 1,6 phần trăm mỗi năm cho sự tăng trưởng của sản lượng so với bốn phần trăm tăng trưởng vốn và 1,6 phần trăm từ việc làm gia tăng. Duy trì tăng trưởng kinh tế mạnh mẽ và khả năng cạnh tranh trong trung và dài hạn, Thái Lan có thể cần phải tham gia vào một chiến lược khác nhau. cần nỗ lực nhiều hơn để tăng cường sự đóng góp của tăng trưởng TFP đối với tăng trưởng sản lượng bằng cách nhấn mạnh sự đổi mới, các kỹ năng và khả năng công nghệ phát triển. Đầu năm 2010, các dự báo cho rằng, GDP của Thái Lan chỉ tăng từ 4 đến 5%. Tới đầu tháng 9 này, có các số liệu thống kê và những dự báo về nền kinh tế Thái Lan đã phác họa bức tranh lạc quan. Sáu tháng đầu năm, GDP đạt mức tăng 10,6%, sáu tháng cuối năm, mức tăng có thể chậm lại, nhưng chỉ cần ở mức 5%, GDP cũng đã đạt tỷ lệ tăng từ 7 đến 7,6%. Các nhà kinh tế cho rằng, kinh tế Thái Lan dù nếm trải những tổn thương do bất ổn chính trị nhưng đã biết phát huy tốt thế mạnh xuất khẩu. Phó Thống đốc Ngân hàng Trung ương Thái Lan Bandid Nijathaworn cũng nhận xét, xuất khẩu tăng mạnh, chính sách tài chính tiền tệ có tính khuyến khích đã giúp kinh tế nước này tăng trưởng tốt. Xét về quy mô nền kinh tế, GDP của Thái Lan đạt 313 tỷ USD, đứng thứ hai trong các nước ASEAN (sau Indonesia), thu nhập bình quân đầu người khoảng 4.700 USD/năm, đứng sau Singapore, Brunei và Malaysia, sức mua tương đương đạt 545 tỷ USD. Tuy nhiên, áp dụng tiêu chí tổng thu nhập quốc dân của Ngân hàng Thế giới trên đầu người để phân loại thu nhập của các nền kinh tế, Thái Lan đang ở mức trung bình thấp, khoảng 3.800USD. Thái Lan phải mất mất hơn 2 thập kỷ mới vượt qua con số 3.000USD, nhưng vẫn chưa bước vào được nhóm nước có mức thu nhập trung bình của trung bình. Nguyên nhân vướng vào bẫy thu nhập trung bình là do sự suy giảm hiệu quả vốn đầu tư sau quá trình kích thích tăng trưởng; tiếp tục tình trạng của một nền kinh tế gia công, sự phân hóa thu nhập dẫn đến phân cực và bất ổn. 12 Trong kế hoạch phát triển kinh tế, xã hội từ 2007-2011, Thái Lan phấn đấu lọt vào nhóm trung bình cao (từ trên 3.855USD đến 11.906USD). 2.1.1.2 Hoạt động R&D và chất lượng nguồn nhân lực: Các hoạt động R&D ở Thái Lan được tập trung chủ yếu tại các trường đại học, các trường này chiếm 95% tổng số CBQT (công bố quốc tế) của cả nước so với con số 55% của Việt Nam. Bên cạnh Đại học Chulalongkorn và Mahidol, Thái Lan còn có nhiều trường Đại học danh tiếng khác như Chiang Mai, Khon Kaen, Kasetsart, Prince Songkla, Thammasat, và Viện Công nghệ Châu Á, hằng năm mỗi trường này đều công bố hàng trăm công trình trên các tạp chí quốc tế.tại thái lan người tốt nghiệp kĩ sư ,đại học chuyên viên chế tạo khoa học kĩ thuật chỉ chiếm 10% trong khi đó số lượng tốt nghiệp các ngành khoa học xã hội khá cao.số lượng bằng sáng chế của Thái Lan được cấp theo năm ngày có xu hướng giảm từ năm 2000 là 744 nhưng cho tới năm 2010 thì con số đó chỉ còn 46. Đất nước không có số lượng người có tay nghề cao và các nhà nghiên cứu, mức độ chi tiêu cho R&D, hoặc số lượng bằng sáng chế nộp tại Hoa Kỳ mà là phù hợp với nguyện vọng của mình để tiến tới một nền kinh tế tri thức. Cải thiện chất lượng lao động, được đo bởi lợi nhuận trong trình độ học vấn đại diện cho 0,3% mỗi năm, một nguồn tương đối nhỏ của tăng trưởng. Tuy nhiên, từ năm 1999, tăng trưởng của Thái Lan đã được thúc đẩy bởi việc sử dụng ngày càng tăng của dự trữ lớn của lao động nông thôn thiếu việc làm trong lĩnh vực sản xuất. Như sự cạnh tranh từ các nước láng giềng trong kỹ năng thấp tăng sản xuất, có khả năng là nhu cầu tương lai cho lao động phổ thông (UL) sẽ giảm. 13 2.1.1.3 Thể chế chính trị: Hình 2.1 Thể chế liên quan hoạt động kinh tế tại Thái Lan Nguồn: Theo tạp chí nghiên cứu và phát triển Thời đại mới Số 24 – GS.Trần Văn Thọ Thái Lan có vị trí tương đối cao trong chi phí hợp đồng, tín dụng tư nhân và mức độ cạnh tranh tranh trong nước tuy nhiên có một số lĩnh vực lại mức độ lại thấp bao gồm ổn định chính trị và trách nhiệm giải trình. Như đã xác nhận rằng hoạt động của họ vẫn đang bị cản trở bởi ba hạn chế lớn:  Gánh nặng pháp lý nặng nề, thiếu các kỹ năng và cơ sở hạ tầng thiếu đặc biệt là bên ngoài Bangkok. Hơn 60 phần trăm của 1.385 công ty được khảo sát đã xác định được gánh nặng pháp lý là một trở ngại hàng đầu để làm kinh doanh. Khoảng 50% của các công ty xác định tình trạng thiếu kỹ năng và khoảng 40% thiếu hụt cơ sở hạ tầng như hai hạn chế ràng buộc nhất khác để hoạt động và hiệu suất của chúng. 14  Thiếu kỹ năng là một trở ngại chính cho các hoạt động, năng suất và tăng trưởng của các công ty trong tất cả các vùng, trong khi thiếu hụt trong các dịch vụ cơ sở hạ tầng và hỗ trợ là nghiêm trọng nhất cho các doanh nghiệp trong khu vực tồi tệ nhất hiệu suất.  Trở ngại lớn cho các doanh nghiệp trong vùng có hiệu suất tốt hơn như Bangkok và vùng phụ cận là quy định nặng Các vấn đề cụ thể của gánh nặng pháp lý được xác định bởi các công ty bao gồm các quy định về thuế và / hoặc tỷ giá, gánh nặng quan liêu, nội quy lao động, quy định nhập khẩu và hải quan và các quy định quyền sở hữu. Các công ty trong Thái Lan cũng trải nghiệm một mức độ lớn của sự không chắc chắn liên quan đến thời gian cần thiết để có được giấy phép, giấy phép và ủy quyền. Hiệu suất của Thái Lan trong cơ sở hạ tầng đặc biệt yếu đối với điện và các chỉ số liên quan đến điện thoại. 2.1.1.4 Năng lực cạnh tranh quốc tế: Hình 2.2: Chỉ số cạnh tranh giữa hai ngành công nghệ tại Thái Lan Nguồn: TheoTạp chí nghiên cứu và phát triển Thời đại mới Số 24 – GS.Trần Văn Thọ 15
- Xem thêm -