Tài liệu Lựa chọn vấn đề dạy và phương pháp ôn tập cho học sinh giỏi quốc gia khi giảng dạy phần lịch sử việt nam giai đoạn 1919 – 1930

  • Số trang: 36 |
  • Loại file: PDF |
  • Lượt xem: 1444 |
  • Lượt tải: 0

Mô tả:

LỰA CHỌN VẤN ĐỀ DẠY VÀ PHƯƠNG PHÁP ÔN TẬP CHO HỌC SINH GIỎI QUỐC GIA KHI GIẢNG DẠY PHẦN LỊCH SỬ VIỆT NAM GIAI ĐOẠN 1919 – 1930 DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT BT: Bài tập CH: Câu hỏi ĐCS: Đảng cộng sản Hội VNCHTN: Hội Việt Nam cách mạng thanh niên HD: Hướng dẫn THTP: Trung học phổ thông TQ: Trung Quốc CHUYÊN ĐỀ:LỰA CHỌN VẤN ĐỀ DẠY VÀ PHƯƠNG PHÁP ÔN TẬP CHO HỌC SINH GIỎI QUỐC GIA KHI GIẢNG DẠY PHẦN LỊCH SỬ VIỆT NAM GIAI ĐOẠN 1919- 1930 A. MỞ ĐẦU Trong xu thế hội nhập quốc tế hiện nay, Việt Nam cần có những con người vừa lao động trí lực và thể lực, có kỷ luật, có khoa học, có năng suất cao, vừa là con người có văn hóa thâm thúy và rộng rãi, không chỉ thấm nhuần văn hóa truyền thống của dân tộc mình mà biết trân trọng tiếp thu những tinh hoa văn hóa của các dân tộc khác. Để đào tạo những con người hội tụ cơ bản những phẩm chất đó giáo dục đóng vai trò quyết định. Bởi vậy, mỗi môn học ở nhà trường phổ thông với đặc trưng của mình phải góp phần đào tạo thế hệ trẻ, những chủ nhân tương lai của đất nước. Cùng với các bộ môn khác, với đặc trưng của mình môn Lịch sử đã khẳng định được khả năng, ưu thế và sở trường trong việc giáo dục thế hệ trẻ. Những kiến thức của môn Lịch sử có tác động không nhỏ đến trí tuệ và trái tim học sinh những tình cảm đúng đắn…Tuy nhiên để phát huy chức năng, nhiệm vụ của bộ môn trong việc giáo dục học sinh thì hơn bao giờ hết phải đổi mới phương pháp để nâng cao hiệu quả dạy học. Bồi dưỡng học sinh giỏi nói chung, học sinh giỏi Quốc gia nói riêng là sứ mệnh cao cả nhưng cũng đầy khó khăn, thử thách đối với các trường THPT chuyên. Đây cũng là vấn đề được các cấp quản lý, đặc biệt là các giáo viên trực tiếp giảng dạy quan tâm, trăn trở. Với bộ môn Lịch sử, nội dung ôn luyện phục vụ thi HSGQG hầu như bao quát toàn bộ chương trình cấp học bao gồm cả lịch sử Thế giới và lịch sử Việt Nam. Trong chương trình lịch sử Việt Nam, giai đoạn 1919- 1930 là một giai đoạn quan trọng. Giai đoạn này có nhiều sự kiện hay, ảnh hưởng đến các giai 1 đoạn sau của lịch sử dân tộc. Do đó nếư không nắm chắc kiến thức giai đoạn này, học sinh sẽ khó có thể đạt kết quả cao trong các kỳ thi. Dạy học sinh giỏi đòi hỏi giáo viên phải sử dụng tài liệu chuyên sâu. Tuy nhiên, tài liệu viết về thời kỳ này không phong phú, ngoài các sách như Lịch sử Việt Nam, Đại cương lịch sử Việt Nam, giáo trình lịch sử Việt Nam…chúng ta ít có cơ hội được tiệm cận nhiều kiến thức trong các công trình nghiên cứu khác… Vì vậy,việc các trường chuyên khu vực Duyên hải và Đồng bằng Bắc Bộ tổ chức hội thảo bàn về việc “Lựa chọn vấn đề dạy và phương pháp ôn tập cho học sinh giỏi Quốc gia khi giảng dạy lịch sử Việt Nam từ 1919- 1930 ” là một việc làm rất hữu ích ! Để góp một phần nhỏ vào thành công của hội thảo tôi xin trình bày một số nội dung và phương pháp mà chúng tôi đã thực hiện có hiệu quả tốt đối với học sinh đội tuyển của mình khi giảng dạy lịch sử Việt Nam 1919- 1930 trong thời gian qua. Kính mong nhận được sự quan tâm, đóng góp ý kiến của các đồng nghiệp! Chuyên đề gồm hai phần: Phần 1: Lựa chọn nội dung ôn tập khi dạy học phần lịch sử Việt Nam giai đoạn 1919- 1930. Phần 2: Phương pháp ôn tập cho học sinh đội tuyển Quốc gia khi dạy học phần lịch sử Việt Nam giai đoạn 1919- 1930. 2 B/ Nội Dung Phần I: Lựa chọn nội dung ôn tập khi dạy học phần lịch sử Việt Nam giai đoạn 1919- 1930 1.1.Nội dung cơ bản của lịch sử Việt Nam giai đoạn từ 1919 – 1930 Trước khi giúp học sinh tìm hiểu các chuyên đề theo hướng tổng hợp, khái quát nội dung kiến thức, giáo viên cần giúp các em nắm chắc kiến thức cơ bản. Nội dung của lịch sử Việt Nam từ 1919-1930 (sách giáo khoa lịch sử 12 nâng cao) được trình bày trong một chương - Chương I: Lịch sử Việt Nam từ năm 1919-1930, gồm ba bài: bài 13, 14, 15, với các vấn đề chính: I/ Chính sách thống trị của thực dân pháp và những chuyển biến mới về kinh tế và giai cấp xã hội ở Việt Nam. 1. Chính sách kinh tế - chính trị, văn hóa của Pháp ở Đông Dương. 2. Tác động của chính sách thực dân đến tình hình kinh tế, xã hội (đặc biệt là sự phân hoá giai cấp, thái độ chính trị và khả năng cách mạng của các giai cấp trong xã hội ở Việt Nam…) II/ Tác động của tình hình thế giới và sự phát triển của phong trào dân tộc dân chủ ở Việt Nam từ 1919-1930 1. Tác động của tình hình thế giới… 2. Phong trào yêu nước theo khuynh hướng dân chủ tư sản (từ 1919-1930) (nguồn gốc, nội dung, đánh giá phong trào) 3. Phong trào công nhân Việt Nam từ sau chiến tranh thế giới thứ nhất đến năm 1930 (nguồn gốc, nội dung, đánh giá về phong trào) III/ Hoạt động cách mạng và vai trò lịch sử của lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc với cách mạng Việt Nam thời kì từ 1919-1930 1. Nguyễn Ái Quốc tìm ra con đường cứu nước đúng đắn cho lịch sử dân tộc - con đường cách mạng vô sản. 3 2. Nguyễn Ái Quốc truyền bá chủ nghĩa Mác- Lênin vào Việt Nam, chuẩn bị về tư tưởng, chính trị và tổ chức cho việc thành lập Đảng. 3. Nguyễn Ái Quốc sáng lập Đảng Cộng sản Việt Nam. IV/ Sự ra đời và hoạt động của ba tổ chức cách mạng. 1. Sự ra đời, hoạt động và vai trò của Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên. 2. Sự ra đời, hoạt động và vai trò của Tân Việt Cách mạng đảng. 3. Sự ra đời, hoạt động và vai trò của tổ chức Việt Nam Quốc dân đảng. V/ Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời. 1. Sự xuất hiện của ba tổ chức cộng sản năm 1929. 2. Hội nghị thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam (hoàn cảnh, nội dung, ý nghĩa) 3. Nội dung của chính cương vắn tắt, sách lược vắn tắt… 4. Ý nghĩa của việc thành lập Đảng Cộng Sản Việt Nam. 1.2.Trên cơ sở những kiến thức cơ bản đã được trang bị, giáo viên tiếp tục hướng dẫn các em nghiên cứu, tìm hiểu và làm bài tập,câu hỏi theo các chuyên đề có nâng cao(có thể bổ ngang hoặc bổ dọc các nội dung, vấn đề lịch sử): 1. Chương trình khai thác thuộc địa lần thứ hai của Pháp và ảnh hưởng của nó đối với sự phân hóa giai cấp trong xã hội Việt Nam 2. Thái độ chính trị và khả năng cách mạng của các giai cấp trong xã hội Việt Nam 3. Hoàn cảnh lịch sử và đặc điểm của phong trào yêu nước ở nước ta trong những năm 20 của thế kỉ XX 4. Vì sao trong quá trình tìm đường cứu nước Nguyễn Ái Quốc lại lựa chọn con đường cách mạng vô sản. 5. Hoạt động và công lao của Nguyễn Ái Quốc từ 1911-1930 đối với cách mạng Việt Nam trong giai đoạn 1919- 1930. 4 6.Vì sao tháng 6/1925 Nguyễn Ái Quốc sáng lập tổ chức Hội Việt Nam Cách Mạng Thanh Niên? Hoạt động và vai trò của Hội đối với cách mạng Việt Nam. 7. Phong trào dân tộc dân chủ theo khuynh hướng dân chủ tư sản ở Việt Nam trong những năm từ 1919- 1930. 8.Quá trình phát triển từ tự phát đến tự giác của phong trào công nhân Việt Nam qua hai giai đoạn 1919-1925 và 1925-1929. 9.Sự ra đời của các tổ chức cộng sản ở Việt Nam năm 1929. Vì sao phải hợp nhất các tổ chức này thành một chính đảng duy nhất? Vai trò của Nguyễn Ái Quốc đối với Hội nghị thành lập Đảng? 10.Hội nghị thành lập Đảng đầu năm 1930? Tại sao nói Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời là bước ngoặt vĩ đại của cách mạng Việt Nam? 11.Tính đúng đắn và sáng tạo của Cương lĩnh chính trị đầu tiên của Đảng. Phần II: Phương pháp ôn tập cho học sinh đội tuyển Quốc gia khi dạy học phần lịch sử Việt Nam giai đoạn 1919- 1930 2.1.Muốn học sinh yêu thích, ham mê, học tập đạt kết quả cao thì trước tiên giáo viên phải xác định động cơ,hứng thú học tập lịch sử cho học sinh. Xác định mục tiêu học tập là hình thành ở học sinh động cơ đúng đắn trong học tập lịch sử. Động cơ là động lực bên trong thúc đẩy trực tiếp con người ta hoạt động. ..Hứng thú là biểu hiện tình cảm, nhu cầu nhận thức của con người. Như vậy, bước thứ nhất của công việc dạy học lịch sử là làm thế nào khơi gợi được hứng thú của học sinh đối với việc học tập, làm rõ mục đích học tập. Động cơ học tập môn Lịch sử của học sinh nhất là học sinh chuyên phải được tạo ra bởi quyền lợi của các em (được khen thưởng, cộng điểm, vào đại học…) hoặc bằng sức mạnh của nội dung bài học. Không có động cơ học tập, học sinh sẽ không có nhu cầu tham gia tích cực vào bài học. Vì vậy chỉ có thể nâng cao được chất lượng dạy học lịch sử ở trường Chuyên nói chung, bồi 5 dưỡng học sinh giỏi nói riêng khi hình thành ở học sinh động cơ, thái độ học tập đúng đắn [3] 2.2.Phải sớm hình thành ở học sinh năng lực học tập và những kĩ năng học tập cơ bản nhất, từ đó hình thành kĩ năng giải bài tập cho các em. Năng lực học là khả năng tự mình chiếm lĩnh kiến thức lịch sử một cách có hiệu quả dưới sự điều khiển, hướng dẫn của thầy. Muốn vậy học sinh phải được trang bị những cơ sở mang tính phương pháp luận nhận thức lịch sử. Kiến thức lịch sử mà học sinh lĩnh hội là những kiến thức đã được khoa học xác nhận và được ghi chép trong sách giáo khoa bộ môn và những kĩ năng học tập cơ bản nhất. Xuất phát từ đặc trưng của kiến thức lịch sử, chúng ta cần hình thành ở học sinh những kỹ năng cơ bản sau: Thứ nhất: Kỹ năng học, ghi nhớ các sự kiện, hiện tượng lịch sử một cách hệ thống. Thứ hai: Kỹ năng sử dụng tài liệu lịch sử. Thứ ba: Kỹ năng liên hệ, so sánh, đối chiếu tài liệu lịch sử với hiện tại. Thứ tư: Rèn luyện kỹ năng biết sử dụng hợp lý, cần thiết các loại đồ dùng trực quan quy ước, như bản đồ, đồ thị, biểu đồ, các bảng thống kê.. Thứ năm: Kỹ năng phát hiện vấn đề và giải quyết vấn đề. Học sinh chuyên Sử và học sinh giỏi môn Lịch sử là những em ham thích say mê nghiên cứu và học tập môn Lịch sử. Các em phải tự mình phát hiện ra vấn đề và tìm cách giải quyết vấn đề trong quá trình học tập. Các em phải luôn luôn có ý thức tìm hiểu để làm sáng tỏ các sự kiện lịch sử và giải thích vì sao như vậy. Thứ sáu: Kỹ năng làm bài kiểm tra, bài thi môn Lịch sử. Nghĩa là trong một khoảng thời gian có hạn đòi hỏi học sinh phải có những kỹ năng cơ bản trong việc nhận thức đề, phân phối thời gian, giải quyết đề và trình bày bài. Những kỹ năng nêu trên không phải ngày một ngày hai có được mà phải là một quá trình. Để hình thành và rèn luyện được những kỹ năng nêu trên, để có kết quả, chất lượng học tập tốt mỗi học sinh phải có nhận thức đúng về môn 6 Lịch sử và có phương pháp học tập phù hợp. Việc đổi mới phương pháp học tập thể hiện chủ yếu qua việc: - Ở trên lớp, nghe giảng bài mới, học sinh cần nắm được mục tiêu bài học mà giáo viên giới thiệu ngay từ đầu giờ học, ghi chép theo sự tiếp thu của mình về các kiến thức được cung cấp, đặc biệt tham gia giải quyết các vấn đề được đặt ra. - Ở nhà, các em đọc kỹ sách giáo khoa, kết hợp bài giảng của giáo viên trên lớp, suy nghĩ ghi nhớ những kiến thức cơ bản, đặt ra các vấn đề để giải quyết hoặc trao đổi với bạn, nhờ thầy cô giáo hướng dẫn giải quyết. - Ngoài ra, các em cần chú ý hoàn thành tất cả các câu hỏi, bài tập được nêu trong sách giáo khoa cũng như do thầy cô giáo đưa ra sau mỗi bài, chương… và tự đánh giá kết quả giải đáp của mình hoặc nảy sinh ra các thắc mắc mới. Đồng thời, trong quá trình dạy học, bồi dưỡng học sinh giỏi, giáo viên phải cho học sinh làm bài tập lịch sử dưới nhiều dạng khác nhau, kể cả bài tập trắc nghiệm, tự luận và thực hành… Thông qua đó hình thành ở các em kỹ năng giải bài tập. Kỹ năng giải bài tập bao gồm: - Kỹ năng xác định yêu cầu nội dung của đề bài. - Kỹ năng xác định phương pháp làm bài. - Kỹ năng làm bài Có nhiều biện pháp sư phạm để hình thành kỹ năng GBT cho học sinh trong dạy học lịch sử ở trường phổ thông nói chung, trường THPT chuyên nói riêng. Tùy theo các hình thức sử dụng bài tập ở trên lớp, bài tập ở nhà, bài tập trong kiểm tra - đánh giá…mà giáo viên đưa ra biện pháp hình thành kỹ năng GBT riêng cho học sinh. 2.2.1. Hình thành kỹ năng giải bài tập ở trên lớp Thông thường ở trên lớp giáo viên sử dụng bài tập hoặc câu hỏi có những yếu tố của bài tập nhận thức để học sinh xác định, tiếp cận kiến thức mới, bài 7 tập, câu hỏi gợi mở (trong quá trình tiến hành giờ học) để tổ chức kiểm tra hoạt động nhận thức của học sinh trong quá trình tiếp thu kiến thức mới. Cùng với việc sử dụng các bài tập đó, giáo viên hướng dẫn và hình thành kỹ năng giải bài tập cho học sinh để nâng cao hiệu quả bài học ở trên lớp. 2.2.2. Hình thành kỹ năng giải bài tập ở nhà Việc tự học ở nhà trong học tập nói chung và học tập trên lớp nói riêng là sự tiếp nối một cách logic bài học trên lớp. bởi vì: “Bài giảng ở trên lớp chỉ là bước mở đầu cho công việc tiếp tục việc tự học ở nhà để hiểu vấn đề, chứ không phải là cung cấp hoàn chỉnh, cuối cùng cho việc học tập” [23; 136]. Trong hoạt động này học sinh phải tự hoàn thành các BT, CH trong sách giáo khoa và BT, CH do giáo viên đưa ra sau các bài học trên lớp. Tự học của học sinh, đặc biệt là học sinh chuyên Sử trong quá trình học tập lịch sử, thể hiện ở nhiều khâu của quá trình dạy học và được thể hiện bằng nhiều con đường khác nhau, trong đó tổ chức và hướng dẫn học sinh làm BT, CH trong SGK là biện pháp quan trọng không thể thiếu được bởi nó giúp các em nắm chắc kiến thức cơ bản và hệ thống, hiểu sâu sắc hơn, toàn diện hơn về lịch sử của dân tộc và nhân loại, tăng cường năng lực thực hành của học sinh khi tiếp thu và vận dụng kiến thức đã học để tiếp thu kiến thức mới và áp dụng vào cuộc sống. BT, CH trong SGK giúp các em làm quen với việc đánh giá, bình luận các sự kiện, nhân vật lịch sử. Trên cơ sở đó, tư duy lịch sử của học sinh được phát triển, góp phần vào việc rèn luyện các kỹ năng, giáo dục đạo đức, giáo dục truyền thống, giáo dục lý tưởng, thẩm mĩ cho học sinh. Các BT, CH trong SGK là một bộ phận quan trọng của sách, giúp học sinh ôn tập, đánh giá trong quá trình học từng mục, từng bài, sau mỗi chương. BT, CH có nhiều dạng khác nhau, song đều nhằm củng cố kiến thức, xem xét sự tiếp thu kiến thức đã học, đang học, ôn tập, với hai loại chủ yếu: câu hỏi “như thế nào” giúp học sinh nắm những kiến thức cụ thể về sự kiện lịch sử đã diễn ra; Câu hỏi “vì sao” giúp học sinh giải thích các vấn đề được đặt ra để hiểu sâu sắc hơn những vấn đề lịch sử… 8 Bên cạnh những BT, CH trong SGK, sau mỗi giờ học ở trên lớp, nhằm giúp cho học sinh nắm vững hệ thống kiến thức trong một bài hoặc một số bài và rèn luyện các kỹ năng tự học, tùy theo nội dung bài học, điều kiện cụ thể, giáo viên có thể ra thêm một số câu hỏi, bài tập để các em làm ở nhà(số lượng, nội dung bài tập, câu hỏi phải phù hợp với yêu cầu và trình độ của học sinh…) như: bài tập dưới dạng một câu hỏi tổng hợp, bài tập giải thích, bình luận những nhận định, kết luận về một nhân vật, một sự kiện lịch sử nhằm rèn luyện kỹ năng phân tích lập luận cho học sinh, hoặc bài tập làm việc với đồ dùng trực quan,… Thông qua việc hoàn thành BT, CH về nhà học sinh được rèn luyện ý thức tự học, gây hứng thú học tập, phát huy tính thông minh, sáng tạo, góp phần thực hiện nguyên lý giáo dục gắn nhà trường với đời sống. Để học sinh hoàn thành BT, CH về nhà trong SGK cũng như CT, CH giáo viên đưa ra sau bài học có hiệu quả trong một khoảng thời gian nhất định cho phép, giáo viên cần hướng dẫn học sinh thực hiện: - Đọc kỹ BT, CH, hiểu đúng yêu cầu của BT, CH. - Tái hiện kiến thức để giải BT, CH. Học sinh phải nắm chắc kiến thức cơ bản rồi mới làm BT, CH. - Tập trình bày, làm BT, CH dễ trước, khó sau, rèn luyện phong cách khẩn trương nhưng cẩn thẩn khi hoàn thành BT, CH bằng cách kiểm tra, đọc lại sau khi làm xong để phát hiện kịp thời sai sót. 2.2.3. Hình thành kỹ năng GBT trong KT-ĐG, thi cử Kiểm tra - đánh giá là một khâu quan trọng không thể thiếu được của quá trình dạy học, biện pháp quan trọng để nâng cao chất lượng dạy học. Đây là công việc của cả giáo viên và học sinh. GV kiểm tra và đánh giá kết quả học tập của học sinh. Học sinh tự kiểm tra và đánh giá lẫn nhau, thông qua kiểm tra đánh giá giáo viên hiểu rõ việc học tập của học sinh, có cơ sở thực tiễn đánh giá kết quả học tập của các em và hực hiện những thiếu sót trong kiến thức, kỹ năng để kịp thời sửa chữa, bổ sung. Nó góp phần củng cố những kiến thức đã học của học sinh. Đồng thời, qua kiểm tra, đánh giá, giáo viên tự đánh giá được kết quả 9 công tác giảng dạy của bản thân, thấy được những thành công và những vấn đề cần rút kinh nghiệm, từ đó có những biện pháp thích hợp nhằm nâng cao chất lượng dạy học [4; 162]. Qua việc kiểm tra đánh giá phát huy tính tích cực tư duy của học sinh, làm cho các em thấy được trách nhiệm của mình trong quá trình học tập không chỉ tiếp thu kiến thức một cách thụ động để rồi được kiểm tra mà phải biến kiến thức đã học thành tài sản của mình và thể hiện được tính chủ động, thông minh, sáng tạo khi được kiểm tra. Trong dạy học lịch sử nội dung kiểm tra, đánh giá phải xem xét một cách tổng hợp kết quả nhận thức, kết quả giáo dục, kết quả phát triển theo đúng yêu cầu của bộ môn. Kiểm tra, đánh giá kiến thức cơ bản học sinh cần phải nắm sự kiện nhân vật, địa danh, niên đại, nguyên lý trong một bài, một quy trình. Các quan điểm phương pháp luận Sử học Mác xit, tư tưởng Hồ Chí Minh phù hợp với yêu cầu, trình độ học sinh. Từ yêu cầu về nội dung kiểm tra, đánh giá, giáo viên có thể xây dựng và sử dụng các loại bài tập cho phù hợp từ bài tập trác nghiệm khách quan, bài tập nhằm rèn luyện kỹ năng thực hành, hệ thống hóa, khái quát hóa kiến thức và vận dụng kiến thức, bài tập dưới dạng câu hỏi tổng hợp... Ngoài phải tham gia đầy đủ các bài kiểm tra, đánh giá cơ bản: Kiểm tra miệng (Bài cũ, hoạt động nhận thức…), kiểm tra 15 phút 1 tiết học kỳ, cuối năm, cuối cấp; tham gia các bài kiểm tra đánh giá không thường xuyên: Hoạt động tự học ở nhà, hoạt động ngoại khóa… Học sinh đội tuyển phải tham gia các kỳ thi thi học sinh giỏi cấp trường, cấp tỉnh, cấp khu vực và cấp quốc gia… áp lực của những kỳ thi này là rất lớn đối với các em vì nó không chỉ kiểm tra đánh giá kiến thức, thái độ… của các em mà thông qua đó nó còn phản ánh năng lực, sự tâm huyết của giáo viên, sự chỉ đạo quan tâm của nhà trường, gia đình, xã hội… Do đó việc chuẩn bị tâm lý tự tin, thoải mái, kiến thức vững vàng và phương pháp làm bài hiệu quả cho các em là rất quan trọng. 10 Qua quá trình giảng dạy và, chúng tôi thấy rằng: muốn đạt hiệu quả cao trong các bài kiểm tra, thi cử ở cả hai hình thức kiểm tra miệng và viết thì trước khi bước vào đợt kiểm tra hay thi cử học sinh cần có sự chuẩn bị tốt về tinh thần, tâm lý và kiến thức. Cần hệ thống các tài liệu đã học thành các vấn đề để nắm một các tường tận, có khả năng ứng phó được các loại bài tập, câu hỏi, nếu không làm chủ được kiến thức thì sẽ hạn chế nhiều khả năng đó. Khi bước vào kì thi hay kiểm tra, giáo viên cần nhắc nhở các em chú ý: Thứ nhất, phải đọc và phân tích đề bài để hiểu yêu cầu và nội dung mà câu hỏi, bài tập đặt ra. Đây là công việc đầu tiên, không thể thiếu được để tránh việc xa đề, lạc đề, không phân phối đủ thời gian cho bài viết. Muốn hiểu rõ đề bài, đầu tiên phải bỏ một lượng thời gian nhất định (khoảng 5/45 phút, 10-15 phút/180 phút) để đọc, suy nghĩ, phân tích đề bài, tìm hiểu những yêu cầu, nội dung cơ bản của đề, tức là nêu những đòi hỏi của đề bài cần tập trung giải quyết. Cần gạch chân, ghi ở tờ giấy nháp những từ, cụm từ quan trọng., thể hiện nội dung cơ bản của đề, từ đó tìm những ý chính, vấn đề chính cần quan tâm giải quyết. Trên tờ giấy nháp, các em ghi cả những hiểu biết của mình liên quan đến những vấn đề đã được xác định, song chưa cần diễn đạt một cách cụ thể. Trong những kiến thức ghi ở giấy nháp cần lựa chọn và sắp xếp những ý quan trọng nhất cần được giải quyết theo trình tự thời gian, qua đó tìm ra sợi chỉ xuyên suốt toàn bộ bài làm của mình, nghĩa là những ý chủ đạo sẽ được trình bày kỹ ở phần chính của bài. Thứ hai: phải xây dựng dàn ý để đáp ứng yêu cầu cơ bản của bài, giữ được sự cân đối giữa các phần, chủ động được thời gian. Dàn bài gồm các phần chủ yếu: Phần mở đầu Phần thân bài Phần kết luận 11 Cần tránh hai tiếu sót thường gặp là: không vạch dàn ý (hay nêu quá sơ lược) khi tiến hành bài viết một cách tùy tiện, hoặc vạch dàn ý quá chi tiết, mất nhiều thì giờ, ảnh hưởng đến việc hoàn thành bài làm. Một điều cần lưu ý là phải vạch ra một thời gian biểu hợp lý để bài làm trong thời gian quy định, tránh tình trạng vội vàng khi làm bài hoặc không hoàn thành hoặc thừa quá nhiều thời gian. Thứ ba: Khi làm bài học sinh phải chú ý làm câu dễ trước, khó sau và cố gắng hoàn thành hết mọi câu mà đề ra. Trong khi viết phải chú trọng nhiều đến cách hành văn - dùng từ ngữ giản dị, trong sáng, đúng ngữ pháp, không viết sai chính tả, diễn đạt gọn, thể hiện rõ cảm xúc… Như vậy, để hình thành kỹ năng giải bài tập môn Lịch sử cho học sinh giáo viên cần: - Giúp học sinh biết cách tìm tòi để nhận ra yếu tố đã cho, yếu tố phải tìm và mối quan hệ giữa chúng. - Giúp học sinh hình thành một mô hình khái quát để giải quyết các bài tập, đối tượng cùng loại. - Xác lập được mối liên quan giữa bài tập mô hình khái quát và các kiến thức tương xứng. Vậy một học sinh được coi là có kỹ năng giải bài tập là học sinh như thế nào? Thông qua các biện pháp hướng dẫn học sinh giải bài tập, chúng tôi xin đưa ra tiêu chí để đánh giá học sinh có kỹ năng GBT như sau: - Có kỹ năng xác định đúng nhất yêu cầu nội dung của đề bài. - Có kỹ năng xác định phương pháp làm bài phù hợp và hiệu quả. - Có kỹ năng làm bài tốt nhất… 2.3.Để giúp học sinh nắm chắc kiến thức cơ bản và huy động kiến thức hiệu quả với những chuyên đề chuyên sâu trong quá trình ôn tập giáo viên cần: - Chia nội dung ôn tập thành từng giai đoạn nhỏ, từng phần kiến thức theo trình tự thời gian… 12 - Yêu cầu học sinh lập niên biểu các sự kiện tiêu biểu của từng giai đoạn, từng phần kiến thức.. - Hướng dẫn học sinh lập sơ đồ kiểu “ gốc cây phả hệ” đối với từng vấn đề, từng sự kiện. Ví dụ: Về quá trình hoạt động của Nguyễn Ái Quốc từ 1919-1930, có thể hướng dẫn học sinh lập sơ đồ như sau: Nguyễn Ái Quốc_ 1911-1920:quá trình tìm đương cứu nước (1911-1930) 1911… 1917… 1919…. 1920 7/1920... 12/1920.... 1921-1929: quá trình chuẩn bị về tư tưởng chính trị và tổ chức cho sự thành lập Đảng 1921… 1922… 1923… 1924… 1925… 1927… 1930: sáng lập Đảng cộng sản Việt Nam : 6-1-8/2/1930 - Kết hợp nhiều phương pháp, đặc biệt phương pháp trao đổi đàm thoại trên lớp để củng cố kiến thức, phát triển tư duy nhạy bén cho học sinh... - Hướng dẫn học sinh tự học, biết kết hợp sách giáo khoa với các tài liệu tham khảo… - Tổng hợp kiến thức và rèn luyện cho học sinh khả năng phân tích, đánh giá,rút ra bài học. - Giúp học sinh làm quen với các dạng câu hỏi khác nhau của một vấn đề.. 2.4.thiết lập hệ thống câu hỏi bài tập cho giai đoạn 1919-1930 và hướng dẫn học sinh trả lời câu hỏi khó hơn, ví dụ: 13 Câu 1: Trình bày chương trình khai thác thuộc địa lần thứ hai của Pháp ở Đông Dương và ảnh hưởng của nó đối với sự phân hóa giai cấp trong xã hội Việt Nam. HD: a, Chương trình khai thác thuộc địa lần thứ hai của Pháp ở Đông Dương. - Hoàn cảnh: + Chiến tranh thế giới thứ nhất kết thúc, Pháp là nước thắng trận nhưng nền kinh tế nước Pháp bị tổn thất nặng nề… + Để bù đắp thiệt hại hàn gắn vết thương chiến tranh, nhà cầm quyền Pháp tăng cường khai thác thuộc địa, đặc biệt ở Đông Dương và châu Phi. - Nội dung khai thác: Thực dân Pháp đã đầu tư với tốc độ nhanh, quy mô lớn vào các ngành kinh tế Việt Nam… - Các lĩnh vực khai thác: + Chúng tập trung trước hết là vào nông nghiệp… + Về công nghiệp, tư bản Pháp chú trọng đầu tư vào khai thác mỏ (chủ yếu là than…) + Về thương nghiệp, trước hết là ngoại thương có tăng tiến hơn trước… + Về tài chính: Ngân hàng Đông Dương nắm quyền huy kinh tế,… + Ngoài ra thực dân Pháp còn thi hành biện pháp tăng thuế để bóc lột nhân dân ta… b, Ảnh hưởng của chương trình khai thác thuộc địa đối với sự phân hóa giai cấp trong xã hội Dưới ảnh hưởng của chương trình khai thác thuộc địa của Pháp, cơ cấu giai cấp của xã hội Việt Nam có sự chuyển biến mới. Bên cạnh những giai cấp cũ tiếp tục tồn tại và phân hóa (phong kiến, nông dân) đã hình thành các giai cấp 14 mới (tư sản, tiểu tư sản và công nhân). Do quyền lợi kinh tế và địa vị khác nhau nên thái độ chính trị và khả năng cách mạng của mỗi giai cấp cũng khác nhau. Giai cấp địa chủ phong kiến: Bị phân hoá thành ba bộ phận. Đại địa chủ có quyền lợi kinh tế và chính trị gắn chặt với đế quốc, là kẻ thù của cách mạng. Một bộ phận không nhỏ tiểu địa chủ và trung địa chủ tham gia phong trào dân chủ chống thực dân Pháp và tay sai. .. Giai cấp nông dân: Chiếm trên 90% dân số, bị đế quốc, phong kiến tước đoạt ruộng đất bị bần cùng hoá họ mâu thuẫn gay gắt với đế quốc Pháp và phong kiến tay sai. Vì vậy giai cấp nông dân việt Nam là lực lượng to lớn của dân tộc. Giai cấp tiểu tư sản: phát triển nhanh về số lượng, có tinh thần dân tộc, chống Pháp và tay sai. Bộ phận học sinh và sinh viên, trí thức nhạy bén với thời cuộc. Hăng hái tham gia các cuộc đấu tranh vì độc lập, tự do của dân tộc. Giai cấp tư sản: Ra đời sau chiến tranh thế giới thứ nhất, phần lớn là nhà thầu cung nguyên liệu, hàng hóa cho Pháp, thế lực yếu. quá trình phát triển phân hoá thành hai bộ phận: Tư sản mại bản: có quyền lợi gắn với đế quốc nên cấu kết chặt chẽ với đế quốc. Tư sản dân tộc có xu hướng kinh doanh độc lập, có khuynh hướng dân tộc và dân chủ. Giai cấp công nhân Việt Nam: Ra đời trước chiến tranh và tăng nhanh về số lượng sau chiến tranh: từ 10 vạn lên 22 vạn (1929), đời sống khó khăn, sớm tiếp thu chủ nghĩa Mác... trở thành lực lượng chính trị độc lập và nắm quyền lãnh đạo cách mạng Việt Nam... Câu 2: Phân tích thái độ chính trị và khả năng cách mạng của giai cấp trong xã hội Việt Nam? Những biến đổi trong xã hội Việt Nam sau chiến tranh thế giới thứ nhất đã tác động gì đến cách mạng Việt Nam. HD: a, Phân tích thái độ chính trị và khả năng cách mạng của năm giai cấp trong xã hội Việt Nam (giai cấp địa chủ phong kiến, giai cấp nông dân, giai cấp tiểu tư 15 sản, giai cấp tư sản, giai cấp công nhân,…) và khẳng định chỉ có giai cấp công nhân với hoàn cảnh, đặc điểm ra đời, phát triển... mới có thể đảm đương sứ mệnh lịch sử là lãnh đạo cách mạng Việt Nam đi tới toàn thắng. b, Tác động: - Sau CTTG thứ nhất xã hội Việt Nam đã có sự phân hóa sâu sắc… Mâu thuẫn trong xã hội ngày càng tăng chủ yếu là mâu thuẫn giữa toàn thể nhân dân ta với thực dân Pháp và tay sai. Cuộc đấu tranh của nhân dân ta chống đế quốc và tay sai diễn ra ngày càng quyết liệt. - Xã hội Việt Nam có đầy đủ các giai cấp của một xã hội hiện đại. Sự phát triển của giai cấp công nhân, tư sản và tiểu tư sản là những lực lượng mới, là cơ sở bên trong cho sự tiếp thu những tư tưởng cách mạng từ bên ngoài dội vào Việt Nam. - Những giai cấp mới (tư sản, vô sản) cùng với sự tiếp thu hệ tư tưởng mới đã đưa phong trào yêu nước Việt Nam từ năm 1919 đến năm 1930 phát triển theo hai khuynh hướng: tư sản và vô sản. Câu 3: Hoàn cảnh lịch sử và đặc điểm phong trào yêu nước ở nước ta trong những năm 20 của thế kỉ XX. HD: a, Hoàn cảnh lịch sử: - Các phong trào yêu nước đầu thế kỷ XX đã chấm dứt, tức là con đường cứu nước của các văn thân, sĩ phu đã thất bại, không thể tiếp tục được nữa. Đòi hỏi phải có con đường cứu nước mới. - Sau chiến tranh thế giới thứ nhất, mặc dù là nước thắng trận nhưng pháp bị tổn thất nặng nề. Vì vậy Pháp tiến hành chương trình khai thác thuộc địa lần hai. Dưới tác động của chương trình khai thác thuộc địa lần thứ hai xã hội Việt Nam phân hóa sâu sắc, mỗi giai cấp có quyền lợi, điều kiện khác nhau, có thái độ chính trị khác nhau… 16 - Tình hình thế giới có những biến động đã tác động mạnh mẽ đến phong trào giải phóng dân tộc ở nước ta: + Cách mạng tháng 10/1917 ở Nga… + Sự thành lập Quốc tế cộng sản… + Sự ra đời của Đảng Cộng sản Pháp, Trung Quốc và sự phát triển mạnh của phong trào giải phóng dân tộc ở Châu Á… - Tháng 12/1920 Nguyễn Ái Quốc tìm ra con đường cứu nước mới cho lịch sử dân tộc – con đường cách mạng vô sản. b, Đặc điểm - Lãnh đạo: Sự vươn lên của tư sản – vô sản - Lực lượng cách mạng: giai cấp tư sản, vô sản, nông dân, tiểu tư sản trí thức, binh lính, dân nghèo thành thị - Mục đích: đánh đuổi thực dân Pháp, phát triển xã hội. - Hình thức đấu tranh: phong phú (lập nhà xuất bản, báo chí, lập hội, mít tinh, biểu tình…) - Quy mô: rộng khắp (không chỉ trong nước mà còn ở nước ngoài như ở Liên Xô, ở Trung Quốc,…) Câu 4: Vì sao trong quá trình tìm đường cứu nước (1911 – 1920) Nguyễn Ái Quốc lại lựa chọn con đường cách mạng vô sản? - Ngay trước khi ra đi tìm đường cứu nước, Nguyễn Ái Quốc là một thanh niên yêu nước chân chính đã phân tích đúng đắn thực tiễn cách mạng Việt Nam một xã hội thuộc địa nửa phong kiến với hai mâu thuẫn cơ bản: mẫu thuẫn dân tộc và mâu thuẫn giai cấp; Người sớm nhận thức được con đường cứu nước của các bậc tiền bối rất yêu nước (như cụ Phan Bội Châu, Phan Châu Trinh…) nhưng không đi đến thắng lợi cuối cùng… Với động cơ cứu nước đồng thời cứu dân, ngày 5/6/1911 Người đã ra đi tìm đường cứu nước… 17 - Trong quá trình tìm đường cứu nước Người đã đi nhiều nơi, đến những nơi cần đến (Pháp, Mỹ, Anh…) và Người đã sớm có những nhận thức mang tính cách mạng đó là ở đâu nhân dân lao động cũng cực khổ như nhau. - Cũng trong quá trình tìm đường cứu nước, Nguyễn Ái Quốc đã nghiên cứu các trào lưu, học thuyết, các cuộc cách mạng khác nhau trên thế giới lúc bấy giờ, Người thấy được cách mạng tư sản là cách mạng chưa đến nơi vì quần chúng lao động vẫn đói khổ. Vì vậy, con đường mà cách mạng tư sản đã thực hiện không phù hợp với dân tộc… - Năm 1917, từ Anh, Người trở về Pháp hoạt động trong phong trào công nhân Pháp. Tại đây Người tiếp thu và chịu ảnh hưởng của cuộc Cách mạng tháng Mười Nga, Người tìm thấy ở cách mạng tháng Mười con đường đi cho cách mạng nước ta. - Tháng 6 năm 1919, với tên mới Nguyễn Ái Quốc. Người gửi tới Hội nghị Vécxai Bản yêu sách của nhân dân An Nam đòi các quyền tự do, dân chủ, bình đẳng cho dân tộc Việt Nam... - Tháng 7 năm 1920, Người đọc bản Sơ thảo lần thứ nhất những luận cương về vấn đề dân tộc và vấn đề thuộc địa của Lênin, từ đó Người quyết tâm đi theo con đường của Cách mạng tháng Mười Nga... - Tháng 12-1920, tại Đại hội Đảng Xã hội Pháp, Người đã bỏ phiếu tán thành việc gia nhập Quốc tế Cộng sản và trở thành người cộng sản Việt Nam đầu tiên, là một trong những người tham gia sáng lập Đảng Cộng sản Pháp. Như vậy, trong suốt 10 năm (1911-1920) với điều kiện khách quan và chủ quan đã giúp cho Nguyễn Ái Quốc từng bước từ một người yêu nước chân chính trở thành một người công nhân và một người cộng sản. Người đã tìm ra con đường cách mạng của nhân dân Việt Nam,con đường cứu nước gắn liền với cứu dân, độc lập dân tộc gắn liền với Chủ nghĩa xã hội. 18 Câu 5:Trên cơ sở trình bày những hoạt động của Nguyễn Ái Quốc từ năm 1919- 1930 hãy cho biết công lao của Người đối với cách mạng Việt Nam trong giai đoạn này? Công lao nào là to lớn nhất? Vì sao? HD: a/ Hoạt động của Nguyễn Ái Quốc từ năm 1919- 1930: - Cuối năm 1917, Nguyễn Tất Thành trở lại Pháp, năm 1919 gia nhập Đảng Xã hội Pháp... - Tháng 6 năm 1919, với tên mới Nguyễn Ái Quốc. Người gửi tới Hội nghị Vécxai Bản yêu sách của nhân dân An Nam đòi các quyền tự do, dân chủ, bình đẳng cho dân tộc Việt Nam... - Tháng 7 năm 1920, Người đọc bản Sơ thảo lần thứ nhất những luận cương về vấn đề dân tộc và vấn đề thuộc địa của Lênin, từ đó Người quyết tâm đi theo con đường của Cách mạng tháng Mười Nga... - Tháng 12-1920, tại Đại hội Đảng Xã hội Pháp, Người đã bỏ phiếu tán thành việc gia nhập Quốc tế Cộng sản và trở thành người cộng sản Việt Nam đầu tiên, là một trong những người tham gia sáng lập Đảng Cộng sản Pháp. - Năm 1921, cùng với một số người khác sáng lập Hội Liên hiệp thuộc địa ở Pari để tuyên truyền, tập hợp lực lượng chống chủ nghĩa đế quốc. - Người tham gia sáng lập báo Người cùng khổ, viết bài cho báo Nhân đạo, đặc biệt biên soạn cuốn Bản án chế độ thực dân Pháp. - Tháng 6-1923, Nguyễn Ái Quốc đi Liên Xô dự Hội nghị Quốc tế Nông dân (10-1923), dự Đại hội Quốc tế Cộng sản lần thứ V (1924) ... - Ngày 11-11-1924, Người về Quảng Châu (Trung Quốc) trực tiếp tuyên truyền, giáo dục lí luận, xây dựng tổ chức cách mạng giải phóng dân tộc Việt Nam. + 11-1924, Nguyễn Ái Quốc từ Liên Xô đến Quảng Châu (TQ) liên lạc với những người Việt Nam yêu nước, với tổ chức Tâm tâm xã, chọn một số thanh niên tích cực thành lập ra Cộng sản đoàn (2-1925). + 6-1925, Nguyễn Ái Quốc thành lập Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên. Ngày 21-6-1925, báo Thanh niên - cơ quan ngôn luận của Hội, ra số đầu tiên. 19
- Xem thêm -