Tài liệu Quản lý nhà nước về hoạt động khoa học và công nghệ trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa.pdf

  • Số trang: 85 |
  • Loại file: PDF |
  • Lượt xem: 2172 |
  • Lượt tải: 0

Mô tả:

PHẦN MỞ ĐẦU 1. 2. 3. 4. 5. Lý do chọn đề tài Tình hình nghiên cứu đề tài Mục đích đề tài và phạm vi nghiên cứu Phương pháp nghiên cứu của đề tài Kết cấu của luận văn 1 2 4 4 5 Chương 1 Những vấn đề cơ bản quản lý nhà nước về hoạt động khoa học và công nghệ 1.1. Khái niệm quản lý nhà nước đối với hoạt động khoa học và công 5 nghệ 1.1.1 Khái niệm về quản lý nhà nước 5 1.1.2. Động lực của khoa học và công nghệ đối với công nghiệp hoá, hiện đại hoá 11 1.2. Đặc điểm, nội dung quản lý nhà nước về khoa học và công nghệ 14 1.2.1. Đặc điểm quản lý nhà nước về khoa học và công nghệ 14 1.2.2. Nội dung quản lý nhà nước về khoa học và công nghệ 18 1.3. Quá trình phát triển quản lý nhà nước về khoa học và công nghệ 23 1.3.1. Thời kỳ 1958 – 1986 23 1.3.2. Thời kỳ 1986 – nay 26 Chương 2 Thực trạng quản lý nhà nước về hoạt động khoa học và công nghệ 2.1. Hệ thống các cơ quan quản lý nhà nước về hoạt động khoa học và công nghệ 29 29 2.1.1. Bộ Khoa học và Công nghệ 2.1.2. Trách nhiệm của của các Bộ, ngành thực thiện chức năng quản lý nhà nước về khoa học và công nghệ 30 2.1.3. Cơ quan chuyên môn giúp UBND quản lý nhà nước khoa học và công nghệ 31 ở địa phư 2.2. Chính sách phát triển khoa học và công nghệ 31 2.2.1. Các yêu cầu quản lý hoạt động khoa học và công nghệ 31 2.2.2. Những vấn đề cơ bản của cơ chế quản lý hoạt động khoa học và công nghệ trong giai đoạn hiện nay 33 2.3. Xây dựng quy trình tiến hành hoạt động khoa học và công nghệ 35 2.3.1. Các văn bản quy chế quản lý hoạt động khoa học và công nghệ 35 2.3.2. Xây dựng, lựa chọn và xét duyệt nhiệm vụ khoa học và công nghệ 36 2.3.3. 2.3.4. 2.3.5. 2.4. 2.4.1. Tổ chức chỉ đạo thực hiện nhiệm vụ khoa học và công nghệ Nghiệm thu kết quả nhiệm vụ khoa học và công nghệ Công bố và ứng dụng kết quả khoa học và công nghệ Hoạt động thanh tra, kiểm tra hoạt động khoa học và công nghệ Thanh tra, kiểm tra đối với hoạt động nghiên cứu khoa học và công nghệ 39 42 44 47 48 2.4.2. Thanh tra, kiểm tra tài chính- kế toán đối với hoạt động khoa học và công nghệ 48 2.5. Đánh giá thực trạng quản lý hoạt động khoa học và công nghệ 50 2.5.1. Về bộ máy quản lý hoạt động khoa học và công nghệ 50 2.5.2. Những hạn chế về cơ chế, chính sách hiện hành 55 2.5.3. Những hạn chế trong công tác quản lý hoạt động khoa học và công nghệ 58 Chương 3 Phương hướng giải pháp nhằm đẩy mạnh quản lý nhà nước về hoạt động khoa học và công nghệ trong giai đoạn hiện nay 3.1. Nhu cầu tăng cường quản lý hoạt động khoa học và công nghệ trong điều kiện công nghiệp hoá, hiện đại hoá 3.1.1. Những vấn đề cơ bản đối với công nghiệp hoá, hiện đại hoá 3.1.2. Hoạt động khoa học và công nghệ đặt ra đối với công tác quản lý trong thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá 3.2. Phương hướng giải pháp tăng cường quản lý hoạt động khoa học và công nghệ 3.2.1. Giải pháp hoàn thiện bộ máy quản lý nhà nước về khoa häc vµ c«ng nghÖ 3.2.2. Đổi mới với công tác qui hoạch, kế hoạch về khoa học và công nghệ 3.2.3. Đổi mới quy trình thực hiện đối với hoạt động nghiên cứu triển khai 3.2.4. Đổi mới cơ chế, chính sách đối với hoạt động nghiên cứu - triển khai 3.2.5. Mở rộng hợp tác quốc tế 3.2.6. Đổi mới công tác thanh tra, kiểm tra đối với hoạt động khoa học và công nghệ KẾT LUẬN DANH SÁCH TÀI LIỆU THAM KHẢO 62 62 65 66 66 70 72 73 75 75 PHẦN MỞ ĐẦU 1. Lý do chọn đề tài Lý luận quản lý nhà nước về khoa học và công nghệ có cơ sở học thuật dựa trên những kết quả nghiên cứu về quy luật vận động của hoạt động khoa học và công nghệ. Nhờ những hiểu biết ngày càng phong phú hơn về các quy luật vận động đó mà người ta có những chính sách tương ứng hợp quy luật, giảm bớt những việc làm duy ý chí không phù hợp với quy luật, để mục đích cuối cùng là nâng cao hiệu quả của toàn bộ nhân, tài, vật lực đầu tư cho khoa học và công nghệ. Việc nghiên cứu những xu thế, hiện tượng trong các hoạt động khoa học và công nghệ từ lâu đã thu hút chú ý của bản thân các nhà khoa học và các chính trị gia. Tự nhận thức về hoạt động khoa học như một hiện tượng cần nghiên cứu đã làm nẩy sinh sự tranh luận về một bộ môn mới của khoa học. Đặc biệt phải kể đến sự ra đời của những phương pháp lượng hóa hoạt động nghiên cứu, điều mà làm cho nghiên cứu có căn cứ khoa học đầy đủ của nó. Chẳng hạn, Science Citation Index, các công cụ thông tin thư mục, hệ thống thống kê khoa học của UNESCO và các quốc gia trên thế giới là những công cụ không thể thiếu của những nghiên cứu khoa học luận nghiêm túc. Qua hàng loạt nghiên cứu như vậy người ta hiểu rõ hơn về đặc thù của nghề nghiệp khoa học, thái độ của các Chính phủ đối với khoa học, làm phong phú thêm kho tàng tri thức của xã hội về hoạt động khoa học, giúp cho các chuyên gia hoạch định chính sách khoa học và công nghệ, các chính trị vơí những cơ sở có ích để đề ra quyết định quản lý một cách phù hợp. Chẳng hạn, những quy luật nội tại của hoạt động khoa học như tính kế thừa, sự thâm nhập lẫn nhau giữa phương pháp của các bộ môn khoa học, mối quan hệ giữa lý thuyết và thực nghiệm, quy luật hình thành các cuộc cách mạng trong khoa học giữa tích tụ và nhảy vọt-đột biến và vô số các quy luật riêng trong giao tiếp của cộng đồng khoa học, quan hệ tác động qua lại lẫn nhau giữa khoa học và sản xuất vật chất, giữa khoa học và kỹ thuật, v..v đều cần phải được tính đến trong quá trình ra các quyết định về tổ chức và quản lý hệ thống các cơ quan khoa học, các chính sách của chính phủ đối với khoa học và công nghệ. Khoa học và công nghệ là nền tảng và động lực đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá và phát triển bền vững đất nước. Đảng và Nhà nước ta đã sớm xác định vai trò then chốt của cách mạng khoa học và kỹ thuật. Trong thời gian qua, đặc biệt là trong thời kỳ đổi mới, nhiều văn bản quan trọng về định hướng chiến lược và cơ chế, chính sách phát triển khoa học và công nghệ đã được ban hành: Nghị quyết Hội nghị Trung ương 2 khoá VIII (1996); Kết luận Hội nghị trung ương 6 Khoá IX (2002); Luật khoa học và công nghệ (2000); Chiến lược phát triển khoa học và công nghệ Việt Nam đến năm 2010 (2003) và nhiều chính sách cụ thể khác về xây dựng tiềm lực và đổi mới cơ chế quản lý nhà nước về khoa học và công nghệ. Qua nghiên cứu và quan sát, tác giả thấy để đưa các chủ trương chính sách của Đảng, các quy định của Nhà nước vào thực tiễn cuộc sống thúc đẩy nền kinh tế phát triển theo cơ chế thị trường có sự điều tiết của Nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Đồng thời nhằm nâng cao vai trò, hiệu quả của quản lý nhà nước về khoa học và công nghệ. Chính điều này khiến tác giả quyết định lựa chọn đề tài “Quản lý nhà nước về hoạt động khoa học và công nghệ trong thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá” để làm luận văn thạc sĩ của mình. 2. Tình hình nghiên cứu Hiện nay có rất nhiều đề tài đã nghiên cứu về cơ chế, chính sách, quản lý nhà nước về khoa học và công nghệ, nhưng nhìn chung các đề tài đã tập chung nghiên cứu sâu từng lĩnh vực cụ thể của hoạt động quản lý nhà nước về khoa học và công nghệ như: Nghiên cứu chính sách khoa học và công nghệ của Việt Nam phục vụ hội nhập kinh tế quốc tế và khu vực (đề tài cấp Bộ 2003 do TS. Nguyễn Danh Sơn làm chủ nhiệm đề tài); Nghiên cứu hoàn thiện chức năng, nhiệm vụ quản lý khoa học và công nghệ của các Bộ trong tiến trình cải cách hành chính (đề tài cấp bộ 2002 do TS. Ngô Tất Thắng làm chủ nhiệm đề tài); Nghiên cứu quá trình tổ chức hoạt động khoa học và công nghệ của các Viện nghiên cứu – triển khai thuộc Trung tâm Khoa học Tự nhiên và Công nghệ Quốc gia (đề tài cấp Bộ 2000 doTS Nguyễn Thanh Thịnh làm chủ nhiệm đề tài). 50 năm khoa học và công nghệ Việt Nam 1945-1995, NXB Khoa học và Kỹ thuật, Hà Nội 1995; GS, Viện sĩ Đặng Hữu (chủ biên) Khoa học và Công nghệ với sự phát triển kinh tế – xã hội, NXB Sự thật, 1989; Nghiên cứu khoa học phương pháp luận và thực tiễn, NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 1999; GS Vũ Cao Đàm (chủ biên) Phương pháp luận nghiên cứu khoa học, NXB Khoa học và Kỹ thuật, Hà Nội, 2000. Dưới góc độ nguồn nhân lực khoa học và công nghệ đã có một số công trình nghiên cứu liên quan đến vấn đề quản lý nhà nước đối với nguồn nhân 2 lực hoạt động khoa học và công nghệ Chính sách phát triển nguồn nhân lực khoa học và công nghệ trong hệ thống y tế ngành công nghiệp (Luận văn thạc sĩ 2004 của tác giả Ninh Văn Thức); Luận cứ khoa học cho việc đổi mới một số chính sách sử dụng nguồn nhân lực khoa học và công nghệ trong cơ quan nghiên cứu - triển khai (đề tài cấp bộ 1999 do Ths Trần Trí Đức làm chủ nhiệm đề tài); TS. Hoàng Xuân Long: Đặc điểm quản lý nhân lực khoa học trong tổ chức nghiên cứu và phát triển nhà nước, tạp trí hoạt động khoa học và công nghệ số 05/2000. Ths. Trần Quốc Tuấn: Chính sách thu hút nhân lực khoa học và công nghệ phục vụ phát triển kinh tế xã hội trên địa bàn tỉnh (tỉnh Hưng Yên) Tạp trí khoa động khoa học và công nghệ số 6/2004. Nghiên cứu những cơ sở khoa học để thực hiện chế độ hợp đồng làm việc đối với cán bộ nghiên cứu khoa học (Luận văn thạc sĩ -2004 của tác giả Trần Văn Tùng) Khai thác dưới góc độ tài chính cho hoạt động khoa học và công nghệ có một số công trình nghiên: Nghiên cứu cơ sở lý luận và thực tiễn cho việc xác định mức thù lao lao động khoa học trong nhiệm vụ khoa học công nghệ của nhà nước (đề tài cấp Bộ 2004 do TS Nguyễn Thị Anh Thu là chủ nhiệm đề tài); Các giải pháp hoàn thiện việc phân bổ và quản lý ngân sách nhà nước cho hoạt động nghiên cứu và phát triển (Luận văn thạc sĩ-2004 của tác giả Nguyễn Đức Thọ). Các tài liệu tham khảo nước ngoài nghiên cứu các vấn đề liên quan đến quản lý nhà nước về hoạt động khoa học và công nghệ gồm có Hưng thịnh và suy vong của các cường quốc của tác giả Paul Kenedy, NXB Thông tin lý luận, 1992; Những nguồn lực tác giả E.F Schumacher, NXB Lao động, 1994; Những vấn chủ yếu về khoa học và công nghệ Hàn Quốc, tủ sách Ban công nghệ cao Hoà Lạc, Bộ KH&CN Hà Nội, 1997. 3. Mục đích và phạm vi nghiên cứu Mục đích nghiên cứu của luận văn là nghiên cứu những vấn đề lý luận và thực tiễn của hoạt động quản lý nhà nước về hoạt động khoa học và công nghệ với cách tiếp cận ở các lĩnh vực khác nhau liên quan đến hoạt động khoa học và công nghệ nhưng chủ yếu dưới góc độ pháp lý nhằm tăng cường hiệu quả quản lý nhà nước về hoạt động khoa học và công nghệ. Phạm vi nghiên cứu của đề tài chỉ nghiên cứu giới hạn trong phạm vi quản lý nhà nước về hoạt động khoa học và công nghệ. Để đạt được những mục tiêu nêu trên, tác giả cần phải làm rõ được 3 những vấn đề sau: - Đưa ra được những cơ sở lý luận của hoạt động khoa học và công nghệ. - Nghiên cứu, xác định được những đặc trưng cơ bản của hoạt động quản lý nhà nước về khoa học và công nghệ. - Đánh giá thực trạng quản lý nhà nước về hoạt động khoa học và công nghệ. - Một số giải pháp nhằm hoàn thiện quản lý nhà nước về hoạt động khoa học và công nghệ. 4. Phƣơng pháp nghiên cứu của đề tài Đề tài luận văn được tác giả nghiên cứu với cách tiếp cận ở các lĩnh vực khác nhau của hoạt động quản lý khoa học và công nghệ dựa trên cơ sở phương pháp luận chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, chủ trương chính sách của Đảng, các quy định của nhà nước. Ngoài ra tác giả còn sử các phương pháp khác như: nghiên cứu tổng hợp, phân tích, so sánh, quy nạp, diễn dịch một số lĩnh vực của hoạt động quản lý nhà nước về khoa học và công nghệ. 5. Kết cấu của luận văn Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo. Luận văn gồm có 3 chương: Chương 1. Những vấn đề cơ bản quản lý nhà nước về hoạt động khoa học và công nghệ. Chương 2. Thực trạng quản lý nhà nước về hoạt động khoa học và công nghệ. Chương 3. Phương hướng giải pháp nhằm đẩy mạnh quản lý nhà nước về hoạt động khoa học và công nghệ trong giai đoạn hiện nay. 4 Chƣơng 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN QUẢN LÝ NHÀ NƢỚC VỀ HOẠT ĐỘNG KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ 1.1. KHÁI NIỆM QUẢN LÝ NHÀ NƢỚC ĐỐI VỚI HOẠT ĐỘNG KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ 1.1.1. Khái niệm về quản lý nhà nƣớc về khoa học và công nghệ Kể từ khi con người có nhu cầu lao động và sinh hoạt theo nhóm nhằm thực hiện những mục tiêu mà con người không thể đạt được với tư cách là cá nhân, riêng lẻ, thì quản lý đã là một yếu tố cần thiết để đảm bảo phối hợp với những nỗ lực cá nhân. Ngày nay quản lý hiện diện trong tất cả các lĩnh vực hoạt động và hơn thế nữa là nhân tố cần thiết tất yếu để duy trì sự tồn tại và phát triển của các loại hình tổ chức của con người với mọi quy mô và phạm vi khác nhau. Trên thực tế có rất nhiều cách tiếp cận khác nhau để giải thích về khái niệm, về bản chất, về lý luận và về các kỹ thuật làm cơ sở cho sự thực hành quản lý: theo Học thuyết quản lý theo khoa học (Frederisk Winslow Talor, 1856-1915), quản lý là biết được chính xác điều bạn muốn người khác làm, và sau đó hiểu được rằng họ đã hoàn thành công việc một cách tốt nhất và rẻ nhất; Thuyết Quản lý hành chính (Henry Fayol, 1841-1925), quản lý hành chính là sự dự đoán và lập kế hoạch, tổ chức điều khiển, phối hợp với kiểm tra; Thuyết quản lý tổ chức (Chester Irwing Barnard, 1886-1961), quản lý bao giờ cũng cũng là việc quản lý một hệ thống tổ chức nhất định, nó có tính hệ thống và mục đích của nó là làm tăng sức mạnh hệ thống của một tổ chức. Và như vậy để có thể trả lời được câu hỏi quản lý là gì? từ các điểm chung nhất của các cách tìm hiểu khác nhau về quản lý như đã nêu ở trên, có thể hiểu quản lý như sau: Quản lý là sự tác động của chủ thể quản lý lên đối tượng quản lý nhằm đạt được mục tiêu đặt ra trong điều kiện biến động của môi trường (xem hình 1.1). 5 Chủ thể quản lý Mục tiêu Môi trƣờng Đối tƣợng quản lý Hình 1.1. Sơ đồ lôgíc của khái niệm quản lý Với cách hiểu như trên, quản lý bao gồm các yếu tố (điều kiện) sau: - Phải hướng tới một mục tiêu; - Thông qua con người; - Với kỹ thuật, công nghệ; - Hoạt động bên trong của một tổ chức. Các dạng quản lý Có nhiều dạng quản lý khác nhau tuỳ thuộc theo cách tiếp cận. Từ góc độ của hành động, góc độ quy trình công nghệ của tác động quản lý hành chính là sự điều khiển của con người lên các đối tượng. Theo cách tiếp cận này, quản lý được phân thành ba dạng chính, tuỳ vào đối tượng quản lý như sau: - Đối tượng quản lý là các vật vô tri vô giác (nhà xưởng, hầm lò, thiết bị máy móc..) và con người điều khiển chúng thực hiện theo ý chí của con người điều khiển. Dạng quản lý này được gọi là quản lý giới vô sinh hay quản lý kỹ thuật. - Đối tượng quản lý là các vật hữu sinh (cây trồng, vật nuôi..) và con người điều khiển chúng để bắt chúng phát triển và thực hiện theo ý chí của người điều khiển. Dạng quản lý này gọi là quản lý giới sinh vật. - Đối tượng quản lý là con người (bao gồm tổ chức, đoàn thể, xã hội và trong các lĩnh vực kinh tế, văn hoá, khoa học và công nghệ…). Đây là dạng quản lý xã hội con người. Đối với dạng quản lý này, nếu xét từ góc độ của chủ thể quản lý (nhà nước, chủ doanh nghiệp..), chúng ta sẽ có các dạng khác, cụ thể hơn của quản lý xã hội con người. Đó là quản lý nhà nước và quản lý doanh nghiệp.. Quá trình quản lý 6 Quản lý là quá trình thực hiện những hoạt động (chức năng riêng biệt nhưng có quan hệ mật thiết với nhau và theo một trình tự nhất định, hướng tới việc phối hợp các nguồn lực (nhân lực, vật lực, tài lực, thông tin) để đạt được mục tiêu với hiệu quả cao nhất (xem hình 1.2), đó là các hoạt động 1) Lập kế hoạch (phải làm gì); 2) Tổ chức (ai làm và làm cách nào); 3) Điều khiển (gây ảnh hưởng lên cách làm) và 4) Kiểm tra (bảo dảm kế hoạch được thực thi). Tuy nhiên, trong thực tế các chức năng quản lý nói trên cũng không được thực hiện một cách riêng biệt và theo một trình tự như vậy. Bởi lẽ tại mọi thời điểm, người quản lý bao giờ cũng thực hiện nhiều hoạt động và hơn thế nữa, một biến cố phát sinh trong quá trình thực hiện cũng có thể làm thay đổi cách thức phối hợp giữa các chức năng này. Những việc khởi đầu Những việc trù bị LẬP KẾ HOẠCH (phải làm gì) TỔ CHỨC PHỐI HỢP (ai làm? làm cách nào?) Những việc thực hiện ĐIỀU KHIỂN KIỂM TRA (gây ảnh hưởng lên cách làm, và bảo đảm thực thi) Những việc định lƣợng Lƣợng giá (khâu hoạch định) trù bị (khâu kiểm định) Hình 1.2. Sơ đồ quá trình quản lý Luật Khoa học và công nghệ được Quốc hội thông qua ngày 09/06/2000 thì khoa học và công nghệ; hoạt động khoa học và công nghệ được hiểu như sau: Khoa học là hệ thống tri thức về các hiện tượng, sự vật, quy luật của tự nhiên, xã hội và tư duy. Công nghệ là tập hợp các phương pháp, quy trình, kỹ năng, bí quyết, công cụ, phương tiện dùng để biến đổi các nguồn lực thành sản phẩm Hoạt động khoa học và công nghệ bao gồm nghiên cứu khoa 7 học, nghiên cứu và phát triển công nghệ, dịch vụ khoa học và công nghệ, hoạt động phát huy sáng kiến, cải tiến kỹ thuật, hợp lý hoá sản xuất và các hoạt động khác nhằm phát triển khoa học và công nghệ. Nghiên cứu khoa học là hoạt động phát hiện, tìm hiểu các hiện tượng, sự vật, quy luật của tự nhiên, xã hội và tư duy; sáng tạo các giải phát nhằm ứng dụng và thực tiễn. Nghiên cứu khoa học bao gồm nghiên cứu cơ bản, nghiên cứu ứng dụng. Như vậy, quản lý khoa học và công nghệ mà chúng ta đề cập ở đây là quản lý công tác khoa học và công nghệ, nó bao gồm một nội dung rộng lớn và đa dạng hơn nhiều so với quản lý nghiên cứu khoa học với nghĩa hẹp. Quản lý nghiên cứu, hay trong thực tế hay gọi là nghiên cứu-phát triển, là quản lý đối với công tác nghiên cứu khoa học và những hoạt động triển khai kỹ thuật, chỉ là một khâu trong dây chuyền sản xuất, nâng cao, truyền bá và ứng dụng kiến thức khoa học và công nghệ trong xã hội vừa nêu trên mà thôi. Nghiên cứu-triển khai mặc dù là bộ phận quan trọng, nhưng không phải là tất cả hoạt động khoa học và công nghệ. Hoạt động khoa học và công nghệ nước ta được xác lập về mặt pháp lý tại Luật Khoa học và công nghệ (năm 2000). Quản lý hoạt động khoa học và công nghệ, là một hoạt động bao trùm, có tính chất vĩ mô, bao gồm những động tác như hoạch định chiến lược phát triển khoa học và công nghệ, kế hoạch và qui hoạch dài hạn, xây dựng chính sách, thể chế cho hoạt động khoa học và công nghệ, ban hành các văn bản quy phạm pháp luật khoa học và công nghệ, sắp xếp tổ chức mạng lưới các cơ quan khoa học, thực hiện các chương trình nghiên cứu khoa học, quản lý và áp dụng rộng rãi các thành quả thu được, chuyển giao công nghệ, cùng những hoạt động về quản lý kinh phí, quản lý nguồn nhân lực khoa học và công nghệ, quản lý vật tư phục vụ nghiên cứu khoa học, thông tin khoa học và công nghệ, hợp tác quốc tế về khoa học và công nghệ, thanh tra khoa học và công nghệ và nhiều nội dung khác nữa. Luật Khoa học và công nghệ nước ta ban hành tháng 6-2000 và có hiệu lực từ 1-1-2001, có dành cả một chương (Chương VI) quy định những nội dung của quản lý nhà nước về khoa học và công nghệ. Theo nghĩa đó, quản lý nhà nước về hoạt động khoa học và công nghệ hiện đại là sự vận dụng có ý thức bởi chủ thể quản lý, những qui luật và đặc điểm của phát triển tự thân của khoa học và công nghệ và tác động qua lại của 8 khoa học và công nghệ với toàn bộ các hoạt động khác của xã hội. Các quy luật này được khái quát hoá từ các nghiên cứu của một số bộ môn như xã hội học, lý thuyết thông tin, điều khiển học, lý thuyết hệ thống, v.v... . Quản lý hoạt động khoa học và công nghệ suy cho cùng là nhằm thực hiện một cách hữu hiệu nhất mục tiêu phát triển khoa học và công nghệ và các mục tiêu của công cuộc phát triển kinh tế-xã hội. Nói tóm lại, quản lý nhà nước về hoạt động khoa học và công nghệ bao gồm những hoạt động về ra quyết định và việc thực hiện các quyết định trên các mặt chiến lược, chính sách, kế hoạch, tổ chức, chỉ huy, điều hòa, phối hợp, kiểm tra, thanh tra và điều chỉnh đối với công tác khoa học và công nghệ. Các nguyên tắc quản lý nhà nước về khoa học và công nghệ Cũng giống trong quản lý kinh tế, quản lý khoa học và công nghệ có những nguyên tắc chỉ đạo nhất định. Trên cơ sở những nhận thức trên đây, có thể rút ra những nguyên tắc trong quản lý nhà nước về khoa học và công nghệ . Những nguyên tắc này xuất phát từ đặc điểm của đối tượng quản lý là hoạt động khoa học và công nghệ. Mỗi nguyên tắc trên thực tế không vận dụng riêng rẽ mà phối hợp nhuần nhuyễn với các nguyên tắc khác mới có thể phát huy tác dụng trong thực tế. Nguyên tắc về sự thống nhất giữa khoa học và kinh tế Nguyên tắc này có tính bao trùm, người làm quản lý khoa học và công nghệ phải luôn luôn tạo ra điều kiện để gắn các hoạt động khoa học và công nghệ với các hoạt động kinh tế. Sự thống nhất này phải thể hiện trên tất cả các mặt kế hoạch, đầu tư, tổ chức chỉ đạo thực hiện. Điều đặc biệt quan trọng là văn bản quy phạm pháp luật, nó phải được lồng ghép trong các văn bản hành chính, pháp lý chung. Chính sách, pháp luật, kế hoạch, biện pháp, tổ chức, đầu tư đều phải gắn bó với kinh tế nếu không không thể thực hiện được, hoặc thực hiện nhưng ít có tác dụng đối với phát triển kinh tế-xã hội. Nguyên tắc kết hợp với cơ chế tác động của thị trường Nội dung nguyên tắc này là mọi chủ trương, biện pháp quản lý khoa học và công nghệ đề ra phải căn cứ nhu cầu thị trường, bám sát nhu cầu thị trường, chính thị trường tự nó có sức hút các kết quả nghiên cứu một cách mạnh mẽ; mặt khác sự chủ động và sáng tạo từ phái các tập thể khoa học có tác dụng đi trước thúc đẩy, gợi ý, mở đường cho sản xuất kinh doanh. Nhưng nếu sự chủ động này không căn cứu vào thực tế sẽ dẫn đến chủ quan duy ý 9 chí, đưa ra những giải pháp mà thực tế khó chấp nhận, kém hiệu quả. Nguyên tắc kết hợp tập trung với dân chủ Trong bất kỳ nền kinh tế nào sự tập trung nguồn lực, nỗ lực vào một đích là nhân tố quyết định thành công giải quyết vấn đề, dù đó là kinh tế hay khoa học, kỹ thuật. Sự chỉ đạo của Chính phủ hay các cơ quan chính phủ một cách tập trung trong từng thời gian giải quyết dứt điểm từng vấn đề có ý nghĩa rất quyết dịnh, nhất là trong hoàn cảnh nội lực còn mỏng. Trong khi đó, giải quyết các bài toán kỹ thuật, công nghệ thì đòi hỏi sáng tạo, linh hoạt cao độ. Phát huy sáng tạo của mọi thành viên, đa dạng hoá các phương án, biện pháp sẽ tạo điều kiện có được những biện pháp hữu hiệu nhất có thể. Người làm quản lý khoa học và công nghệ cần nắm vững nguyên tắc này. Nguyên tắc phân công, phân cấp Công việc phát triển và ứng dụng khoa học và công nghệ muốn làm có hiệu quả phải có sự phân công, phân cấp rành mạch. Như thế, mỗi cấp tập trung vào một loại việc, trên cơ sở đó phối hợp với nhau phát huy sức mạnh tổng hợp của toàn bộ hệ thống. Trung ương không làm thay công việc của địa phương. Địa phương không dập khuôn máy móc theo cách tổ chức ở trung ương. Nguyên tắc tham gia của cộng đồng Tiến bộ khoa học và công nghệ về bản chất, là một quá trình xã hội. Mỗi thành viên của cộng động dân cư đều có vai trò nhất định trong quá trình đó theo cơ chế hút-đẩy nói trên. Các quyết định trong quản lý nên cho dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra. Hiệu quả sẽ được nâng cao vì cơ chế đó có tác dụng kiểm soát xã hội, phát huy sáng kiến cộng đồng cho các hoạt động khoa học và công nghệ. Nguyên tắc đấu thầu trong nghiên cứu, ứng dụng khoa học và công nghệ là một trong những cơ chế để thực hiện dân chủ trong khoa học. Ai cũng có quyền tham gia, từ đó chọn người giỏi nhất, hiệu quả nhất. Trên tầm vĩ mô, công việc quản lý khoa học và công nghệ không thể khoán trắng cho một bộ, một ngành chịu trách nhiệm, mà phải được các bộ các ngành tham gia, đề xuất, thực hiện. Mỗi đề án phát triển kinh tế, văn hoá, xã hội đều phải quan tâm đến nội dung khoa học trong đó, phải nghiên cứu nếu cần thiết, phải đầu tư cho công tác khoa học để phục vụ lại chính mình. Nguyên tắc xã hội hoá trong quản lý khoa học và công nghệ đang có ý nghĩa thời sự lớn đối với sự phát triển, đầu tư cho khoa học và công nghệ nước ta. 10 Nguyên tắc kế thừa và phát triển, tuần tự kết hợp với nhảy vọt Sự phát triển của công nghệ luôn luôn có tính kế thừa. Chỉ lĩnh hội được thành tựu của thế hệ trước, những nước đi trước ta mới làm ra được kết quả thực sự có ý nghĩa mới, sáng tạo. Sự sáng tạo có kế thừa là sáng tạo gấp đôi, gấp ba cái đáng ra có thể làm được, và do vậy nâng hiệu quả lên gấp bội phần tương ứng. Trong quản lý cần có biện pháp tránh trùng lắp những cái đã được người khác, nước khác nghiên cứu, mà phải kế thừa những cái đó. Trên tầm vĩ mô cũng tương tự, nước ta lấy nhập công nghệ là chính, sở dĩ cũng là để tiết kiệm nguồn lực quá ít ỏi, nhằm vào thích nghi, sáng tạo công nghệ. Chiến lược “làm một số, mua một số” là thể hiện cụ thể của nguyên tắc kế thừa và phát triển trên bình diện hợp tác quốc tế. Chính qua chiến lược này một nước nghèo mới có thể đi tắt, đón đầu, bứt lên đuổi kịp các nước phát triển. 1.1.2. Động lực của khoa học và công nghệ đối với công nghiệp hoá, hiện đại hoá Hiện nay có nhiều ý kiến khác nhau về khái niệm động lực của phát triển. Có người cho rằng động lực của sự phát triển đồng nghĩa với nguồn gốc của sự phát triển, nghĩa là cả hai đều gắn với nguyên nhân gây lên sự vận động và phát triển. Nhưng theo Gs, Ts Lê Hữu Tầng chủ biên (về động lực của sự phát triển kinh tế – xã hội, NXB Khoa học xã hội, Hà Nội, 1997, tr 14) cho rằng, nguồn gốc của sự phát triển là những mâu thuẫn nội tại còn động lực là những nhân tố thực hiện việc giải quyết mâu thuẫn. Xem xét vai trò động lực của khoa học và công nghệ đối với sự phát triển kinh tế – xã hội nói chung và phát triển kinh tế nói riêng, đa số các nhà khoa học đều cho rằng động lực là cái thúc đẩy sự vận động và phát triển. Khoa học và công nghệ, nói cụ thể hơn là hoạt động đem lại thành tựu về khoa học và công nghệ vừa là kết quả của sự phát triển kinh tế – xã hội, văn hoá, vừa là yếu tố thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, chuyển đổi tích cực về mặt xã hội và nâng cao giá trị văn hoá của dân tộc, của vùng và thế giới. Theo tính toán của Solow, giáo sư trường đại học Công nghệ Massachuset, người được giải thưởng Nobel về kinh tế, thì 80% tăng trưởng của các nên kinh tế phương Tây, nhất là Mỹ, là kết quả của đổi mới công nghệ. Bên cạnh đó, Michel Godet, cố vấn khoa học của Bộ Khoa học và Công nghệ của Chính phủ Pháp lại nhấn mạnh vai trò của những biến đổi xã hội trong việc khắc phục hủng hoảng kinh tế. Ông cho rằng không nên quá chạy theo công nghệ mới, mà 11 phải tập trung sức vào việc giải quyết thích nghi các cơ cấu và ứng xử trong một thế giới đang đột biến . Theo quan điểm này thì khoa học xã hội có vai trò rất lớn trong quá trình phát triển kinh tế, ở cấp vĩ mô khoa học xã hội cần phải được ưu tiên hàng đầu để biến đổi các cơ cấu xã hội và các lối ứng xử đã lỗi thời. Tương tự, ở cấp vi mô cũng càn tập trung để hoàn thiện công nghệ tổ chức quản lý và công nghệ tiếp thị theo khái niệm đổi mới của Schumpeter (là học giả người Áo tác giả tác phẩm “chu kỳ kinh doanh”). Kinh nghiệm thành công của các nước phát triển cũng như các nước mới công nghiệp hoá ở Đông á, Ấn Độ và một số nước đang phát triển và đã gặt hái được những thành công nhất định, cho thấy một đất nước đầu tư cho đổi mới nhưng thiếu chính sách hợp lý ở cấp vĩ mô, thiếu một chiến lược phát triển kinh tế xã hội khôn ngoan thì khó gặt hái được những thành công. Khoa học xã hội, một mặt đưa ra chiến lược phát triển kinh tế – xã hội thích hợp, mặt khác góp phần xây dựng, thiết kế các chính sách khả thi nhằm thực hiện chiến lược đã đề ra. Tuy nhiên, lịch sử phát triển của khoa học và công nghệ và tác động có nó đối với sự phát triển kinh tế – xã hội của các nước trên thế giới đã trải qua những thời kỳ ảnh hưởng khác nhau. Xu thế tác động cũng không giống nhau và kết quả cũng như mức độ tác động cũng rất khác nhau ở những giai đoạn lịch sử khác nhau. Lịch sử phát triển khoa học và công nghệ cho thấy, ở thời kỳ đầu nhờ hoạt động thực tiễn, dần dần con người tích luỹ được những kinh nghiệm dẫn đến sự ra đời của khoa học. Điều đó có ý nghĩa sản xuất đi trước công nghệ và công nghệ lại đi trước khoa học. Cùng với sự phát triển của xã hội, vai trò của khoa học ngày càng tăng lên trong xã hội hiện đại, khoa học ngày càng có vai trò với sự phát triển. Theo nhận xét của C. Mác, cùng với sự phát triển của đại công nghiệp, việc sản xuất ra của cải vật chất ngày càng ít phụ thuộc hơn vào thời gian lao động, vào lượng lao động phải bỏ ra, mà trước hết phụ thuộc vào trình độ chung của khoa học và tiến bộ kỹ thuật hay vào sự ứng dụng của khoa học vào sản xuất. Lịch sử phát triển của xã hội loài người đã chứng minh những bước ngoặt cách mạng của khoa học và công nghệ. Sau mỗi bước ngoặt đó, những biến đổi trong tri thức khoa học, trong cách thức sản xuất keo theo những biến động to lớn trong đời sống chính trị, xã hội của loài người, trước hết trong lĩnh vực sản xuất vật chất, rồi kéo theo những thay đổi mạnh mẽ trong các 12 lĩnh vực kinh tế, văn hoá, xã hội. Cuộc cách mạng khoa học lần thứ nhất ở thế kỷ 17 tạo ra hệ quan niệm mới về thế giới vĩ mô, đánh dấu sự hình thành khoa học cổ điển với những phát minh trong lĩnh vực vật lý, cơ học, quang học và hình học giải thích. Những phát minh ở thời kỳ này đã làm cơ sở cho triết học giải thích thế giới bằng tác dụng cơ học chứ không bởi dựa vào nguyên nhân siêu phàm. Sự tiến bộ bước ngoặt tiếp theo của khoa học và kỹ thuật đã đem lại nhiều thành tựu cho công nghiệp. Việc sáng chế ra máy phát điện, động cơ điện, ô tô, máy bay, điện thoại, vô tuyến, đã đưa công nghiệp sang những bước ngoặt mới, một cuộc cách mạng công nghiệp mới. Với những biến đổi bước ngoặt của khoa học và kỹ thuật trong thế kỷ XX, loài người đã tạo ra một cơ sở chắc chắn cho hệ thống công nghệ mới của nền sản xuất vật chất, chuẩn bị tiền đề để biến đổi nền văn minh công nghiệp ống khỏi sang văn minh “hậu công nghiệp”. Một đặc trưng của tiến trình biến đổi cách mạng này là những phát minh khoa học đều trực tiếp dẫn đến hình thành các nguyên lý công nghệ sản xuất mới, làm thay đổi về chất cách thức sản xuất chứ không chỉ về một công cụ kỹ thuật sản xuất như thời kỳ cách mạng công nghiệp trước đây. Quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá không chỉ bảo đảm tăng trưởng kinh tế, nâng cao mức sống vật chất và tinh thần cho người dân, mà còn bảo đảm sự bền vững trong phát triển: bền vững trong tăng trưởng kinh tế, bền vữnng về xã hội. Trong quá trình này, khoa học và công nghệ phải thực sự là yếu tố chủ chốt nhằm tăng giảm lãng phí tài nguyên thiên nhiên, đem lại môi trường trong sạch, bảo đảm công bằng xã hội và nâng cao đời sống nhân dân. Trong thực tế, song song với những cống hiến to lớn cho sản xuất và đời sống, do nhận thức không đầy đủ và áp dụng lệch lạc những thành tựu khoa học và công nghệ, vấn đề gây ô nhiễm và suy thoái môi trường đã gây hậu quả nghiêm trọng cho nhiều nước. Những hậu quả này chỉ có thể khắc phục bằng khoa học và công nghệ. Như vậy, không phải bất kỳ công nghệ nào cũng là tiến bộ công nghệ, Ngày nay đang phổ biến quan điểm là tiến bộ công nghệ phải đi đôi với tiến bộ xã hội. Vì vậy hoạt động khoa học và công nghệ phải khuyến khích nhanh chóng tiếp thu những thành tựu khoa học và công nghệ của thế giới với tư cách vừa là lực lượng sản xuất trực tiếp vừa là giá trị văn hoá để phục phục vụ cho sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá. Đồng thời phải xem xét lại cách tiếp cận để đánh giá các giá trị văn hoá truyền thống, xây dựng các chuẩn mực, bảo vệ và phát huy những giá trị có ý nghĩa quan 13 trọng trong thời đại ngày nay mà thường bị lãng quên và loại bỏ những định kiến, phong tục tập quán đã lỗi thời gây trở ngại cho việc tiếp thu những tinh hoa văn hoá của thời đại. 1.2. ĐẶC ĐIỂM, NỘI DUNG QUẢN LÝ NHÀ NƢỚC VỀ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ 1.2.1. Đặc điểm quản lý nhà nƣớc về khoa học và công nghệ Một trong những chức năng cơ bản của nhà nước là quản lý công việc đất nước thông qua một nền hành chính công. Nhà nước thực hiện những chức năng cơ bản như việc giữ gìn hoà bình, đảm bảo hạ tầng cơ sở pháp luật, các lợi ích công như quyền sở hữu, ổn định kinh tế vĩ mô, bảo vệ môi trường, phòng chống và giảm nhẹ thiên tai, kiểm soát các đại dịch bệnh truyền nhiễm, bảo hiểm xã hội, xoá đói giảm nghèo, phân phối lại phúc lợi xã hội. Nhà nước là người bảo vệ quyền lợi cộng đồng dân tộc trong bối cảnh cạnh tranh toàn cầu, hội nhập kinh tế quốc tế. Mọi lĩnh vực, bất kể tính chất phức tạp đến đâu, nếu có quan hệ đến lợi ích quốc gia, nhà nước đều chủ trương quản lý ở những mức độ khác nhau. Bên cạnh những lĩnh vực như kinh tế, an ninh, quốc phòng, tài nguyên, môi trường, thì khoa học và công nghệ ngày nay đã trở thành nhân tố quyết định vị thế cạnh tranh, sức mạnh của đất nước, và do đó cũng trở thành lĩnh vực nhà nước phải quản lý. Khoa học trở thành lực lượng sản xuất trực tiếp với nghĩa nó quyết định năng suất lao động, chất lượng sản phẩm và dịch vụ, hiệu quả của quản lý xã hội, yếu tố quyết định chất lượng cuộc sống và phát triển bền vững của một dân tộc. Người ta đã quen nói: công nghệ là biến số chiến lược của sự phát triển. Ai nắm trong tay công nghệ, nhất là công nghệ cao, người đó có thể chi phối các đối tác phát triển của mình, có ưu thế tuyệt đối trong quan hệ kinh tế, quân sự, ngoại giao, có cơ sở để theo đuổi một chính sách đối nội, đối ngoại tương ứng. Vì thế, các siêu cường trên thế giới bằng mọi cách duy trì tiềm lực khoa học và công nghệ vượt trội của mình làm thế đàm phán, mặc cả trong quan hệ với các nước khác. Các nước đang phát triển, ở những mức độ khác nhau đều cố vươn tới những trình độ nhất định về khoa học và công nghệ để thoát khỏi lạc hậu và đói nghèo, thoát khỏi ách nô dịch và lệ thuộc một chiều vào bên ngoài. Quá trình toàn cầu hoá đang diễn ra một cách năng động và rất phức tạp, có ảnh hưởng rất lớn đến mục tiêu, cơ cấu, phương châm của các chính sách khoa học và công nghệ quốc gia trong 14 thời đại hiện nay. Điều đó giải thích tại sao khoa học và công nghệ đã trở thành đối tượng của sự can thiệp có ý thức và sự quản lý của các nhà nước hiện đại. Mỗi quốc gia đương đại theo các cách thích hợp đều thiết lập cho mình bộ máy hành chính, có chính sách, phương thức và phương tiện khống chế vĩ mô và cả vi mô các hoạt động trực tiếp và gián tiếp liên quan đên tiềm năng công nghệ, khoa học của quốc gia. Công việc này vượt quá khả năng của các công ty hay những tổ hợp kinh tế-kỹ thuật, cho dù là hùng mạnh đến đâu, và trở thành việc đại sự quốc gia, quốc sách hàng đầu của các chính quyền đương nhiệm. Mặc dù khoa học và ứng dụng khoa học, do tính không chắc chắn của công cuộc tìm tòi, khám phá cái mới, không giống các hoạt động ổn định, lặp đi lặp lại trong sản xuất thông thường, là một hoạt động có nhiều yếu tố rủi ro so với các hoạt động khác của con người, ngày nay thực tế đã chứng minh rằng việc quản lý khoa học và công nghệ là một việc có thể làm được và đang được làm một cách có kết quả. Điều cần lưu ý là quản lý khoa học và công nghệ là một lĩnh vực rất đặc thù, khác nhiều so với quản lý các hoạt động khác trong đời sống. Việc quản lý khoa học và công nghệ đòi hỏi tuân thủ những quy luật riêng của hoạt động khoa học và công nghệ. Các quy luật có tính đặc thù này đã được từng bước nghiên cứu đúc rút và tổng kết thông qua các hoạt động nghiên cứu và thực tiễn ở nhiều quốc gia trên toàn thế giới. 1.2.1.1. Tính đặc thù của lao động khoa học và công nghệ Lao động khoa học và công nghệ là hiện tượng lịch sử xã hội phức tạp, là quá trình lao động xã hội đặc thù. Nó là hoạt động của những người có tri thức chuyên môn đặc biệt, tiến hành thu thập, xử lý, gia công thông tin về các sự vật trong giới tự nhiên hoặc nhân tạo để có được tri thức lý luận, phương pháp tác động, đường lối nhận biết thế giới và cải tạo thế giới. Do đó, lao động khoa học và công nghệ có tính qui luật khách quan và tính đặc thù của nó. Công tác nghiên cứu khoa học là một loại lao động trí óc mang tính sáng tạo, đặc điểm nổi bật của nó là ở tính sáng tạo, đó là linh hồn của công tác nghiên cứu khoa học là điểm cơ bản nhất phân biệt nó với lao động sản xuất bình thường tức lao động sản xuất mang tính lặp đi lặp lại. Quá trình nghiên cứu khoa học là quá trình mà tri thức vận động từ 15 không đến có, từ ít đến nhiều. Ví dụ, nghiên cứu cơ bản là để phát hiện và nhận thức về những qui luật mà trước đó con người chưa hề nhận thức được; nghiên cứu công nghệ là để sáng tạo ra phương pháp công nghệ mà trước đó chưa có nhằm sáng tạo ra những thiết bị hoặc sản phẩm mà trước đó không tồn tại. Nghiên cứu khoa học và sáng tạo có mối liên hệ mật thiết với nhau, quá trình của công tác nghiên cứu khoa học chính là quá trình sáng tạo ra cái mới. Do đó, đánh giá trình độ cao hay thấp của một thành quả nghiên cứu khoa học chủ yếu là xem mức độ yếu tố sáng tạo hàm chứa trong đó: tính sáng tạo càng lớn, trình độ khoa học càng cao và ngược lại. Vì lao động nghiên cứu khoa học là lao động mang tính sáng tạo, tìm kiếm cái chưa biết, do đó cũng có thể thành công mà cũng có thể thất bại, thông thường những nghiên cứu có nhiều thông số, đi sâu vào bản chất như nghiên cứu cơ bản thì độ rủi ro, khả năng thất bại càng lớn. Theo con số công bố của tổ chức UNESCO Liên hợp quốc thì tỷ suất trung bình giữa thành công và thất bại đối với nghiên cứu cơ bản, nghiên cứu ứng dụng, nghiên cứu triển khai và những hoạt động nghiên cứu cải tiến kỹ thuật như được thể hiện trong bảng 1.3. Loại hình hoạt động nghiên cứu Xác suất thành Xác suất không thành công công Nghiên cứu cơ bản thuần tuý 0,20 0,80 Nghiên cứu cơ bản định hướng 0,25 0,75 Nghiên cứu ứng dụng 0,40 0,60 Nghiên cứu triển khai thử nghiệm 0,60 0,40 Cải tiến kỹ thuật nhỏ 0,90 0,10 Bảng 1.3 Bảng thống kê tỷ lệ thành công, thất bại của hoạt động KH&CN Bảng trên đã cho thấy độ rủi ro thất bại của lao động nghiên cứu khoa học là không thể tránh khỏi, hệ số rủi ro của công tác nghiên cứu khoa học gia tăng cùng với sự gia tăng mức độ và tính chất phức tạp của các nghiên cứu khoa học. Đương nhiên, đối với công tác khoa học và công nghệ thất bại cũng là một loại thu hoạch, hay “kết quả âm tính”, nó có thể cảnh tỉnh người sau, điều đó nói lên hướng tư duy nghiên cứu không đi đúng hoặc phương pháp 16 không thoả đáng, hay điều kiện, thiết bị hiện có thậm chí lượng tích luỹ tri thức tương quan không đủ, những cái này là những kinh nghiệm và bài học cho người tiếp tục nghiên cứu về sau. 1.2.1.2. Đặc tính kế thừa của lao động khoa học và công nghệ. Khi làm sáng tỏ quan hệ giữa khoa học hiện đại với khoa học cổ Hy Lạp, Ăng ghen đã từng nói: Bất kể sự phát triển khoa học và công nghệ hiện đại nào cũng đều tìm thấy hình ảnh của nó thu nhỏ trong manh nhà khoa học thời cổ dại Hy Lạp. Nói cách khác, hoạt động nghiên cứu khoa học hiện đại đều không tách khỏi sự kế thừa thành quả lao động khoa học và công nghệ của người đi trước, nó đều được tiến hành trên cơ sở sáng tạo của người khác hoặc người đi trước, những tri thức mới mà họ sáng tạo ra cũng tất nhiên cũng sẽ được người khác hoặc người đời sau kế thừa và phát triển. Lấy giai đoạn khác nhau của hoạt động khoa học và công nghệ làm ví dụ nghiên cứu cơ bản, nghiên cứu ứng dụng và triển khai kỹ thuật, v.v... là một chỉnh thể hữu cơ, vừa khác nhau lại vừa có mối liên hệ thống nhất với nhau. Thông thường cái sau là sự kế thừa của cái trước, đó cũng chính là sự kế thừa của lao động; trong công tác nghiên cứu khoa học sự đan xen, sự xâm nhập vào nhau và sự tổng hợp của các bộ môn về thực chất cũng chính là sự phá bỏ những hạn chế của chuyên ngành chuyên môn, vấn đề học tập và kế thừa thành quả bộ môn khác và người khác cũng chính là biểu hiện tính kế thừa. Sự tích luỹ của lao động khoa học và công nghệ biểu hiện ở chỗ: sự triển khai của bất kỳ hoạt động khoa học nào đều phải qua thời gian dài thai nghén, thu thập và tích luỹ với lượng lớn thông tin có liên quan đến phương pháp và hướng tư duy, v.v... của công việc nghiên cứu ấy, đồng thời với chúng cần tiến hành phân tích, đánh giá, chỉnh lý, gia công một cách toàn diện, mới có thể cung cấp những điều kiện khả thi và cơ sở cho sự xuất hiện nghiên cứu mới. Trong mỗi khâu, mỗi bước nghiên cứu, tính tích luỹ này cũng được biểu hiện đầy đủ từ đầu đến cuối. Đo đạc thử nghiệm lặp đi lặp lại cùng với phân tích so sánh số liệu thực nghiệm là biểu hiện quan trọng của tính tích luỹ. Cho nên, những người làm công tác khoa học và công nghệ, trong lao động khoa học và công nghệ cần cù gian khổ, đều phải chú ý kế thừa, tích luỹ, tiêu hoá và tiếp thu tri thức, mà “dũa đá của người thành ngọc của ta”, chính là con đường dẫn tới thành công của những người lao động khoa học và công nghệ. Những đặc điểm kể trên của lao động khoa học và công nghệ, có liên hệ 17 với nhau, không thể chia cắt, chỉ có nhận thức đầy đủ tính đặc thù này, quản lý khoa học và công nghệ mới có những căn cứ khách quan, đầy đủ. 1.2.1.3. Các công cụ quản lý nhà nước về khoa học và công nghệ Trong quá trình quản lý hoạt động KH&CN cũng như nhiều lĩnh vực quản lý khác, có mấy nhóm công cụ sau đây: Công cụ pháp luật Đây là công cụ quan trọng nhất trong quản lý nhà nước KH&CN. Mọi chủ trương, đường lối chiến lược, định hướng của chính phủ đều được thực hiện thông qua các văn bản quy phạm pháp luật, có giá trị bắt buộc đối với đối tượng cần quản lý. Việc chậm hoặc không được thể chế hoá các chủ trương này là biểu hiện của sự bất cập lớn trong phương pháp quản lý. Phương pháp này quan trọng tới mức đã trở thành chức năng thường xuyên của bộ máy quản lý nhà nước. Các công cụ hành chính Tương tự như công cụ pháp chế, công cụ hành chính trong tay các cơ quan quản lý là quyền hạn đặc biệt chỉ các cơ quan hành chính mới có nhằm điều hành hoạt động. Phương pháp này phát huy tác dụng trực tiếp và nhanh chóng khi thực hiện các quyết định quản lý. Nhưng do tính chất trễ nhịp và tính không thể tách rời của nhiều hoạt động khoa học khỏi các hoạt động kinh tế-xã hội khác nên biện pháp hành chính có giới hạn nhất định. Việc lạm dụng các biện pháp hành chính sẽ gây tác động tiêu cực đến phát triển lâu dài của khoa học nếu không cân nhắc kỹ. Các công cụ kinh tế Biện pháp kinh tế rất có hiệu quả, tác dụng lâu dài, nhưng do tính không tách bạch của KHCN với sản xuất nên khó áp dụng. Ngoại trừ các biện pháp đầu tư tài chính là những biện pháp trực tiếp, thông thường chỉ được vận dụng tổng hợp trong các gói biện pháp của tổ chức sản xuất kinh doanh mà không áp dụng riêng cho KHCN nào đó. Chẳng hạn miễn thuế, trợ giá, cho vay lãi suất ưu đãi thực chất là những biện pháp đầu tư tài chính gián tiếp của chính phủ cho nghiên cứu-triển khai thường nằm trong các “gói” chính sách chung, không thể dành riêng cho một cơ quan, cá nhân nào. 1.2.2. Nội dung quản lý nhà nƣớc về hoạt động khoa học và công nghệ 18
- Xem thêm -