Tài liệu Skkn một số biện pháp giúp trẻ 24 36 tháng học qua chơi và đổi mới hình thức tổ chức hoạt động giáo dục lĩnh vực phát triển ngôn ngữ.

  • Số trang: 24 |
  • Loại file: DOCX |
  • Lượt xem: 86 |
  • Lượt tải: 0
dangvantuan

Tham gia: 02/08/2015

Mô tả:

Một số biện pháp giúp trẻ 24-36 tháng học qua chơi và đổi mới hình thức tổ chức hoạt động giáo dục lĩnh vực phát triển ngôn ngữ. PHẦN THỨ NHẤT: ĐẶT VẤN ĐỀ 1. Lý do chọn đề tài: 1.1. Cơ sở lý luận: Bác Hồ dạy: “Tiếng nói là thứ của cải vô cùng lâu đời và vô cùng quý báu của dân tộc, chúng ta phải giữ gìn nó, quý trọng nó”. Ngôn ngữ có vai trò to lớn trong sự hình thành và phát triển nhân cách của trẻ em. Ngôn ngữ là phương tiện giữ gìn bảo tồn, truyền đạt và phát triển những kinh nghiệm lịch sử. Phát triển ngôn ngữ cho trẻ là mục tiêu quan trọng nhất của giáo dục mầm non.Trong những năm gần đây bậc học mầm non đang tiến hành đối mới chương trình giáo dục mầm non trong đó đặc biệt coi trọng việc tổ chức các hoạt động phù hợp sự phát triển của từng cá nhân trẻ khuyến khích trẻ hoạt động một cách tích cực, hồn nhiên vui tươi, đồng thời tạo điều kiện cho giáo viên phát huy khả năng sáng tạo trong việc lựa chọn và tổ chức các hoạt động chăm sóc giáo dục trẻ linh hoạt,thực hiện phương châm: “Học bằng chơi - Chơi bằng học”. Đáp ứng mục tiêu phát triển của trẻ một cách toàn diện. Như chúng ta đã biết trong cuộc sống hàng ngày của mỗi chúng ta ai cũng phải sử dụng ngôn ngữ để giao tiếp với mọi và để nhận thức thế giới xung quanh. Ngôn ngữ là công cụ giúp trẻ hòa nhập với cộng đồng và trở thành một thành viên của cộng đồng. Trong quá trình giao tiếp, người lớn luôn hướng dẫn, uốn nắn hành vi của trẻ bằng lời nói, nét mặt, nụ cười khiến trẻ có thể nhận ra hành vi của mình đúng hay sai. Bằng con đường đó, đứa trẻ dần dần hình thành được những thói quen tốt và học được những cách ứng xử đúng đắn. Tóm lại, ngôn ngữ có vai trò rất lớn, là phương tiện quan trọng nhất để trẻ lĩnh hội nền văn hóa dân tộc, để trẻ giao lưu với những người xung quanh, để tư duy, tiếp thu khoa học và bồi bổ tâm hồn, hình thành, phát triển nhân cách của trẻ. 1.2. Cơ sở thực tiễn: Trong chương trình giáo dục mầm non lĩnh vực phát triển ngôn ngữ là một nội dung giáo dục quan trọng, có ảnh hưởng rất lớn đến sự phát triển trí tuệ, nhận thức, đạo đức và nhân cách của trẻ nên được nhà trường rất quan tâm, chú trọng. Hiểu được tầm quan trọng của lĩnh vực phát triển ngôn ngữ đến sự phát triển của trẻ, trường tôi đã tổ chức các hoạt động phát triển ngôn ngữ trên từng tiết dạy và trong các hoạt động chung để giúp giáo viên và học sinh có những cách tiếp cận tốt về môn học này. Tuy nhiên ở nhóm lớp nhà trẻ 24- 36 tháng tuổi do tôi phụ trách, trong quá trình giảng dạy tôi nhận thấy mức độ hiểu nghĩa các từ ở trẻ còn rất hạn chế và có nét đặc trưng riêng chưa thể hiện được ngữ điệu sắc thái của lời nói : nói ê a, nói lắp, phát âm ngọng, dùng từ sai, nói không đủ câu, không đủ ý. Khả năng nói, nghe hiểu cũng như kinh nghiệm sống rất ít. Chưa phân biêt được hiện thực và hiện thực được phản ánh trong các bài thơ câu truyện. Khả năng nói, hiểu câu dài và trí nhớ ngôn ngữ còn rất hạn chế nên trẻ chưacó khả năng kể lại nội dung truyện đã được nghe cô kể dù là câu chuyện hay bài thơ ngắn. Chuyên đề : Phát triển ngôn ngữ năm học 2018 - 2019 là chuyên đề trọng tâm của ngành học mầm non huyện Ba Vì và của trường tôi. Nhận thức được điều đó tôi đã suy nghĩ và lựa chọn đề tài: “Một số biện pháp học qua chơi và đổi mới hình thức tổ chức hoạt động giáo dục lĩnh vực phát triển Ngôn ngữ”. II.Xác định mục đích nghiên cứu. Nhằm tìm ra những phương pháp, những biện pháp để có hướng giải quyết tốt để giúp trẻ 24 - 36 tháng phát triển ngôn ngữ . III. Đối tượng nghiên cứu. - “Một số biện pháp giúp trẻ 24 - 36 tháng học qua chơi và đổi mới hình thức tổ chức hoạt động giáo dục lĩnh vực phát triển Ngôn ngữ”. IV. Đối tượng thực nghiệm. - Thực nghiệm trên các cháu lớp nhà trẻ D2 nơi tôi đang giảng dạy. V. Phương pháp nghiên cứu. - Phương pháp nghiên cứu lý luận. Phương pháp trực quan – minh họa. - Phương pháp dùng lời. Phương pháp sử dụng câu hỏi. VI. Phạm vi nghiên cứu và thời gian thực hiện đề tài. * Phạm vi thực hiện: Đề tài của tôi được nghiên cứu và áp dụng tại lớp nhà trẻ D2 nơi tôi đang trực tiếp giảng dạy. * Thời gian nghiên cứu: Từ tháng 9 - 2018 đến tháng 4 năm 2019. PHẦN THỨ HAI: GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ I. Cơ sở lý luận để giải quyết vấn đề. “Trẻ lên ba cả nhà học nói ” đó là sự khẳng định về tầm quan trọng của việc phát triển ngôn ngữ. Trong đó phát triển ngôn ngữ cho trẻ là một trong những nhiệm vụ quan trọng của trường mầm non. Để trẻ lĩnh hội được các trí thức của tự nhiên và xã hội. Đồng thời trẻ phải lĩnh hội ngôn ngữ tiếng việt chuẩn xác. Trong sự phát triển ngôn ngữ của trẻ mầm non, lứa tuổi 24 - 36 tháng đang diễn ra quá trình tâm lý phức tạp nhất. Tuy nhiên do mỗi điều kiện và đặc điểm của từng gia đình tại địa phương, đa số trẻ còn hạn chế về khả năng giao tiếp, nên có sự ảnh hưởng đến sự tiếp thu ở các hoạt động khác. Để giúp trẻ có cơ hội phát triển về mọi mặt, một giáo viên phải biết trăn trở và chọn giải pháp tốt nhất cho trẻ được phát triển. Theo các nghiên cứu khoa học về tâm sinh lý trẻ mầm non, những năm đầu đời là những năm quan trọng nhất cho sự phát triển toàn diện của đứa trẻ và ngôn ngữ cũng là một quá trình tâm lý diễn ra rất mạnh mẽ ở trẻ, giữ vai trò quan trọng trong giao tiếp giữa con người với nhau. Ở giai đoạn này trẻ học và nắm được tiếng mẹ đẻ của mình, do vậy mà việc phát triển ngôn ngữ cho trẻ là rất quan trọng, vì nó sẽ ảnh hưởng đến tư duy và quá trình học sau này của trẻ. Nhiệm vụ phát triển ngôn ngữ là nhiệm vụ quan trọng nhất được thực hiện mọi lúc, mọi nơi trong sinh hoạt hàng ngày của trẻ. II. Điều tra thực trạng của vấn đề nghiên cứu. 1.Tình hình thực tế. Năm học 2018 - 2019 tôi được phân công giảng dạy lớp nhà trẻ D2 với số lượng trẻ là 38. Trong đó có 26 trẻ nam và 12 trẻ nữ. Tôi nhận thấy những mặt thuận lợi và khó khăn như sau: a, Thuận lợi Trường mầm non nơi tôi đang công tác thuộc địa bàn tiểu khu 7 có điều kiện kinh tế xã hội còn nhiều khó khăn. Trường tôi luôn nhận được sự quan tâm của các cấp Ủy Đảng, chính quyền địa phương và đặc biệt là sự chỉ đạo sâu sát về chuyên môn của Phòng giáo dục và đào tạo huyện Ba Vì trong các hoạt động của nhà trường. Cấp ủy chi bộ - Ban giám hiệu nhà trường luôn có tinh thần đoàn kết và trách nhiệm cao trong công tác lãnh đạo, chỉ đạo. Quan tâm đến công tác bồi dưỡng đội ngũ giáo viên và nâng cao chất lượng chăm sóc, giáo dục trẻ. Ban giám hiệu mua sắm các đồ dùng trang thiết bị cho các nhóm như: ti vi, máy chiếu, máy in… đặc biệt chú trọng bổ sung, mua sắm đồ dùng đồ chơi phục vụ cho các hoạt động đầy đủ theo thông tư 02 của Bộ giáo dục và đào tạo. để giáo viên có thể tra cứu, tìm hiểu các thông tin để phục vụ cho công việc giảng dạy của mình. Phụ huynh học sinh, nhiệt tình, đưa và đón con đúng giờ, đóng góp đầy đủ theo quy định. b. Khó khăn Bên cạnh những thuận lợi trên thì còn không ít những khó khăn vướng mắc như sau: Mức độ hiểu nghĩa các từ ở trẻ còn rất hạn chế và có nét đặc trưng riêng chưa thể hiện được ngữ điệu sắc thái của lời nói, nói ê a, nói lắp, phát âm ngọng, dùng từ sai, nói không đủ câu, không đủ ý . Khả năng nói, nghe hiểu cũng như kinh nghiệm sống rất ít. Chưa phân biêt được hiện thực và hiện thực được phản ánh trong các bài thơ câu truyện. Khả năng nói, hiểu câu dài và trí nhớ nngôn ngữ còn rất hạn chế nên trẻ chưa có khả năng kể lại nội dung truyện đã được nghe cô kể dù là câu chuyện hay bài thơ ngắn. Nhiều giáo viên chưa thực sự nghiên cứu sâu để hiểu rõ Chương trình GDMN, mục tiêu, kết quả mong đợi của từng độ tuổi, để lựa chọn nội dung, hoạt động và đổi mới hình thức tổ chức hoạt theo hướng trải nghiệm, học mà chơi. Giáo viên thường trú trọng đặt mục tiêu phát triển ngôn ngữ chủ yếu qua hoạt động làm quen văn học, hoạt động nhận biết, chưa nhận thức được tầm quan trọng của việc phát triển ngôn ngữ cho trẻ trong cuộc sống hàng ngày, ở mọi hoạt động. Sĩ số trẻ đông phần nào hạn chế giáo viên quan tâm đến cá nhân trẻ, sửa câu từ, ngữ điệu, sửa ngọng, phát triển lời nói, giao lưu cảm xúc trong các hoàn cảnh ngữ cảnh, tình huống thực tế. Trong tổ chức các hoạt động các hoạt động học, giáo viên chưa tư duy đổi mới khuyến khích trẻ động não, còn dập khuôn nhiều câu hỏi, chủ yếu giảng giải, trẻ thụ động làm theo cô, phần lớn thời gian học ngồi trong lớp và theo hình chữ U hoặc giáo viên còn miễn cưỡng tích hợp nội dung theo chủ đề. Một số phụ huynh còn chưa nắm rõ được tầm quan trọng của việc phát triển ngôn ngữ cho trẻ, chưa quan tâm cùng với cô giáo để củng cố và tích lũy, mở rộng thêm vốn từ cho trẻ . Qua nghiên cứu tài liệu và thực tế tôi thấy việc tổ chức hoạt động giáo dục lĩnh vực phát triển ngôn ngữ trong chương trình giáo dục mầm non là rất cần thiết. Tôi luôn mong muốn sẽ tìm ra những biện pháp hay để cho trẻ phát triển ngôn ngữ không chỉ ở các hoạt động thuộc lĩnh vực phát triển ngôn ngữ mà ở mọi lúc, trong tất cả các hoạt động nhằm giúp trẻ phát triển ngôn ngữ tốt nhất, giúp trẻ mạnh dạn hơn, tự tin hơn và giao tiếp tốt hơn. Tôi đã tiến hành khảo sát thực tế hoạt động giáo dục lĩnh vực phát triển ngôn ngữ của trẻ lớp mình ở mọi lúc mọi nơi và rút ra được kết quả khảo sát trên trẻ qua bảng sau: * Khảo sát thực tế trước khi thực hiện đề tài: Bước vào đầu năm học tôi đã tiến hành khảo sát 38 trẻ và việc chuẩn bị của giáo viên cụ thể như sau: Bảng 1: Kết quả khảo sát Kết quả STT Nội dung Số lượng Tỷ lệ % 1 Số trẻ nói chưa rõ câu Số trẻ nói rõ câu 25/38 13/38 66 % 34% 2 Khả năng phát âm Tốt Khá Trung bình Yếu 8/38 9/38 15/38 6/38 21% 24 % 39% 16% Khả năng dùng từ Tốt Khá Trung bình Yếu 8/38 10/38 14/38 6/38 21% 26% 37% 16% 3 Qua kết quả khảo sát mức độ phát triển ngôn ngữ của trẻ lớp cho thấy một số trẻ nói rõ câu đạt tỉ lệ 34% còn lại đa số trẻ nói rõ nhưng còn dùng từ sai, còn chậm, nói ngọng nói lắp, nói chưa rõ. Trẻ còn rụt rè, nhút nhát ít chan hòa với tập thể, còn quấy khóc, trẻ thiệt thòi do hoàn cảnh gia đình như bố hoặc mẹ mất sớm, bố hoặc mẹ không ở cùng trẻ. Gia đình ít quan tâm, chưa gần gũi trẻ. Khi trẻ giao tiếp với người thân không dùng lời nói, mà chỉ vào đồ vật. Ngôn ngữ của trẻ chủ yếu lỗi về ngữ pháp, lỗi về phát âm, hay ngọng chữ t,x, s, kh,....dấu ngữ, dấu sắc, dấu hỏi dấu nặng. Trẻ chưa mạnh dạn tự tin chưa nhớ hết trật tự các âm khi trẻ nói toàn bỏ bớt âm trong từ, giao tiếp không đủ câu nên nhiều khi tôi không hiểu trẻ nói về cái gì? Có một số trẻ hạn chế khi nói, trẻ chỉ biết chỉ tay vào những thứ mình cần, mình thích. Là một giáo viên trực tiếp chăm sóc giáo dục trẻ, tôi biết ngôn ngữ của trẻ lớp mình đạt mức độ nào và hiểu được trách nhiệm của mình ngoài chăm sóc giáo dục trẻ còn phải có biện pháp tích cực phát triển ngôn ngữ giúp trẻ phát triển toàn diện. III. NHỮNG BIỆN PHÁP CHÍNH. 1. Biện pháp 1: Tổ chức các hoạt động giáo dục dựa trên cách học và hứng thú nhận thức của trẻ. Đảm bảo nguyên tắc giáo dục “lấy trẻ làm trung tâm”, mỗi đứa trẻ là một sự khác biệt, chúng khác nhau về mức độ tiếp thu kiến thức và mức độ hình thành kỹ năng, vì vậy không nên ép trẻ làm việc ở cấp độ cao hơn khả năng của trẻ, không nên so sánh trẻ với trẻ khác. Tôi cần hiểu nhu cầu, sở thích, trình độ, khả năng của trẻ trong lớp và cá nhân từng trẻ để xác định mục tiêu, lựa chọn nội dung, hoạt động phù hợp, có ý nghĩa. Trẻ học bằng chơi, học bằng các giác quan, bằng thử nghiệm, thực hành, tương tác, chia sẻ kinh nghiệm, bằng tư duy suy luận. Trẻ thích khám phá những điều mới lạ xung quanh. Vì vậy khi tổ chức các hoạt động giáo dục nói chung, hoạt động lĩnh vực ngôn ngữ nói riêng, tôi đã tạo nhiều cơ hội, khuyến khích trẻ học tự nhiên, tích cực, tự tin và thoải mái khi tham gia vào các trải nghiệm, tạo mọi cơ hội cho trẻ phát triển ngôn ngữ, tôi đã sử dụng các bước sau: - Bước đầu tiên, xác định mục tiêu rõ ràng, mục tiêu xuất phát từ trẻ: + Trẻ cần biết cái gì? ( kiến thức, kỹ năng) + Trẻ cần được học và chơi một cách vui vẻ? + Mục tiêu là quan sát, đánh giá được vào cuối bài học + Các kết quả mong đợi có đạt được không? - Bước quan sát, so sánh và giải thích: Tôi thu hút được sự tập trung chú ý của trẻ bằng việc đưa ra đối tượng sự vật hấp dẫn, lôi cuốn hoặc nêu vấn đề rõ ràng thu hút sự chú ý của trẻ vào hoạt động, chỉ dẫn, hướng dẫn trẻ để mọi trẻ có hứng thú, tích cực, sáng tạo tham gia (bằng lời nói, hình ảnh..). Trẻ em quan sát sự vật, suy nghĩ vấn đề, so sánh và giải thích. Tôi đã yêu cầu trẻ quan sát thật kỹ để nhận biết những điểm giống và khác nhau về các đối tượng sự vật. Thúc đẩy sự hợp tác, trao đổi, chia sẻ. Chấp nhận sự lộn xộn trong quá trình tìm hiểu, trải nghiệm và sáng tạo ra các sản phẩm; Cho phép mắc lỗi, không làm trẻ cảm thấy sợ khi thử trải nghiệm điều gì mới. Khi trẻ thất bại, cần được động viên để thử lại và được khen ngợi cho sự nỗ lực. Tôi là người làm mẫu cho việc sử dụng đúng ngôn ngữ, dành thời gian lắng nghe, trò chuyện, khuyến khích trẻ diễn đạt suy nghĩ và đối thoại với trẻ. Tăng cường tổ chức hoạt động nhóm: Tạo cho trẻ làm việc theo cặp hoặc nhóm lớn, nhóm nhỏ, trẻ có nhiều cơ hội học hỏi lẫn nhau, đàm phán với bạn, học cách lựa chọn, giải quyết vấn đề cùng nhau, hoạt động nhóm giúp tôi quan sát trẻ ở các môi trường khác nhau. Chia nhóm, tạo nhóm nên linh hoạt: Dựa trên sự lựa chọn của trẻ, mong muốn cùng chung nhu cầu hoặc yêu cầu, cùng sở thích, hứng thú; Dựa trên sự lựa chọn của giáo viên mong muốn nhóm trẻ cần hợp tác để giải quyết nhiệm vụ, yêu cầu, tạo thói quen làm việc cho trẻ. Để nhóm trẻ hoạt động hiệu quả,tôi làm việc với mỗi nhóm nhỏ để đảm bảo trẻ có thể thực hiện nhiệm vụ một cách độc lập. Với trẻ nhà trẻ thì bước này vô cùng quan trọng. - Bước giải thích những điểm giống và khác nhau về đối tượng sự vật Đây là bước trẻ sẽ giải thích lý do tại sao lại cho rằng các sự vật đó giống và khác nhau. Trẻ phải suy nghĩ sâu để đưa ra được những lời giải thích về nhận định của bản thân, từ việc đào sâu suy nghĩ đó của trẻ sẽ giúp cho trẻ phát triển ngôn ngữ, nâng cao được năng lực tư duy và suy luận, phát triển năng lực suy nghĩ phản biện thông qua việc trẻ yêu cầu người giải thích phải đưa ra những chứng cứ cho lời giải thích của mình. Tôi phản hồi mang tính hỗ trợ và khuyến khích trẻ tiến bộ: Quan sát để biết được trẻ hiểu được ở mức độ nào - hướng dẫn và hỗ trợ trẻ khi gặp khó khăn trong quá trình thực hiện hoạt động - Luôn mở rộng và tạo thử thách cho trẻ nếu trẻ thấy nhiệm vụ quá dễ - nên phản hồi theo cách không làm trẻ sợ như có thể dùng lời nói nhẹ nhàng, xác định vấn đề của nhiệm vụ mà trẻ thực hiện chứ không nhấn mạnh vào lỗi của trẻ. - Bước lựa chọn giả thuyết ở các tình huống khác và chứng minh Khi tiến hành bước này tôi đã đặt ra các câu hỏi dẫn dắt để đưa trẻ đến với hoạt động . - Bước tổng kết: Tôi cùng trẻ tóm tắt toàn bộ nội dung của quá trình hoạt động: Điều tra – Phát hiện – Thảo luận – Đưa ra kết luận - Bước đánh giá, kết thúc hoạt động: Rất quan trọng, tạo cho trẻ cảm giác hoàn thành nhiệm vụ, tạo hứng thú với các hoạt động tiếp theo. Trẻ cùng tham gia dọn dẹp sau hoạt động, dạy cho trẻ ý thức trách nhiệm, sự quan tâm đối với những đồ chơi, đồ dùng. Trẻ học được các chữ, ký hiệu in, dán trên các giá đựng khi phải cất đồ dùng, đồ chơi đúng chỗ. 2.Biện pháp 2: Phát triển ngôn ngữ học qua chơi. Phát triển ngôn ngữ phải được tiến hành mọi lúc mọi nơi, diễn ra ở các loại hoạt động chung của trẻ. Để sử dụng cho các trò chơi khác nhau gây hứng thú cho trẻ tích cực phát âm giáo viên cần tìm tòi sáng tạo làm thêm nhiều đồ dùng đồ chơi để phục vụ cho trò chơi. Qua các trò chơi trẻ vừa được phát âm trẻ vừa được làm động tác theo nhịp phát âm, theo những suy nghĩ và sự hiểu biết của mình. Để có được một tiết học sôi động nhằm kích thích trẻ thì giáo viên phải có ý tưởng liên kết các hoạt động nhận thức phù hợp, đồng thời đưa ra yêu cầu của bài dạy của trò chơi. Giáo viên có thể tích hợp vàò một số hoạt động để tiết học sôi nổi để cho trẻ được hoạt động một cách thoải mái, vui tươi và tích cực tham gia hoạt động hơn nhưng phải đúng với trọng tâm bài dạy để giúp trẻ có thể khắc sâu kiến thức hơn. Dựa vào đặc điểm tâm sinh lý của lứa tuổi nhà trẻ là hay bắt chước và việc dạy nói cho trẻ phải dựa trên quy luật tổng thể, từ đó hình thành cho trẻ những hiểu biết về sự vật, hiện tượng xung quanh. 2.1. Rèn luyện khả năng nói qua trò chơi cung cấp và làm giàu vốn từ Để trò chơi thực sự là phương tiện cung cấp vốn từ cho trẻ thì nội dung của trò chơi phải được xây dựng trên cơ sở những khái niệm trẻ đã có về các đồ vật, và sự vật của cuộc sống xung quanh mà nhờ đó trẻ có thể gọi tên đồ vật bằng việc quan sát, sờ nắn. Ngoài việc phát triển và làm giàu vốn từ cho trẻ, trẻ còn được rèn luyện khả năng nói qua trò chơi, chẳng hạn để giúp trẻ phát âm các vần khó. VD : Trò chơi “Ai thông minh”, "Chiếc túi bí mật" (Cho trẻ tìm đồ vật). Cách chơi cô chuẩn bị một số đồ chơi cô cho trẻ đoán trong túi của cô có gì, có thể cô cho trẻ sờ, nắn đoán xem đó là cái gì? cho trẻ đoán xong cô lần lượt đưa ra xem đó là cái gì và yêu cầu trẻ phát âm theo đồ dùng đồ chơi đó. Hỏi trẻ : Cháu tìm thấy gì? Những đồ chơi nào ? Mấy cái ?... Khi trẻ không trả lời được thì cô nói đầy đủ, đúng ngữ pháp để trẻ nhắc lại. Trong quá trình trẻ hiểu được câu hỏi, nhắc lại nhiều lần trong câu trả lời giúp trẻ nói đúng ngữ pháp và nói câu đầy đủ. Trong trò chơi này cô giáo không nên chú ý quá đến việc giải thích nghĩa của từ hay cách đặt câu hỏi đúng bởi vì trò chơi chỉ có hiệu quả và sự vui thích khi việc hướng dẫn chỉ ảnh hưởng đến sự củng cố kiến thức chứ không phải cung cấp hay luyện tập các kiến thức mới. Cô giáo có thể can thiệp vào trò chơi bằng cách gợi ý mở rộng làm cho trò chơi hấp dẫn sinh động. Ngoài ra trò chơi dân gian có tác dụng phát triển tiếng nói cho trẻ bằng lời thơ, ca dao đồng dao trẻ cảm nhận được nhịp điệu của lời ca dao, đồng dao như trò chơi VD : Trò chơi : “ Chi chi chành chành ” “ Con sên ”, “ Con muỗi ”, “Ta xi”, “ Vắt nước cam” , “Nhện chăng tơ “ Con cua ”, “ Nu na nu nống ”, “ Con bọ dừa”, “ Dung dăng dung dẻ ”, “ Gieo hạt ”.... Ngắn gọn dễ hiểu và bằng mọi cách tạo nhiều lần chơi sẽ đạt được yêu cầu Hình ảnh: Trẻ chơi trò : "Vắt nước cam" 2.2. Trò chơi trong các hoạt động chung và các hoạt động khác Qua các giờ hoạt động có chủ đích và thông qua hoạt động khác như hoạt động đón, trả trẻ, điểm danh, thể dục, chơi ngoài trời, trước khi ngủ, hoạt động theo ý thích tôi sử dụng các trò chơi dí dỏm phù hợp với kế hoạch tháng. Để cho trẻ hứng thú hơn trong khi chơi trò chơi với những lời đồng dao, tôi còn sưu tầm những lời mới của bài đồng dao đó để gây hứng thú trong khi trẻ chơi trò chơi . Khi thực hiện từng chủ đề nhằm cung cấp những kiến thức mới, và ôn luyện giáo viên phải kết hợp ở nhiều bộ môn: Giáo dục âm nhạc, nhận biết tập nói, làm quen văn học, vận động... Ngoài ra cô cần chú trọng trò chơi ở hoạt động góc vì trong quá trình trẻ chơi trẻ được tham gia với nhiều nội dung khác nhau của các trò chơi ở các góc chơi khác nhau như là góc bế em, hoạt động với đồ vật, góc kể cho bé nghe.... Khi trẻ chơi góc kể chuyện trẻ có thể chơi với những con rối ngón, trẻ có thể luyện phát âm qua trò chơi bắt chước tiếng kêu của con vật. Có thể kể đoạn chuyện theo hình con vật trong câu chuyện cô kể cho trẻ nghe theo sự gợi ý của cô. Khi lựa chọn các trò chơi cần chú ý đến nội dung bài học của những ngày trước hoặc sau để củng cố hoặc cung cấp một số nội dung cho bài học . - Khi trẻ mắc lỗi nhất là lỗi về phát âm hay sử dụng từ chưa đúng với ngữ cảnh không lên áp đặt sửa lỗi sai ngay cho trẻ bằng cách bắt trẻ nhắc đi nhắc lại nhiều lần. Như vậy làm cho trẻ mất đi sự hứng thú và mất đi sự liên tục của trò chơi vừa nên để trẻ tiếp tục chơi trò chơi cho đến hết. Sau khi kết thúc trò chơi cô cho những trẻ mắc lỗi chơi lại trò chơi để trẻ có cơ hội sửa chữa. - Phải chú ý đặc điểm riêng của trẻ, đối với trẻ ít nói cô động viên cho trẻ nói nhiều. Với những trò chơi có lời cô giáo đọc chậm, rõ ràng cho trẻ đọc theo, với những bài dài có thể ngắt khúc cho trẻ đọc. Chú trọng trong các câu trả lời, không để trẻ cứ trả lời tập thể mà phải có sự đan xen tập thể, cá nhân để có sự phối hợp giữa trẻ với trẻ. 3. Biện pháp 3: Đổi mới tổ chức hoạt động giáo dục lĩnh vực phát triển ngôn ngữ. Việc giúp trẻ 24 - 36 tháng phát triển ngôn ngữ thì vai trò của giáo viên trong hoạt động cùng quan trọng do vậy tôi sử dụng ngôn ngữ rõ ràng, mạch lạc, dễ hiểu, phát âm chuẩn: 3.1. Với giáo viên: - Tôi lập kế hoạch, ý tưởng hoạt động, xác định mục đích phát triển ngôn ngữ phù hợp với khả năng, nhu cầu của trẻ. Lựa chọn nội dung, hoạt động nhằm đáp ứng tối đa các mục tiêu phát triển ngôn ngữ theo độ tuổi, cùng trẻ giải quyết vấn đề liên quan đến ngôn ngữ. - Tôi tạo cơ hội trong môi trường vật chất, môi trường xã hội, cho trẻ tiếp xúc và trải nghiệm qua tình huống thực tế để phát triển và rèn luyện kỹ năng ngôn ngữ cho trẻ với nhiều hình thức như: Tiếp cận tác phẩm thơ (truyện), dự đoán, đặt câu hỏi, mô tả sự kiện, nhận biết mở đầu, kết thúc một câu truyện, sắp sếp các dữ kiện theo một trình tự hợp lý… - Tôi chú trọng rèn luyện giọng đọc, kể chuyện, thơ, tìm hiểu kỹ tác phẩm văn học trước khi tổ chức hoạt động. - Bản thân là người quan sát, lắng nghe, chia sẻ, hỗ trợ cho trẻ những vấn đề trẻ gặp khó khăn hoặc khiếm khuyết về ngôn ngữ và tự rèn luyện khắc phục đảm bảo phát âm chuẩn để dạy trẻ. 3.2. Đặt vai trò của trẻ trong hoạt động lên hàng đầu. - Trẻ được nhận biết, trải nghiệm, luyện tập các kiến thức kỹ năng thông qua các hoạt động ở mọi lúc mọi nơi trong chế độ sinh hoạt một ngày như: hoạt động học, hoạt động chơi, hoạt động giao tiếp trong sinh hoạt hàng ngày; bằng nhiều hình thức khác nhau: Nghe, nói, bộc lộ cảm xúc thông qua nét mặt, cử chỉ, điệu bộ… - Trẻ được thỏa sức sáng tạo trong việc sử dụng ngôn ngữ như là phương tiện để bộc lộ những hiểu biết của bản thân về thế giới xung quanh, tái hiện lại các mối quan hệ trong xã hội thông qua các hoạt động: trao đổi, mô phỏng, chơi phân vai. - Những trẻ hạn chế trong phát âm, vốn từ… cần được giáo viên quan tâm rèn luyện, trao đổi với cha mẹ trẻ. 3.3. Xác định mục đích yêu cầu: Khi xác định mục đích yêu cầu tôi đã dựa trên kết quả mong đợi của chương trình và khả năng của trẻ trong lớp mình, khả năng của từng cá nhân trẻ. Ví dụ:KQMĐ “Sử dụng ngôn ngữ để giao tiếp” Lứa tuổi nhà trẻ 24 – 36 tháng. 3.1. Nói được câu đơn, câu có 5 - 7 tiếng, có các từ thông dụng chỉ sự vât,hoạt động,đặc điểm quen thuộc. 3.2.Sử dụng lời nói với các mục đích khác nhau: - Chào hỏi, trò chuyện. - Bày tỏ nhu cầu của bản thân. - Hỏi về các vấn đề quan tâm như: "Con gì đây?, Cái gì đây”. Ví dụ: KQMĐ: 1.2. Trả lời các câu hỏi: Ai đấy?, cái gì đây?, làm gì? Thế nào?. Ví dụ: “Con Gà gáy thế nào?” Lứa tuổi nhà trẻ 24 - 36 tháng * Hoạt động truyện “Đôi bạn” - Kiến thức : Trẻ biết tên câu chuyện, biết các nhân vật trong chuyện, biết nội dung câu chuyện đơn giản. - Kỹ năng: + Trẻ nghe và hiểu nội dung đơn giản của câu chuyện + Trẻ trả lời được một số câu hỏi đơn giản theo nội dung câu chuyện: Ai đây? Đang làm gì? Vịt con kêu thế nào? - Thái độ: Trẻ thích thú tham gia vào hoạt động. Thích thú hưởng ứng mô phỏng hành động đơn giản của nhân vật trong truyện. * Hoạt động nhận biết : Nhận biết quả cam - Kiến thức: Trẻ biết tên gọi, đặc điểm bên ngoài quả cam (tròn, màu xanh - vàng, vỏ sần, vị chua - ngọt) - Kỹ năng: + Trẻ biết sử dụng một số giác quan đề nhận biết quả cam (quan sát, sờ, ngửi, nếm) + Trả lời được một số câu hỏi: Quả gì đây? Màu gì? Vỏ (vị) của quả cam thế nào? - Thái độ: Trẻ hứng thú tham gia vào hoạt động Nội dung, phương pháp hình thức tổ chức hoạt động: * Làm quen với tác phẩm văn học: - Tôi lựa chọn nội dung phù hợp với khả năng, nhu cầu, hứng thú của trẻ, phù hợp với mục tiêu giáo dục ở độ tuổi nhà trẻ. - Lựa chọn tác phẩm cần: + Có nguồn gốc xuất xứ rõ ràng, có bản quyền tác giả. + Nội dung gần gũi với đời sống của trẻ, thể hiện được sự kết hợp các mặt giáo dục: đạo đức, trí tuệ, thẩm mĩ trong đó, ý nghĩa giáo dục đạo đức thẩm mĩ là trung tâm. Ưu tiên tác phẩm giàu tình cảm gia đình (tình cảm bố mẹ - con cái; cháu - ông bà; tình yêu thương động vật…) và tác phẩm có sách, khuyến khích sách tranh chữ to, bìa cứng. + Ngôn ngữ trong sáng, dễ hiểu, mạch lạc 3.4. - Tác phẩm đảm bảo tính vừa sức: + Với truyện: Truyện cho trẻ Nhà trẻ có khoảng 20 - 50 từ (các từ có thể lặp đi lặp lại) với 1 sự kiện . - Một số nguồn tài liệu tham khảo ngoài sách chương trình, hướng dẫn, tuyển tập. Sách của Nhà xuất bản Kim Đồng, Nhà xuất bản Giáo dục, NXB Văn học. 3.5. Phương pháp, hình thức tổ chức: - Tôi lựa chọn phương pháp, hình thức, tiến trình thực hiện các hoat động cho trẻ làm quen tác phẩm văn học phù hợp, tạo hứng thú học tập thông qua chơi cho trẻ độ tuổi nhà trẻ: - Tôi linh hoạt số lần kể chuyện, đọc thơ diễn cảm cho trẻ nghe phụ thuộc vào câu chuyện, bài thơ ngắn hay dài, tình tiết dễ hay khó, vần, nhịp điệu, âm điệu, hứng thú của trẻ. - Khai thác tối đa các giá trị về ngôn ngữ trong tác phẩm văn học (từ mới, từ khó, hình ảnh văn học, tình tiết, diễn biến, mở đầu, kết thúc câu truyện, ngữ điệu thơ…) giúp trẻ đạt được mục tiêu đề ra. Độ hấp dẫn, lôi cuốn trẻ vào bài thơ, câu chuyện, kết hợp sử dụng đồ dùng đơn giản, phù hợp, sáng tạo. Khai thác hiệu quả đồ dùng sẵn có và sản phẩm của trẻ. Hình ảnh: Sử dụng đồ dùng trực quan linh hoạt - Tăng cường cho trẻ mô phỏng lại một số hành động đơn giản, cảm xúc của nhân vật nhằm tạo cảm xúc và hứng thú của trẻ, đặc biệt chú trọng đối với trẻ nhà trẻ, - Tăng cường các hoạt động bổ trợ theo nhóm, sử dụng đa dạng các kỹ năng khác nhau để củng cố, mở rộng hiểu biết, phát huy sáng tạo của trẻ về tác phẩm văn học trẻ vừa được tiếp cận như: Nghe qua băng, làm sách truyện, mô phỏng, đóng vai nhân vật trong truyện, tạo ra các nhân vật, tình tiết trong truyện bằng các cách khác nhau như: Tô, dán các nhân vật……… - Hình thức và địa điểm tổ chức: Có thể dạy cả lớp, chia nhóm nhỏ, đội hình tự do. Tổ chức trong lớp, ngoài trời, góc văn học, thư viện… * Sử dụng một số câu hỏi cho trẻ hiểu tác phẩm truyện: + Câu hỏi về nội dung: Có những ai? Làm gì? Chuyện gì xảy ra? + Câu hỏi về ngữ điệu giọng của các nhân vật phù hợp với hành động và tính cách nhân vật: Nói gì? Nói như thế nào? + Câu hỏi yêu cầu trẻ trả lời sử dụng ngôn ngữ miêu tả: Thế nào? Như thế nào? + Câu hỏi về cảm xúc chung: Thích nhất điều gì? thích nhất nhân vật nào? + Câu hỏi giáo dục: Hỏi thái độ, cách đánh giá của trẻ. Đặt trẻ vào tình huống trong tác phẩm hướng tới việc giáo dục trẻ: trẻ rút ra bài học từ tác phẩm (VD: Khi mẹ ốm, con sẽ làm gì? Ở nhà con làm gì giúp mẹ?) Luôn tăng cường và chú trọng việc đọc sách, đọc truyện cho trẻ nghe. - Lựa chọn sách có chủ đề trẻ hứng thú, cỡ chữ to cùng với hình ảnh minh họa rõ ràng, câu văn đơn giản. - Hướng dẫn thực hiện: + Giới thiệu sách: Trang bìa, trước, sau, tên tác phẩn, tác giả, hình ảnh minh họa trên trang bìa. Hướng dẫn cách đọc sách (cầm sách, giở sách, hướng đọc, phân biệt phần mở đầu, kết thúc của sách, giữ gìn, bảo vệ sách) + Số lần đọc sách, truyện tùy thuộc vào độ dài, ngắn của tác phẩm. Đọc truyện kết hợp biểu cảm của nét mặt, giọng đọc. Chú ý đọc ngắt nghỉ theo dấu chấm, dấu phẩy. + Có thể kết hợp vừa đọc vừa dừng lại đặt câu hỏi để trẻ dự đoán những tình tiết, diễn biến tiếp theo của câu chuyện. * Ví dụ: Chuyện gì đang diễn ra? Chuyện gì sẽ xảy ra? + Mời trẻ tham gia vào các phần lặp đi lặp lại của câu chuyện. Sử dụng một que chỉ để tập trung sự chú ý của trẻ vào văn bản. + Giải thích các từ mới trước hoặc trong khi đọc chuyện. * Kể chuyện: - Kể chuyện theo đồ vật, Kể chuyện theo tranh, Kể chuyện theo kinh nghiệm (theo tình huống), Kể chuyện theo sơ đồ. * Đồng dao, ca dao, tục ngữ: - Lựa chọn các bài đồng dao, ca dao, tục ngữ đơn giản, gần gũi, dể hiểu với trẻ - Lựa chọn các bài đồng dao có gắn liền với trò chơi, tôi dạy và hướng dẫn cách chơi. Dạy trẻ ở mọi lúc, mọi nơi. Không giảng nội dung các bài đồng dao. * Các hoạt động khác: - Ngoài hoạt động làm quen với tác phẩm văn học, tăng cường tổ chức các hoạt động phát triển ngôn ngữ như :( Nhận biết, HĐ âm nhạc, Tạo hình ...) Phương tiện, đồ dùng, học liệu : - Sử dụng vật thật, các vật liệu gần gũi trong cuộc sống của trẻ. Khai thác nguồn CNTT, sách, truyện, tài liệu cho trẻ hoạt động phát triển ngôn ngữ hiệu quả. Cần tạo cơ hội cho trẻ tự lựa chọn, sáng tạo, có ý tưởng sử dụng đồ vật sẵn có trong môi trường lớp và trong cuộc sống của trẻ để thực hành, trải nghiệm. Xây dựng môi trường phát triển ngôn ngữ áp dụng xây dựng môi trường giáo dục lấy trẻ làm trung tâm . 3.6. Khi xây dựng môi trường đảm bảo an toàn về mặt tâm lý cho trẻ và trẻ thường xuyên được giao tiếp, thể hiện mối quan hệ thân thiện giữa trẻ với trẻ và trẻ với những người xung quanh. Môi trường vật chất trong lớp, ngoài lớp đáp ứng nhu cầu, hứng thú chơi của trẻ, tạo điều kiện cho tất cả các trẻ có thể chơi mà học, học bằng chơi, phù hợp với điều kiện thực tế. * Khi chuẩn bị môi trường học tập, tôi phải kiểm soát và loại bỏ các mối nguy hiểm như đồ vật nhọn, sắc, hạt nhỏ… để đảm bảo môi trường an toàn cho trẻ. Tận dụng môi trường, học liệu sẵn có, thế mạnh tại vùng để giúp trẻ học hiệu quả. Sắp xếp các đồ vật trong và ngoài lớp học cần giúp trẻ có hứng thú, tích cực trải nghiệm và sáng tạo. Khuyến khích và tạo cơ hội cho trẻ được tham gia vào việc tạo ra đồ dùng, đồ chơi và trẻ được tham gia vào việc sắp xếp môi trường hoạt động. Hình ảnh: Trang trí góc cho trẻ chơi 3.7. Đánh giá hoạt động và điều chỉnh kế hoạch. - Sau mỗi hoạt động tôi đánh giá trẻ như sau: + Trẻ đã học được gì? Tôi đã thực hiện được những gì? + Cần thay đổi gì với đối với nội dung, hoạt động khác? + Nội dung, hoạt động… đó có tạo hứng thú, cảm xúc gì đối với trẻ? (Nếu không tạo được cảm xúc là không thành công) + Tôi có sử dụng các từ khó và giải thích nghĩa cho trẻ hiểu không? + Tôi có đặt các câu hỏi tình huống, giao nhiệm vụ cho trẻ không? + Trẻ có tham gia tương tác liên tục không? (tương tác với bạn, hỏi cô giáo). Có trả lời được các câu hỏi và biết cách đặt các câu hỏi không? + Có hợp tác với bạn không? + Trẻ có áp dụng các kỹ năng nghe, nói đọc, trong đó không? Thường xuyên điều chỉnh kế hoạch: Nội dung, phương pháp, hình thức tổ chức phù hợp với nhu cầu phát triển ngôn ngữ, khả năng, năng lực của trẻ, vốn kiến thức của giáo viên, điều kiện, phương tiện, học liệu của trường, lớp, sự kiện diễn ra tại thời điểm tổ chức hoạt động… 4. Biện pháp 4: Kết hợp với phụ huynh để đạt kết quả dạy trẻ cao nhất. Để giúp trẻ có được cơ hội rèn luyện khả năng ngôn ngữ một cách liên tục, tôi đã hỗ trợ, trao đổi với phụ huynh về đặc điểm, khả năng ngôn ngữ của trẻ; Cung cấp cho phụ huynh tài liệu, hướng dẫn phụ huynh cách chơi, nói chuyện, cách tạo điều kiện và hỗ trợ con rèn luyện ngôn ngữ. Cùng tham gia vào việc học của con (qua bản tin, buổi đối thoại, các cuộc gặp mặt định kỳ, các hoạt động ngày hội, lễ, chuyên đề…). Các hình thức trao đổi với phụ huynh: Tổ chức họp phụ huynh đầu năm học tuyên truyên tới các bậc phụ huynh tầm quan trọng của hoạt động giáo dục lĩnh vực phát triển ngôn ngữ. Lên chương trình ở bảng tuyên truyền theo từng tháng theo từng sự kiện để phụ huynh biết và phối hợp với giáo viên tác động thêm cho trẻ. Trao đổi với các bậc phụ huynh vào các giờ đón trả trẻ về khả năng phát triển ngôn ngữ. Từ những việc làm cụ thể tôi đã tạo được mối quan tâm đặc biệt của các bậc phụ huynh về hoạt động giáo dục lĩnh vực phát triển ngôn ngữ của trẻ. IV. KẾT QUẢ THỰC HIỆN: Để có được những kết quả trên tôi và các cô giáo rất nỗ lực để giúp được các cháu ngày càng tiến bộ, tôi nhận thấy trẻ mạnh dạn, thoải mái khi tham gia hoạt động, số trẻ nói mạch lạc, diễn đạt tốt tăng lên rõ rệt. Ngoài ra trẻ còn mạnh dạn tự tin, biết giúp bạn sửa lỗi ngôn ngữ, thích chơi trong nhóm bạn bè, từ đó trẻ phát triển về mọi mặt thích đến trường. Về phía phụ huynh học sinh cũng rất phấn khởi khi thấy con mình ngày càng tiến bộ, biết tham gia hoạt động cùng các bạn, ngoan ngoãn lễ phép hơn. Phụ huynh thường trao đổi cùng cô giáo hàng ngày để giúp các cháu học tốt hơn khi tiếp xúc với mọi người, phụ huynh vui vẻ phối hợp với giáo viên trong chăm sóc giáo dục trẻ, đó chính là điều động viên giúp chúng tôi cố gắng hơn trong công việc. Bảng 2: Kết quả của trẻ sau khi thực hiện đề tài: STT NỘI DUNG ĐẦU NĂM CUỐI NĂM KẾT QUẢ KẾT QUẢ Số lượng Tỷ lệ Số lượng Tỷ lệ (%) (%) 1 Số trẻ nói rõ câu 13/38 34% 29/38 76% Số trẻ nói chưa rõ câu 25/38 66% 9/38 24% Một số biện pháp giúp trẻ 24-36 tháng học qua chơi và đổi mới hình thức tổ chức hoạt động giáo dục lĩnh vực phát triển ngôn ngữ. Khả năng phát âm 2 - Tốt 8/38 21% 28/38 73% Khá 9/38 24% 4/38 11% Trung bình 15/38 39% 4/38 11% Yếu 6/38 16% 2/38 5% Tốt 8/38 21% 30/38 79% Khá 10/38 26% 4/38 11% Trung bình 14/38 37% 2/38 5% Yếu 6/38 16% 2/38 5% Khả năng dùng từ 3 Một số biện pháp giúp trẻ 24-36 tháng học qua chơi và đổi mới hình thức tổ chức hoạt động giáo dục lĩnh vực phát triển ngôn ngữ. PHẦN THỨ BA: KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ I. Kết luận Sau một năm nghiên cứu và thực hiện đề tài tôi thấy "Một số biện pháp giúp trẻ 24 - 36 tháng học qua chơi và đổi mới hình thức tổ chức hoạt động lĩnh vực phát triển ngôn ngữ" là rất cần thiết. Qua việc áp dụng một số giải pháp và có được những kết quả trên cho trẻ là một hoạt động rất cần thiết và rất quan trọng ở lứa tuổi mầm non, bản thân tôi rút ra bài học sau. Hoạt động ngôn ngữ phải được liên kết với tất cả các hoạt động khác trong ngày và cho trẻ tiếp xúc nhiều với các trò chơi tập thể, nhóm chơi.... - Tạo môi trường hoạt động cho trẻ mọi lúc mọi nơi để trẻ phát triển ngôn ngữ và rèn kỹ năng giao tiếp. Qua đó giúp trẻ rèn luyện tính kiên trì, phát triển trí thông minh, sáng tạo, mạnh dạn và khả năng độc lập. Hoạt động ngôn ngữ là hoạt động không thể thiếu được trong sự phát triển toàn diện của trẻ. Chắc hẳn giáo viên nào cũng thấy việc phát triển ngôn ngữ ở lứa tuổi này là khó, nhưng nếu chúng ta đầu tư và nghiên cứu đặc điểm tâm sinh lý của trẻ thì việc tổ chức cho trẻ chơi trò chơi nhẹ nhàng và tạo được hứng thú ở trẻ giúp trẻ phát triển toàn diện thì việc khó khăn không còn là trở ngại. - Giáo viên phải luôn luôn tìm tòi và sáng tạo trong hoạt động chăm sóc trẻ nói chung và phát triển ngôn ngữ cho trẻ qua chơi nói riêng. Giáo viên phải chuẩn bị những trò chơi phù hợp hấp dẫn, phong phú với trẻ để trẻ tiếp thu và phát triển ngôn ngữ một cách tích cực trong trường mầm non. Giáo viên phải có kế hoạch sưu tầm một số trò chơi trong chương trình và qua các phương tiện khác như “sách báo, tập san, internet"... Ngôn ngữ qua chơi mà tôi đã áp dụng tại lớp và đã đạt được những kết quả khả quan. Kính mong được sự góp ý chân thành của Ban giám hiệu, để bản thân tôi tiếp tục thực hiện tốt hơn công tác chăm sóc giáo dục trẻ trong thời gian tới. 2. Khuyến nghị : - Đối với các ngành liên quan cần quan tâm và tăng cường tạo điều kiện về cơ sở vật chất, trang thiết bị phòng lớp tốt hơn, để giáo viên có điều kiện chăm sóc giáo dục trẻ tốt hơn nữa. Đối với Phụ huynh cần quan tâm phối hợp với giáo viên để hoàn thành trong công tác chăm sóc giáo dục trẻ giữa gia đình và nhà trường được tốt hơn.
- Xem thêm -