Luật đất đai 2013 quy đinh về góp vốn bằng quyền sử dụng đất
Bộ luật dân sự 2005 quyu định về loại hình góp vốn này có tên là “ hợp
đồng góp vốn bằng giá trị quyền sử dụng đất”
Có thể thấy cách sử dụng thuật ngữ khác nhau của các văn bản luật đã gây
ra nhiều khó khăn trong quá trình áp dụng, gây khó khăn cho những nhà nghiên
cứu pháp lí.
2. Đề xuất khắc phục
- Pháp luật về góp vốn bằng QSDĐ được xây dựng phù hợp với nền
kinh tế thị trường: hoạt động góp vốn nằm trong các quy luật cung cầu của thị
trường thì phải tuân theo các quy tắc và sự điều tiết của thị trường. Trong hoàn
cảnh kinh tế Việt Nam là nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa có sự
điều tiết của Nhà nước thì pháp luật cần quy định rõ ràng, cụ thể phạm vi và mức
độ điều tiết, can thiệp của Nhà nước đến đâu để có thể quản lí và khuyến khích
hình thức này phát triển, tránh tác động hành chính quá sâu vào quan hệ góp vốn-
một quan hệ dân sự- thương mại làm bóp méo bản chất của hoạt động này khiến
cho quan hệ góp vốn lệch lạc không theo đúng mục đích ban đầu của nó.
- Pháp luật về góp vốn quyền sử dụng đất phải có năng lực thực thi trên
thực tế. Đây là tiêu chỉ bắt buộc đặt ra khi xây dựng bất kì một văn bản hay quy
định pháp luật nào. Tuy nhiên, với công tác xây dựng pháp luật Việt Nam thì tiêu
chí này chưa được coi trọng đúng mức khiến cho các quy định ban hành không có
khả năng thi hành hoặc hiệu lực thi hành không cao.
- Pháp luật về góp vốn quyền sử dụng đất phải đảm bào tính thống nhất,
công khai, minh bạch.
- Phải đảm bảo tính thống nhất giữa luật đất đai và pháp luật có liên
quan. Vì các quy định góp vốn bằng quyền sử dụng đất là một chế định trong pháp
luật đất đai thuộc hệ thống trong các quy định của pháp luật Việt Nam. Hơn nữa,
quan hệ góp vốn bằng quyền sử dụng đất phải chịu sự điều đỉnh của nhiều văn bản