Tài liệu Biến đổi khí hậu và khả năng thích ứng của việt nam

  • Số trang: 19 |
  • Loại file: PDF |
  • Lượt xem: 213 |
  • Lượt tải: 0

Mô tả:

Biến đổi khí hậu và khả năng thích ứng của Việt Nam
BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU VÀ KHẢ NĂNG THÍCH ỨNG CỦA VIỆT NAM. I. XU THẾ HÀNH ĐỘNG CHỐNG LẠI BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU. Trong mấy thập kỷ qua, nhân loại đã và đang trải qua các biến động bất thường của khí hậu toàn cầu. Trên bề mặt Trái đất, khí quyển và thủy quyển không ngừng nóng lên làm xáo động môi trường sinh thái, đã và đang gây ra nhiều hệ lụy với đời sống loài người. Các công trình nghiên cứu quy mô toàn cầu về hiện tượng này đã được các nhà khoa học ở những trung tâm nổi tiếng trên thế giới tiến hành từ đầu thập kỷ 90 thế kỷ XX. Hội nghị quốc tế do Liên hiệp quốc triệu tập tại Rio de Janeiro năm 1992 đã thông qua Hiệp định khung và Chương trình hành động quốc tế nhằm cứu vãn tình trạng “xấu đi” nhanh chóng của bầu khí quyển Trái đất, vốn được coi là nguyên nhân chủ yếu của sự gia tăng hiểm họa. Tổ chức nghiên cứu liên chính phủ về biến đổi khí hậu của Liên hiệp quốc (IPCC) đã được thành lập, thu hút sự tham gia của hàng ngàn nhà khoa học quốc tế. Tại Hội nghị Kyoto năm 1997, Nghị định thư Kyoto đã được thông qua và đầu tháng 2/2005 đã được nguyên thủ 165 quốc gia phê chuẩn. Nghị định thư này bắt đầu có hiệu lực từ 10/2/2005. Việt Nam đã phê chuẩn Nghị định thư Kyoto ngày 25/9/2005. Mới đây, hội nghị lần thứ 12 của 159 nước tham gia hiệp định khung về khí hậu, phiên họp thứ 2 của các bên tham gia Nghị định thư Kyoto đã được Liên hiệp quốc tổ chức tại Nairobi, thủ đô Kenya.Hiện tượng biến đổi khí hậu toàn 1 cầu đã và đang rấy lên hồi chuông báo động đối với toàn thể nhân loại chúng ta, bằng chứng là những biểu hiện ngày càng phức tạp, khó lường trước được. Chính những điều đó đòi hỏi toàn nhân loại chúng ta phải luôn đoàn kết, giúp đỡ nhau cùng chống lại những biến tướng xấu ngày càng đa dạng của khí hậu toàn cầu. II. Hiện tượng và bản chất tăng nhiệt độ bề mặt trái đất. Theo các báo cáo của IPCC và nhiều trung tâm nghiên cứu có uy tín hàng đầu trên thế giới công bố trong thời gian gần đây cung cấp cho chúng ta nhiều thông tin và dự báo quan trọng. Theo đó, nhiệt độ trung bình trên bề mặt địa cầu ấm lên gần 1°C trong vòng 80 năm (từ 1920 đến 2005) và tăng rất nhanh trong khoảng 25 năm nay (từ 1980 đến 2005). Mới đây, ông Mark Lowcok, quan chức của Bộ Phát triển Quốc tế Anh đã đến thăm Việt Nam và có buổi thuyết trình về “Báo cáo Stern” do các nhà khoa học Anh xây dựng, được chính phủ Anh công bố về vấn đề biến đổi khí hậu toàn cầu. Báo cáo cho rằng nếu không thực hiện được chương trình hành động giảm khí thải gây hiệu ứng nhà kính theo Nghị định thư Kyoto, đến năm 2035 nhiệt độ bề mặt địa cầu sẽ tăng thêm 2°C. Về dài hạn, có hơn 50% khả năng nhiệt độ tăng thêm 5°C. Hiện tại, Trái đất đang từng ngày từng giờ nóng lên với tốc độ như vậy với chiều hướng có thể còn nhanh hơn nữa. Vậy, nguyên nhân nào đã gây ra hiện tượng vỏ Trái đất ấm lên ? Dưới đây tổng hợp những kiến giải chính rút ra từ các công trình nghiên cứu và kết quả thảo luận ở các hội nghị quốc tế. 2 Loại ý kiến thứ nhất được đại đa số các nhà khoa học nhất trí, đó là việc tăng hàm lượng khí CO2 và các loại khí thải tạo hiệu ứng nhà kính do hoạt động con người gây ra trong bầu khí quyển Trái đất. Nguyên nhân này chiếm 90, thậm chí 99% mức gia tăng của nhiệt độ bề mặt Trái đất hiện đang được báo động. Rõ ràng mối liên quan giữa quá trình gia tăng hàm lượng CO2 và các khí thải gây hiệu ứng nhà kính do con người gây ra với sự gia tăng nhiệt độ bề mặt Trái đất đã được minh chứng qua các số liệu mấy thế kỷ và nhất là trong vài thập kỷ gần đây.Theo những nghiên cứu khoa học thì nhiệt độ bề mặt Trái đất có được là nhờ hấp thụ nhiệt từ Mặt trời và nhận dòng nhiệt của chính mình tỏa ra từ bên trong lòng đất. Sự có mặt của một hàm lượng khí CO 2 cần thiết trong bầu khí quyển vốn là tấm áo giáp ngăn chặn bức xạ nhiệt (bức xạ hồng ngoại) từ Trái đất thoát vào vũ trụ mênh mông lạnh lẽo. Thiếu nú thỡ mặt đất sẽ không có được một nhiệt độ điều hòa cho sự sinh sôi phát triển sự sống. Các công trình nghiên cứu áp dụng công nghệ hiện đại cho chúng ta biết suốt thiên niên kỷ trước khi có cuộc cách mạng công nghiệp, hàm lượng khí CO 2 trong khí quyển dao động ở mức 280 phần triệu (ppm). Tuy nhiên, tính từ đầu thế kỷ XIX đến nay hàm lượng đú đó tăng liên tục đến 360 ppm. Số liệu quan trắc trong 4 thập kỷ gần đây cho thấy, cứ mỗi thập kỷ hàm lượng CO2 trong khí quyển lại tăng 4%. Nói cách khác, hiệu ứng nhà kính do khí CO2 gây ra là quá mức cần thiết, gây tăng nhanh nhiệt độ bề mặt địa cầu kéo theo nhiều hệ lụy như đã nêu trên. Có thể nói rằng những cứ liệu và luận giải 3 đã được nêu ra là đầy sức thuyết phục. Điều đáng tiếc là cho đến nay, Hoa Kỳ là nước xả khí thải gây hiệu ứng nhà kính nhiều nhất vào khí quyển (trên 30% tổng khí thải công nghiệp) vẫn chưa phê chuẩn Nghị định thư Kyoto. Loại ý kiến thứ hai tuy thừa nhận vấn đề gia tăng nhiệt độ do hiệu ứng nhà kính, song cho rằng cần nhấn mạnh hơn đến chu kỳ nóng lên của Trái đất do hoạt động nội tại. Hiện tượng nhiệt độ bề mặt Trái đất nóng lên và lạnh đi vốn là hiện tượng tự nhiên xảy ra có tính chu kỳ trong lịch sử hình thành và phát triển của Trái đất. Không phải chỉ bây giờ, lịch sử Trái đất hàng triệu triệu năm đã trải qua nhiều lần nóng lên rồi lại lạnh đi kéo theo những biến động to lớn trong đời sống sinh vật trên Trái đất, làm thay đổi cả diện mạo địa hình lục địa và đại dương. Tính từ 1,6 triệu năm đến nay đó cú 5-6 chu kỳ biến động lớn. Đó là các thời kỳ băng hà kéo theo mực nước biển hạ thấp (biển lùi) và các thời kỳ gian băng (băng tan) kéo theo mực nước biển dâng cao (biển tiến). Vào các thời kỳ băng hà, nhiệt độ bề mặt Trái đất khô lạnh. Vào thời kỳ gian băng nhiệt độ bề mặt Trái đất đan xen giữa nóng ẩm và khô hạn. Vào các thời kỳ đó, biên độ dao động của nước biển (dâng, hạ) lên đến hàng chục, hàng trăm mét. Mỗi chu kỳ kéo dài hàng vạn, chục vạn năm. Mỗi chu kỳ như vậy còn được chia ra các chu kỳ ngắn hơn với thời gian kéo dài nhiều trăm năm đến nghìn năm với biên độ dao động mực nước biển 2-3 m hoặc hơn. Khí thải CO2 làm tăng hiệu ứng nhà kính là hiện tượng do con người gây ra trong mấy trăm năm gần đây. Theo nh ta đã trình 4 bày ở trên thì cả hai nguyên nhân trên đều có cơ sở thực tế và chỳng cựng tác động gây ra tình trạng Trái đất nóng lên một cách bất thường như hiện nay. Do đó, cần phải nhìn nhận hiện tượng nóng lên của Trái đất hiện nay bằng quan điểm biện chứng: chu kỳ nóng ấm của Trái đất mang tính nội sinh tự nhiên và tính ngoại sinh được đẩy nhanh và nã trở nên nghiêm trọng hơn do những tác động của khí thải công nghiệp và hiệu ứng nhà kính. III. Những hiểm họa khí hậu đã, đang và sẽ xảy ra đối việt nam. Thời kỳ băng hà cuối cùng của địa cầu trong kỷ Đệ tứ (băng hà Wurm 2) lạnh nhất cách đây khoảng 18.000 năm. Thời đó, biển lùi xa về phía đông. Các tài liệu khoan thăm dò dầu khí đã ghi nhận dấu vết đường bờ biển thời đó nằm trên thềm lục địa ở độ sâu 100-120 m so với mực nước biển hiện tại. Thời đó, toàn bộ vùng Vịnh Bắc Bộ và thềm Sunda (nối liền Nam Bộ Việt Nam với Indonesia), vịnh Thái Lan còn là đất liền. Nhiệt độ trung bình hàng năm ở Việt Nam vào thời băng hà lạnh nhất đó dự đoán thấp hơn so với ngày nay khoảng 5-7°C. Băng bắt đầu tan và mực nước biển bắt đầu dâng lên từ khoảng 15.000 năm cách nay. Nhiệt độ Trái đất cũng như đường bờ biển đạt đến mức như bây giờ vào khoảng 10.000 năm cách nay. Tuy nhiên, Trái đất vẫn tiếp tục nóng lên và băng tiếp tục tan, biển vẫn tiến lấn sâu hơn vào so với đường bờ hiện tại. Nhiều bằng chứng thực vật ở Đông Nam Á cho thấy, nhiệt độ trung bình ấm hơn ngày nay chừng 2°C ở khoảng 8.000 năm cách nay, nhưng phải đến khoảng 6.000-5.000 năm 5 cách nay, băng mới ngừng tan và nước biển mới dừng ở độ cao 46 m so với mực nước biển ngày nay (biển tiến Flanđri). Các nhà nghiên cứu khảo cổ Việt Nam đã phát hiện nhiều bằng chứng về con người trong lịch sử đã chịu ảnh hưởng của các đợt biển tiến do nhiệt độ Trái đất ấm lên đó. Do mực nước biển dâng cao hơn ngày nay 4-6 m, biển lấn sâu vào lục địa có chỗ tới hàng trăm km. Dấu tích đường bờ biển đương thời xuất lộ ngay ở sỏt rỡa Hà Nội, đến tận sỏt chõn cỏc dãy núi đá vôi thuộc Hà Tây, Ninh Bình, Thanh Hóa và các tỉnh miền Trung. Biển phủ ngập hầu như toàn bộ đồng bằng Nam Bộ. Sau đó, biển đó rỳt, để lại một đồng bằng phù sa màu mỡ vào khoảng 3800-3500 năm cách nay, tạo điều kiện cho sự xuất hiện nở rộ những làng trồng lúa sớm trong lịch sử Việt Nam. Nhưng đến khoảng 3200 năm, các nhà khảo cổ phát hiện những chứng cứ cư dân đương thời rời chân nỳi lờn cư trú trờn cỏc đỉnh núi cao trong các đồng bằng ven biển từ Nghệ An, Thanh Hóa, Ninh Bình ra đến Quảng Ninh. Thức ăn họ để lại trờn cỏc chỏm núi đá đó bao gồm nhiều loại nhuyễn thể biển. Điều đó phản ánh một đợt biển tiến có tính đột biến đã diễn ra. Những tài liệu nghiên cứu chi tiết về địa chất học và khảo cổ học còn cho biết, từ đó đến nay, xu hướng chung là biển lùi, song vẫn có một số chu kỳ tiến, lùi với biên độ dao động mực nước biển trên dưới 2-3 m vào khoảng trước 3000 năm, sát trước và sau công nguyên và khoảng 1000-1200 năm sau công nguyên đến nay. 6 Những điều trình bày sơ lược trên đây cho thấy, nếu chu kỳ biển tiến, lùi với biên độ thời gian khoảng 800-1000 năm thì hiện tại chúng ta đang ở đoạn cuối của chu kỳ biển tiến hiện đại, không loại trừ tốc độ sẽ nhanh hơn nhiều hoặc có đột biến. Như vậy, mực nước biển dâng đang xảy ra nằm trong chu trình chung của biến động, cộng thêm tác động nhanh do hiệu ứng nhà kính gây ra, làm cho chúng ta phải nhìn nhận vấn đề một cách cảnh giác hơn, chứ không phải ngược lại. Dù nguyên nhân nào thì việc nhận thức được để có kế hoạch ứng phó, vì sự tồn tại và phát triển bền vững cho mỗi quốc gia dân tộc cũng như toàn nhân loại là điều con người có thể và cần phải làm. Trong tình hình biển tiến hiện nay, bà Susmita Dagupta, chuyên gia kinh tế, đồng tác giả của báo cáo “Ảnh hưởng khi mực nước biển tăng lên ở các nước phát triển: Phân tích so sánh” do Ngân hàng Thế giới công bố hồi đầu năm nay cho biết: mực nước biển chỉ cần dõng thờm 1 m thì sẽ gây nên hiểm họa lớn đối với các nước cú vựng dân cư và đời sống kinh tế tập trung ở cỏc vựng đồng bằng thấp dọc ven biển. Việt Nam là một trong những nước sẽ bị tác động lớn; khi đó sẽ có đến 10,8% dân số Việt Nam bị tác động nặng nề, do có 2 đồng bằng thấp chủ yếu là đồng bằng Sông Hồng và đồng bằng Cửu Long. Về phía Việt Nam, chúng ta thấy gì và nghĩ gì về những hiểm họa này trước thực tế và thực tiễn Việt Nam ?Cần phải khẳng định rằng những biến động thời tiết bất thường gây thiệt hại lớn cho đời sống dân cư và đất nước mà chúng ta gọi là thiên tai cần 7 được nghiên cứu, xem xét theo chiều hướng có sự báo động toàn cầu về gia tăng nhiệt độ bề mặt Trái đất và mực nước biển ngày càng dâng cao. Cụ thể của những hiện tượng đó là: nhiệt độ khí quyển và thủy quyển tăng lên kéo theo những biến động khác thường (hiện tượng El Nino) làm cho chế độ thời tiết gió mùa bị xáo động bất thường; bão có xu hướng gia tăng về cường độ, bất thường về thời gian và hướng dịch chuyển; thời tiết mùa đông nói chung ấm lên, mùa hè núng thờm; xuất hiện bão lũ và khô hạn bất thường. Hiện tượng ngập ỳng vựng đồng bằng châu thổ mở rộng vào mùa mưa lũ, các dòng sông tăng cường xâm thực ngang gây sạt lở lớn cỏc vựng dân cư tập trung ở 2 bờ trên nhiều khu vực từ Bắc chí Nam. Trên thực tế, từ cuối năm 2007 cho đến 2008 tình trạng thời tiết cực đoan đã diễn ra ở nhiều khu vực trong cả nước: Phía bắc rét đậm rét hại giết chết nhiều gia súc, trong khi miền Trung xảy ra lũ bất thường, còn ở miền Nam nhiều địa phương bị hạn hán. Đặc biệt, vụ ngập lụt lịch sử tại Hà Nội đã trở thành minh chứng sống động nhất về hậu quả của biến đổi khí hậu. Vụ này cũng thực sự gây sốc đối với người dân và chính quyền bởi mức độ và quy mô rất lớn của nó, chính sự kiện này đã làm cho cuộc sống của người dân cũng như các hoạt động kinh tế của toàn khu vực Hà nội và các khu vực xung quanh bị đảo lộn và thiệt hại nghiêm trọng.Thực nghiệm cho thấy các hiện tượng trên cũng đồng thời tạo cồn, bãi bồi, lấp dòng chảy cỏc sụng, nhánh sông ở vùng hạ 8 du; ở những sụng đó xây dựng hệ thống đê kiên cố thỡ cú hiện tượng bồi lấp ngay chính dòng sông cũng như tuyến khống chế giữa hai bờ đê, tạo nên thế địa hình ngược; những dòng sông nổi cao hơn cả đồng bằng hai bên sông. Vào mùa khô, hiện tượng phổ biến là nước triều tác động ngày càng sâu về phía trung du, hiện tượng nhiễm mặn ngày càng tiến sâu vào lục địa. Ở vùng ven biển, đã thấy rõ hiện tượng vùng ngập triều cửa sông mở rộng hình phễu (hiện tượng estuary) trên những diện rộng, nhất là ở hạ du các hệ thống sụng nghốo phù sa. Rõ nhất là vùng hạ du hệ thống sông Thái Bình - Bạch Đằng, ở vùng ven biển Hải Phòng, Quảng Ninh và hệ thống sông Đồng Nai, ở vùng ven biển Bà Rịa - Vũng Tàu và thành phố Hồ Chí Minh. Vào mùa khô, các nhánh sông và dòng sông ở các khu vực này đã không thể đóng vai trũ tiờu thoỏt nước về phía biển, biến thành những dòng sông, kờnh tự đọng với mức độ ô nhiễm nhân tạo gây nguy hại cho đời sống của những vùng dân cư đông đảo (thuộc diện này có thể kể đến cả vùng rộng lớn thuộc các lưu vực sông Nhuệ, sụng Đỏy, Chõu Giang ở phía tây nam Hà Nội và các tỉnh Hà Tây, Hà Nam, Nam Định và Ninh Bình). Hiện tượng sạt lở bờ biển trên nhiều đoạn kéo dài hàng chục, hàng trăm km với tốc độ phá hủy bờ sâu vào đất liền hàng chục, thậm chí hàng trăm mét, là hiện tượng xảy ra thường xuyên trong nhiều năm gần đây, liên quan đến sự tàn phá do gia tăng bóo, súng lớn và sự thay đổi của động lực biển ở đới bờ.Đó cũng là một trong những hệ quả của việc những cánh rừng phòng hộ và 9 rừng ngập mặn bị tàn phá nghiêm trọng mà chưa có kế hoạch trồng mới và phát triển lâu dài.Hơn thế nữa,hiện tượng hình thành các cồn cát chắn và tái trầm tích bồi lấp luồng vào các cửa sông, gây trở ngại lớn cho hoạt động vận tải ra, vào các cảng biển, khiến cho những công trình nạo vét rất tốn kém đều nhanh chóng bị vô hiệu hóa. IV. CHÍNH PHỦ VÀ CÁC NHÀ KHOA HỌC VIỆT NAM CẦN LÀM GÌ ĐỂ NGĂN NGỪA VÀ ĐỐI PHÓ VỚI HIỂM HỌA NÀY ? Theo nghiên cứu của các nhà khoa học thì các hiện tượng như đã nêu trên xảy ra còn có tác động của nhiều yếu tố, như lượng nước và phù sa của các lưu vực sông; hoạt động nâng, hạ của kiến tạo địa chất hiện đại; tác động bất thuận chiều của các công trình nhân tạo, sù suy giảm của hệ thống rừng phòng hộ và rừng đầu nguồn v.v... Vì vậy, càng rất cần được chú trọng nghiên cứu, xem xét.Một câu hỏi được đặt ra là Việt Nam chóng ta cần phải làm gì để ứng phó với hiểm họa đang được báo động ? Đó là một vấn đề rất phức tạp đòi hỏi phải có một chiến lược mang tầm vóc và quy mô to lớn vừa trước mắt, vừa lâu dài, được đưa ra và thực hiện một cách nghiêm túc với sự tham gia của toàn xã hội mới mong thu được những hiệu quả đáng kể.Cụ thể như sau: Trước hết,Việt Nam cần tham gia một cách chủ động và tích cực vào các chương trình do Liên hiệp quốc chủ trì về biến đổi khí hậu toàn cầu. Các nhà khoa học, các nhà hoạch định chính sách và quy hoạch, chiến lược phát triển cần được tổ chức và huy động tham gia một chương trình nghiên cứu cấp quốc gia. Nhà nước cần đầu tư thích đáng cho chương trình này. Chương trình 10 cần được kết nối với các chương trình quốc tế và khu vực để có thể tiếp nhận thành quả nghiên cứu của các tổ chức nghiên cứu có uy tín trên thế giới, tiếp nhận sự viện trợ, giúp đỡ quốc tế. Hơn thế nữa, nhà nước phải thường xuyên đưa sinh viên và các cán bộ có năng lực về lĩnh vực dự báo, môi trường…sang du học tại các nước có nền khoa học tiên tiến, hiện đại để có điều kiện tiếp thu, học hỏi những thành tựu khoa học, cũng như những bài học mà họ đã trải qua, đã thành công đem về phục vụ cho công cuộc nghiên cứu, ứng dụng của nước nhà. Mặt khác, thông qua việc nghiên cứu thực tế và thực tiễn, Việt Nam có thể đóng góp vào vấn đề đang được các tổ chức quốc tế bàn luận. Các vị lãnh đạo cao cấp nước ta cần dành thời gian, chủ động tham gia các hội nghị quốc tế do Liên hiệp quốc chủ trì về vấn đề này. Việc tham gia của chúng ta trong thời gian qua rõ ràng là còn thụ động nhưng có thể nói rằng các nhà khoa học Việt Nam có thể và cần được tổ chức tham gia nghiên cứu vấn đề hệ trọng này vì đó là xu thế và sứ mệnh đòi hỏi tất cả các nước trên thế giới phải cùng nắm tay chống lại sự suy giảm của khí hậu. Việt Nam, một nước đang phát triển trong thời kỳ công nghiệp hóa, nằm trong nhóm nước dễ bị tổn thương bởi các vấn đề môi trường do biến đổi khí hậu gây ra, như lũ lụt, hạn hán, bão ... Bên cạnh đó, với đường bờ biển dài, vấn đề mực nước biển dâng cao có thể làm mất 12,2% diện tích của lãnh thổ và đe dọa tới chỗ sinh sống của 17 triệu người.Điều đó ảnh hưởng rất lớn đến đời sống của nhân dân cũng như đến việc phát triển kinh tế 11 trong hiện tại và trong tương lai của nước ta. Chính vì vậy, chương trình quốc gia về biến động khí hậu toàn cầu tác động vào Việt Nam cần được tổ chức nghiên cứu, rà soát, kiểm định lại những kết quả nghiên cứu đó cú từ trước tới nay, thực hiện một số đề tài nghiên cứu có mục tiêu hướng tới những kết luận khoa học tin cậy, dự báo được chiều hướng biến động cả trước mắt cũng như ở tầm trung hạn, dài hạn (được hiểu theo nghĩa tính bằng thập kỷ và thế kỷ). Các kết luận khoa học phải trở thành cơ sở cho việc hoạch định các quy hoạch, chiến lược và chính sách vì sự nghiệp phát triển bền vững cho tương lai đất nước, đặc biệt là quy hoạch xây dựng hệ thống hạ tầng kỹ thuật quốc gia, xây dựng các đô thị và vùng tập trung dân cư, các khu, cụm công nghiệp ... Trọng tâm của chương trình cần: tăng cường đầu tư, tổ chức các công tác điều tra cơ bản và mạng quan trắc sự biến đổi nhiệt độ, những biến động về quy luật vận động của khí quyển và thủy quyển và về vận động kiến tạo hiện tại ở Việt Nam, áp dụng những thiết bị và công nghệ tiên tiến hiện nay. Dự án VinaSat hiện tại cũng cần phải tính ngay đến yêu cầu này. Một việc mà chóng ta cần làm ngay bây giê đó là tích cực tham gia Nghị định thư Montreal về giảm khí thải CFCs, Nghị định thư Kyoto về giảm khí thải CO2 và các khí thải gây hiệu ứng nhà kính, trước hết Việt nam chóng ta cần phát huy kết quả và thúc đẩy mạnh mẽ việc thực hiện chương trình quốc gia đã được triển khai về phủ xanh đất trống, đồi núi trọc, hạn chế tối đa nạn cháy rừng, phục hồi nhanh chóng hệ sinh thái rừng ngập mặn đã 12 bị tàn phá nặng nề. Đặc biệt, Việt Nam cần phải có một chiến lược đúng, đáp ứng nhu cầu gia tăng rất nhanh chóng về năng lượng, nhất là điện năng, phục vụ công nghiệp hóa đất nước. Nêu cao yêu cầu tiết kiệm năng lượng, hạn chế đến mức cần thiết việc sử dụng nguyên liệu hóa thạch (than, dầu mỏ, khí đốt), sớm có kế hoạch phát triển năng lượng sạch. Một mặt, chúng ta cần chủ động, tích cực thực hiện phần trách nhiệm quốc gia của mình, mặt khác chúng ta cũng tích cực lên tiếng đũi cỏc nước phát triển thực hiện cam kết thiên niên kỷ của Liên hiệp quốc và các Hiệp định, Nghị định thư quốc tế về bảo vệ môi trường Trái đất vì sự sống còn của nhân loại. Tổng kết, rút ra các kinh nghiệm thành công và chưa thành công của cha ông ta trong nhiều thế kỷ qua, chính những kinh nghiệm đó là kết quả của việc ứng phó với các loại “thiờn tai” thường xuyên xảy ra ở cỏc vựng đồng bằng thấp, vùng ven biển trong thời cận hiện đại;cần đẩy mạnh xây dựng mạng kênh mương rộng lớn phục vụ việc tưới và tiêu nước cho đồng bằng; gia cố hệ thống đê điều; xây dựng các công trình hồ thủy điện - thủy lợi điều tiết ở thượng nguồn; từng bước xây dựng tuyến đê biển từ Bắc vào Nam kết hợp xây dựng các cống điều tiết thoát lũ và ngăn mặn ở các cửa sông; xây dựng các công trình kè bờ chống sạt lở sông và biển; nạo vét dòng chảy cửa sông, luồng vào cảng; bơm thoát nước cưỡng bức đối với nạn úng, ngập sâu và ô nhiễm nặng tại các vùng đất thấp ở đồng bằng và ven biển. Đặc biệt, những hệ thống công trình có quy mô lớn, xây dựng bền vững lâu dài, như 13 hệ thống công trình “chung sống với lũ” ở đồng bằng Cửu Long, tuyến đê biển Bắc-Nam, cần được hoạch định có căn cứ khoa học về tuyến, về nền móng, để những công việc được thực hiện ngày nay còn được tiếp nối thuận lợi cho nhiều thế hệ mai sau. Việt nam cần luôn luôn nhấn mạnh yêu cầu phát triển nhanh, song phải bền vững, trong đú có yếu tố bảo vệ môi trường sinh thái; Nghị quyết Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa X mới đõy về chiến lược biển dài hạn cũng đã nhấn mạnh vấn đề bảo vệ môi trường gắn liền với phát triển nguồn lợi của biển.Song song với quá trình bảo vệ môi trường gắn liền với phát triển nguồn lợi của biển, chúng ta không thể thờ ơ trước lời kêu cứu đã từ rất lâu của rừng. Phó Cục trưởng Cục Lâm nghiệp (Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn) Phạm Minh Thoa nhận định: Tài nguyên rừng trên thế giới nói chung và ở Việt Nam nói riêng chưa được quản lý bền vững. Mất rừng và suy thoái rừng trên thế giới đã làm phát thải khoảng 18% tổng lượng khớ gõy hiệu ứng nhà kính, đang góp phần làm tăng thờm tớnh cực đoan của khí hậu toàn cầu và là một trong những nguyên nhân dẫn tới biến đổi khí hậu. Biến đổi khí hậu có quan hệ tương tác biện chứng với lâm nghiệp. Lâm nghiệp vừa chịu tác động không tốt của biến đổi khí hậu đồng thời lại là công cụ đắc lực có tác dụng giảm thiểu ảnh hưởng của nó. Vì vậy, để chủ động thích ứng và giảm thiểu tác hại của biến đổi khí hậu, lâm nghiệp đã và đang được coi là một lĩnh vực quan trọng trong Khung chương trình hành động ứng phó với biến đổi khí hậu trong nông nghiệp và phát triển nông thôn mà nhà nước ta 14 đã đề ra. Vậy vấn đề quan trọng nhất để thực hiện các biện pháp trên mà chúng ta chưa đề cập đến là gì ? Đó là nguồn vốn mà chúng ta hiện có là bao nhiêu, các biện pháp huy động và sử dụng vốn sao cho có hiệu quả nhất. Theo các chuyên gia WB, các nguồn tài chính truyền thống (ODA, ngân sách) dành cho việc đối phó với biến đổi khí hậu của Việt nam là không đủ và không hiệu quả để thực hiện các mục đích nói trên. Tuy nhiên, ông Dean Cira, Điều phối viên Ban Phát triển đô thị của WB tại Việt Nam cho rằng, Chính phủ các nước có thể tiếp cận với những cơ chế cấp vốn mới dành cho phát triển công nghệ sạch… (ở Việt Nam, WB cũng đang cấp vốn cho một số dự án thoát nước ở vùng duyên hải), nhưng để tiếp cận được nguồn vốn này, phải có sự đề xuất chủ động từ Chính phủ, WB sẽ dựa trên nhu cầu của Việt nam để thực hiện. Một điều quan trọng không thể thiếu được khi đã có những chiến lược dài và trung hạn , có những nguồn vốn nội lực và vốn vay nước ngoài là làm thế nào để mọi người cùng biết và cùng thực hiện vì mục tiêu chống lại biến đổi khí hậu? Đó là việc chúng ta không nên chỉ tuyên truyền chung chung mà cần bằng những con số, hình ảnh, ví dụ cụ thể. Cần bằng thực tế, bằng những nghiên cứu từng vùng sinh thái cụ thể, tổ chức tuyên truyền cho từng vùng kinh tế cụ thể bởi mỗi vùng sẽ bị ảnh hưởng khác nhau do biến đổi khí hậu. Ví dụ như, vùng sinh thái Tây Bắc sẽ bị ảnh hưởng về biến đổi khí hậu khác với Duyên hải miền Trung, khác với miền Tây 15 Nam Bộ. Cũng như thế, Đồng bằng sông Hồng sẽ chịu ảnh hưởng khác xa với ĐB sông Cửu Long. Đặc biệt cần có sự phối hợp giữa các sở, ngành, hội, Trung ương - địa phương... tránh tình trạng mỗi nơi một phách,khiến cho quá trình tổ chức, điều hành gặp nhiều khó khăn, nguồn vốn sử dụng đạt hiệu quả thấp. V. ĐÁNH GIÁ NHỮNG KẾT QUẢ ĐÃ THỰC HIỆN. Thực nghiệm cho thấy những công việc mà chóng ta đã làm không phải chúng ta không có những kinh nghiệm nhất định trong việc ứng phó với tai biến do nước biển dâng. Nhưng đó là việc biển dâng tiệm tiến. Vấn đề của báo động toàn cầu hiện nay mới chỉ là có nhiều khả năng biển sẽ dâng nhanh hơn và không loại trừ đột biến lớn, đưa đến hiểm họa hay thảm họa lớn cho nhân loại. Quả thật, nhận thức và suy nghĩ của chúng ta về vấn đề này cũn quỏ ớt. Có thể nói những kinh nghiệm lịch sử của nhân loại đã được các nhà nghiên cứu thế giới đề cập từ lâu nhưng vì sao những nền văn minh rực rỡ của nhân loại, như các nền văn minh Lưỡng Hà, Ai Cập ở Trung Cận Đông - Bắc Phi, các nền văn minh Maya và Inca ở Trung và Nam Mỹ bị suy tàn, thậm chí biến mất một cách khó hiểu ? Nguyên nhân gốc rễ của các hiện tượng trên chắc chắn là hệ quả của sự biến đổi khí hậu lớn có tính toàn cầu, biểu hiện cụ thể ở từng khu vực, lãnh thổ. Cũng không phải không có lý khi gần đây xuất hiện các thông tin về việc Bộ Môi trường Nhật Bản cho biết sẽ cần hơn 64,5 tỷ USD để đối phó với mực nước biển dâng cao do băng tan ở hai cực. Phía Nhật Bản ước tính nếu mực nước biển tăng thêm 1 mét, 90% số bãi biển của 16 nước này sẽ bị “nuốt chửng”, sản lượng lúa sẽ giảm 50% ... Các nguồn tin cũng cho biết Trung Quốc đang xem xét việc xây dựng hệ thống đê kiên cố dọc suốt bờ biển, một kế hoạch được coi là xây dựng một “Vạn lý trường thành mới”. Rõ ràng vấn đề đặt ra vừa có yêu cầu bức xúc trước mắt, vừa có tầm quan trọng chiến lược lâu dài, cần có sự báo động và hành động trước khi quá muộn.Tóm lại, biến đổi khí hậu là vấn đề của toàn thế giới, không có một nước nào có thể có đủ năng lực để cải tạo bầu không khí trong khi các nước khác thì rửng rưng trước sự suy giảm khí hậu ngày một rõ nét xảy ra xung quanh cuộc sống của chúng ta.Điều đó càng nhấn mạnh rằng, chỉ có chung tay góp sức giữa các nước trên thế giới thì mới mong chống đỡ cũng như phục hồi bầu không khí trong một tương lai gần nhất.Thông điệp mà các nhà khoa học muốn gửi tới toàn bộ nhân loại ở đây là:Hãy giữ lấy bầu không khí và làm cho nó luôn trong lành,đó là tài sản vô giá mà thiên nhiên ban tặng cho bạn, nó là sự sống của chính bản thân bạn. 17 Danh mục tài liệu tham khảo: 1.Báo lao động cuối tuần, trang nhất số 07 ngày 15/ 02/ 2009. 2.Báo lao động điện tử thứ 05/ 19/ 03/ 2009. 3.Báo điện tử Đảng cộng sản Việt nam ngày 21/ 02/ 2009. 18 MỤC LỤC Trang 19
- Xem thêm -