Tài liệu Nghiên cứu địa lý phát sinh và thoái hóa đất phục vụ phát triển cây chè khu vực bảo lộc - di linh, tỉnh lâm đồng

  • Số trang: 23 |
  • Loại file: PDF |
  • Lượt xem: 748 |
  • Lượt tải: 0

Mô tả:

Nghiên cứu địa lý phát sinh và thoái hóa\r\nđất phục vụ phát triển cây chè khu vực Bảo\r\nLộc - Di Linh, tỉnh Lâm Đồng
Nghiên cứu địa lý phát sinh và thoái hóa đất phục vụ phát triển cây chè khu vực Bảo Lộc - Di Linh, tỉnh Lâm Đồng Hoàng Thị Huyền Ngọc Trường Đại học Khoa học Tự nhiên Luận văn Thạc sĩ ngành: Sử dụng và bảo vệ tài nguyên môi trường Mã số: 60 85 15 Người hướng dẫn: TS. NCVCC. Nguyễn Đình Kỳ Năm bảo vệ: 2012 Abstract: Tổng quan về cơ sở lý luận nghiên cứu địa lý phát sinh và thoái hóa đất, đánh giá đất đai. Nghiên cứu, phân tích đặc điểm địa lý phát sinh, các quá trình hình thành và thoái hóa đất khu vực Bảo Lộc - Di Linh kết hợp khảo sát thực địa. Nghiên cứu đặc điểm sinh thái của cây chè và đánh giá mức độ thích hợp đất đai đối với cây chè khu vực nghiên cứu. Đề xuất các định hướng, giải pháp cho việc phát triển bền vững đất trồng chè huyện Di Linh, Bảo Lâm, thành phố Bảo Lộc, tỉnh Lâm Đồng. Keywords: Địa lý phát sinh; Cây chè; Lâm Đồng; Tài nguyên môi trường; Thoái hóa đất Content MỞ ĐẦU 1. TÍNH CẤP THIẾT Nước ta một nước nông nghiệp truyền thống có thế mạnh về hàng nông sản xuất khẩu. Từ những ngày đầu của công cuộc đổi mới, xuất khẩu nông sản đã được nhà nước quan tâm chú trọng phát triển. Cây công nghiệp dài ngày như: cà phê, cao su, hồ tiêu, chè… đã và đang tỏ rõ ưu thế của mình trên thị trường thế giới, góp phần nâng cao vị thế của Việt Nam. Cây chè (Camellia sinensis) là một loại cây trồng mang lại nhiều lợi ích kinh tế. Cây chè (tea) đã trở thành một trong những cây công nghiệp có giá trị xuất khẩu cao, mở ra một tương lai đầy hứa hẹn với ngành thương mại chè. Chè Việt Nam hiện đang đứng hàng thứ 5 trên thế giới về sản lượng và xuất khẩu. Lâm Đồng là một trong năm tỉnh Tây Nguyên có vùng chuyên canh chè rộng lớn, trong đó tập trung chủ yếu ở khu vực Bảo Lộc, Bảo Lâm và Di Linh. Với lịch sử phát triển gần 100 năm, vào Tây Nguyên cây chè đã ăn sâu bén rễ và tạo nên thương hiệu cho vùng đất này. Lâm Đồng có diện tích chè lớn nhất cả nước với khoảng 23.557 ha. Ở Việt Nam nói chung và Lâm Đồng nói riêng, mặc dù sản lượng cũng như kim ngạch xuất khẩu chè trong những năm qua không ngừng tăng, song cây chè vẫn chưa thực sự đạt giá trị tương xứng với tiềm năng của nó. Nguyên nhân do tình hình canh tác còn tự phát, hiệu quả sản xuất chè bấp bênh, chất lượng chè chưa ổn định… Để giải quyết triệt để vấn đề trên, cần xác định những vùng đủ điều kiện sản xuất chè tập trung, đưa ra các phương án quy hoạch vùng chè chất lượng cao. Do vậy nghiên cứu cơ sở khoa học cho phát triển bền vững vùng nguyên liệu chè và chế biến chè là hết sức cần thiết. Xuất phát từ nhu cầu thực tiễn đó, chúng tôi lựa chọn đề tài luận văn: “Nghiên cứu địa lý phát sinh và thoái hóa đất phục vụ phát triển cây chè khu vực Bảo Lộc - Di Linh, tỉnh Lâm Đồng”. 2. MỤC TIÊU VÀ NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU - Mục tiêu: Nghiên cứu đặc trưng địa lý phát sinh học đất, đặc điểm thoái hóa đất trên khu vực Bảo Lộc - Di Linh, tỉnh Lâm Đồng. Đánh giá mức độ thích hợp đất đai cho cây chè làm cơ sở khoa học đề xuất giải pháp phát triển bền vững chè ở khu vực nghiên cứu. Để thực hiện mục tiêu trên, nhiệm vụ cần nghiên cứu của đề tài bao gồm: - Tổng quan về cơ sở lý luận nghiên cứu địa lý phát sinh và thoái hóa đất, đánh giá đất đai; - Nghiên cứu, phân tích đặc điểm địa lý phát sinh, các quá trình hình thành và thoái hóa đất khu vực Bảo Lộc - Di Linh kết hợp khảo sát thực địa; - Nghiên cứu đặc điểm sinh thái của cây chè và đánh giá mức độ thích hợp đất đai đối với cây chè khu vực nghiên cứu; - Đề xuất các định hướng, giải pháp cho việc phát triển bền vững đất trồng chè huyện Di Linh, Bảo Lâm, thành phố Bảo Lộc, tỉnh Lâm Đồng. 3. PHẠM VI NGHIÊN CỨU - Phạm vi lãnh thổ: Lãnh thổ nghiên cứu được giới hạn trong vị trí địa lý và ranh giới hành chính của thành phố Bảo Lộc, huyện Di Linh và huyện Bảo Lâm, tỉnh Lâm Đồng, gọi tắt là Bảo Lộc - Di Linh. - Phạm vi khoa học: Địa lý phát sinh và thoái hóa đất, đánh giá mức độ thích hợp đất đai về mặt tự nhiên đối với cây chè. 4. KẾT QUẢ VÀ Ý NGHĨA CỦA ĐỀ TÀI a. Kết quả dự kiến - Làm rõ các đặc trưng phát sinh và thoái hóa đất khu vực nghiên cứu; - Đánh giá mức độ thích hợp đất đai và phân vùng thích hợp đối với cây chè khu vực Bảo Lộc - Di Linh, tỉnh Lâm Đồng; - Đề xuất một số giải pháp phục vụ định hướng phát triển bền vững cây chè khu vực nghiên cứu. b. Ý nghĩa khoa học, thực tiễn - Ý nghĩa khoa học: Góp phần củng cố phương pháp luận trong nghiên cứu địa lý phát sinh và thoái hóa đất, đồng thời ứng dụng đánh giá thích hợp đất đai trong định hướng phát triển bền vững đất trồng chè. - Ý nghĩa thực tiễn: Cung cấp cơ sở khoa học và thực tiễn trợ giúp cho các nhà quản lý địa phương trong việc hoạch định không gian phát triển cây chè theo hướng bền vững và bảo vệ môi trường. 5. CẤU TRÚC CỦA ĐỀ TÀI Cấu trúc của đề tài ngoài phần mở đầu và kết luận gồm 3 chương chính: 2 - Chương 1: Cơ sở phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu phát sinh và thoái hóa đất phục vụ phát triển bền vững đất trồng chè; - Chương 2: Đặc điểm phát sinh và thoái hóa đất khu vực Bảo Lộc - Di Linh; - Chương 3: Đánh giá thích hợp đất đai và đề xuất một số giải pháp phát triển bền vững đất trồng chè ở Bảo Lộc - Di Linh Chƣơng 1 - CƠ SỞ PHƢƠNG PHÁP LUẬN VÀ PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU PHÁT SINH VÀ THOÁI HÓA ĐẤT PHỤC VỤ PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG ĐẤT TRỒNG CHÈ 1.1. Tổng quan về các công trình nghiên cứu liên quan đến đề tài 1.1.1. Vai trò và giá trị kinh tế của cây chè trên thế giới và Việt Nam Ngày nay, cây chè được trồng rộng rãi trên thế giới với lịch sử có từ rất lâu đời, khoảng hơn 4.000 năm. Cho đến nay, chè được sản xuất ở 58 quốc gia với quy mô khác nhau, phân bố khắp 5 châu lục. Châu Á chiếm vị trí chủ đạo về diện tích trồng và sản lượng chè sau đó là Châu Phi, ít nhất là Châu Đại Đương. Châu Á có 17 nước và Châu Phi có 15 nước trồng chè. Việt Nam là một trong 10 quốc gia đứng đầu thế giới về diện tích, sản lượng chè, đứng thứ 8 về xuất khẩu chè. Diễn biến về diện tích, sản lượng, kim ngạch xuất khẩu chè của nước ta nhưng năm gần đây được thống kê theo bảng 1.3. Bảng 1.1. Diễn biến diện tích, sản lƣợng sản xuất - chế biến chè của Việt Nam Năm Diện tích (1.000 ha) Sản lƣợng (1.000 tấn) Xuất khẩu (1.000 tấn) Kim ngạch (triệu USD) Giá XK bình quân (USD/tấn) 1996 74,80 46,80 20,80 31,2 1.500 2000 87,70 63,70 55,66 69,6 1.250 2005 123,74 133,35 87,92 96,9 1.102 2006 125,57 142,50 105,12 111,6 1.062 2007 127,30 150,82 112,00 130,0 1.161 2008 129,60 158,00 104,36 146,9 1.408 2009 131,00 159,00 134,00 179,5 1.340 2010 131,90 185,00 132,00 194,0 1.470 Nguồn: Hiệp hội chè Việt Nam 3 1.1.2. Quá trình nghiên cứu và đánh giá đất trồng chè Một số nước trên thế giới có diện tích chè tập trung và rộng lớn, chủng loại chè rất đa dạng và phong phú. Chất lượng đất cùng hàm lượng các chất dinh dưỡng trong mỗi loại đất của từng khu vực có địa hình, khí hậu, đá mẹ khác nhau là rất khác nhau. Do đó các nghiên cứu trên đất trồng chè như: đặc tính lý hóa, chế độ phân bón, xói mòn trên đất chè hoàn toàn phụ thuộc vào điều kiện cụ thể ở mỗi quốc gia. Ở Việt Nam, một số các công trình nghiên cứu đi sâu vào phân tích tính chất vật lý, hóa học của đất trồng chè từ đó đưa ra các biện pháp cải tạo, bón phân cho đất nhằm nâng cao chất lượng búp chè. Trong đó miền Bắc vốn là vùng chè lớn của nước ta với các tỉnh có truyền thống sản xuất chế biến chè có tiếng như: Thái Nguyên, Yên Bái, Phú Thọ… Vì vậy có rất nhiều các nghiên cứu về đất trồng chè tập trung ở khu vực này. Còn lại khác vùng trồng chè khác, số lượng nghiên cứu rất hạn chế 1.2. Cơ sở khoa học nghiên cứu phát sinh, thoái hóa đất 1.2.1. Lịch sử nghiên cứu địa lý phát sinh và thoái hóa đất “Đất (soil) là lớp mỏng trên cùng của bề mặt lớp vỏ Trái Đất (từ hàng chục centimet đến 1,5 – 2 mét) phần lớn được phủ bởi một kiểu thảm thực vật và có thuộc tính về độ phì tự nhiên được hình thành bởi sự phát triển trong quá trình thành tạo từ lớp vỏ phong hóa dưới sự tác động đồng bộ và tổng hợp của không khí (khí quyển và khí trong vỏ phong hóa), khí hậu ( Đại, Trung và Tiểu khí hậu), nước (nước mặt, nước ngầm và độ ẩm đất) và sinh vật. Ngoài việc tạo thành từ các nguồn vật chất: rắn, lỏng và khí, thành phần sinh học giữ một vai trò quan trọng đối với thuộc tính hữu cơ và độ phì của đất.” (A. Ph. Triosnhicôp, 1988. Bách khoa toàn thư Địa lý, tr.239). V.V. Docutraev(1879) - nhà thổ nhưỡng học người Nga là người đầu tiên nghiên cứu về đất trong mối quan hệ với những quy luật phát sinh và hình thành đất cho rằng: “Đất là một thể của tự nhiên có lịch sử riêng biệt và độc lập, được hình thành dưới tác động tương hỗ của các nhân tố như địa chất, địa hình, khí hậu, thủy văn, chất hữu cơ động thực vật, con người và thời gian”. Định nghĩa đầy đủ về đất có thể biểu thị ở dạng hàm toán học, chỉ ra tính phụ thuộc hàm số của đất và các nhân tố hình thành đất theo thời gian như sau: Đ = f [(Đa,Đh) (Kh,Tv) (Sv,Cn)]t Trong đó: Đ: Độ phì Đa: Đá mẹ - mẫu chất Đh: Địa hình Kh : Khí hậu Tv: Thủy văn Sv: Sinh vật Đh: Địa hình Cn: Con người t: Thời gian Năm 2002, FAO đã đưa ra khái niệm thoái hóa đất như sau: “Thoái hóa đất là sự suy giảm tạm thời hoặc vĩnh viễn khả năng sản xuất của đất”. Ở Việt Nam, theo tác giả Nguyễn Đình Kỳ: Thoái hoá tiềm năng là khả năng suy giảm độ phì tự nhiên của đất do các quá trình tự nhiên gắn với qui luật địa đới và phi địa đới. Thoái hoá tiềm năng được tổng hợp từ các yếu tố địa hình như độ dốc, chiều dài sườn, mẫu chất thành tạo đất, yếu tố khí hậu thổ nhưỡng chi phối các quá trình thoái hóa tự nhiên của đất đai. 4 Thoái hoá nhân tác (thoái hoá hiện tại) là mức độ suy thoái độ phì hiện tại của phẫu diện đất so với độ phì tự nhiên do quá trình khai thác, sử dụng của con người. Thoái hoá hiện tại thể hiện ở một tập hợp dấu hiệu hay một dấu hiệu như: Phẫu diện bị xáo trộn, xói mòn mất tầng A hay B, độ đá lẫn, đá lộ đầu tăng, cấu trúc đất bị phá vỡ, xuất hiện mặt chắn địa hoá, hàm lượng mùn suy giảm, các chất dinh dưỡng (N, P, K, Ca, Mg...) cũng giảm xuống qua giới hạn nghèo kiệt hoặc môi trường đất bị ô nhiễm. Hiện nay nghiên cứu thoái hóa đất đã và đang trở thành một trường phái nghiên cứu được nhiều nhà Địa lý chú trọng, đặc biệt trong bối cảnh Việt Nam đang đứng trước nguy cơ hoang mạc hóa rất lớn mà thoái hóa đất là một trong những nguyên nhân chính gây ra hiện tượng trên. Cụ thể hơn, các công trình thời kỳ này đã đi vào nghiên cứu theo chiều sâu với những vùng lãnh thổ đặc thù, từ đó làm cơ sở cho việc đề xuất các giải pháp sử dụng đất bền vững và cảnh báo. 1.2.2. Khái quát các quan điểm nghiên cứu - Quan điểm phát sinh học đất: Sự tác động tổng hợp của các yếu tố của cả tự nhiên như đá mẹ, địa hình, khí hậu, thủy văn, động thực vật và con người sẽ quyết định các quá trình hình thành các loại đất chính. Mỗi vùng địa lý tự nhiên sẽ có quá trình hình thành đất khác nhau trên cơ sở của sự tác động tương hỗ giữa các nhân tố hình thành đất có tính đặc trưng riêng. - Quan điểm hệ thống và tổng hợp: Khi nghiên cứu đặc điểm phát sinh đất cần phải xem xét đất trong một hệ thống tổng hợp có cấu trúc và chức năng trong mối tác động tương hỗ giữa các nhân tố hình thành đất. Khi nghiên cứu địa lý phát sinh đất cần phải hiểu rõ các mối quan hệ đó mới đi đến các kết luận về tính chất và sự phân bố đất. Để nhận thức đúng đắn bản chất của thoái hóa đất, hướng tới dự báo, kiểm soát quá trình thoái hóa cần thiết phải nghiên cứu trên quan điểm địa lý tổng hợp. - Quan điểm lịch sử: Theo quan điểm lịch sử, khi nghiên cứu và đánh giá tài nguyên đất cần xem xét diễn biến các quá trình đã xảy ra trong quá khứ có tầm quan trọng đặc biệt. Đất là một thể thống nhất và tổng hòa các mối quan hệ tương tác giữa con người và tự nhiên mà hiên trạng sử dụng đất và mô hình sản xuất ở hiện tại và trong quá khứ là tấm gương phản ánh lịch sử hình thành đất. - Quan điểm sử dụng đất bền vững: Sử dụng đất bền vững chính là quá trình sử dụng đất đạt được hiệu quả kinh tế cao, mặt khác giảm thiểu ảnh hưởng đến môi trường sinh thái đất trong tương lai. Theo quan điểm này khi phát triển cây chè ở khu vực nghiên cứu cần kết hợp đồng bộ và hiệu quả các tiềm năng, các nguồn tài nguyên, phục vụ phát triển bền vững và góp phần bảo vệ môi trường. 1.2.3. Phương pháp nghiên cứu - Phương pháp nghiên cứu tổng hợp địa lý phát sinh và thoái hóa đất * Phân tích tổng hợp dữ liệu: giúp tránh trùng lặp trong nghiên cứu, thừa kế các kết quả nghiên cứu trước đó theo hướng nghiên cứu của đề tài. * So sánh phẫu diện: Dấu hiệu thoái hóa đất trước hết thể hiện ở hình thái phẫu diện đất - kết quả của quá trình thành tạo đất. * Chỉ thị thực vật cho thoái hóa đất: Phân tích mối tương quan giữa thoái hóa với kiểu quần xã, độ che phủ, thành phần loài để xác định mức độ thoái hóa đất 5 * Đánh giá tổng hợp thoái hóa đất dựa trên ma trận tương quan giữa thoái hoá tiềm năng (T) và thoái hóa hiện tại (H) - Phương pháp khảo sát điều tra tổng hợp: Đề tài tiến hành khảo sát dọc theo tuyến giao thông trung tâm nối giữa Bảo Lâm, Bảo Lộc và Di Linh, khảo sát 03 điểm chìa khóa. Trong đó, tiến hành mô tả và lấy mẫu trên các vùng trồng chè khác nhau của Bảo Lộc - Di Linh, đồng thời thu thập các phẫu diện của các loại đất khác nhau. - Phương pháp tích hợp ALES - GIS trong đánh giá đất theo FAO: Tác giả đã tích hợp ALES - GIS để đánh giá thích hợp đất đai cho cây chè. Cấu trúc mô hình đánh giá thích hợp trên nền ALES - GIS bao gồm ba bộ phận: Thứ nhất là nhu cầu sinh thái cây chè và bản đồ đơn vị đất đai của khu vực Bảo Lộc - Di Linh. Thứ hai là nhập, xử lý và đánh giá, xuất dữ liệu nhờ ALES - GIS . Thứ ba là dữ liệu đầu ra là ma trận thích hợp liên kết với bản đồ đánh giá thích hợp của cây chè ở Bảo Lộc - Di Linh. - Phương pháp viễn thám, bản đồ và hệ thông tin địa lý: Tác giả đã sử dụng các phần mềm GIS và phần mềm bản đồ như MapInfo 10.5 để biên tập các bản đồ thành phần, ArcGIS 9.3 để chồng xếp, nắn chỉnh các bản đồ trong quá trình thành lập bản đồ thoái hóa đất tiềm năng, thoái hóa đất hiện tại và tổng hợp thoái hóa đất. - Phương pháp chuyên gia: Là phương pháp được thực hiện thông qua các cuộc trao đổi trực tiếp với các chuyên gia có kinh nghiệm trong lĩnh vực nghiên cứu. - Phương pháp phân tích đặc tính lý hóa đất trong phòng thí nghiệm: Các mẫu đất thu thập được phân tích các chỉ tiêu hóa lý đất để xác định hàm lượng các chất: N, P, K, độ pH, thành phần cơ giới… theo các phương pháp khác nhau. Trên cơ sở kết quả phân tích có thể xác định tính chất lý hóa và hàm lượng dinh dưỡng của từng loại đất, từ đó đưa ra những nhận xét đánh giá mức độ thoái hóa đất. Chƣơng 2 - ĐẶC ĐIỂM ĐỊA LÝ PHÁT SINH VÀ THOÁI HÓA ĐẤT KHU VỰC BẢO LỘC DI LINH – TỈNH LÂM ĐỒNG 2.1. Đặc điểm hình thành và thoái hóa đất 2.1.1. Vị trí địa lý Khu vực nghiên cứu bao gồm huyện Bảo Lâm, thành phố Bảo Lộc và huyện Di Linh (gọi là Bảo Lộc - Di Linh) với tổng diện tích 331.063 ha, có tọa độ địa lý: - Từ 11012’57” đến 11055’30” vĩ độ Bắc; - Từ 107029’34’’ đến 108018’46” kinh độ Đông. Khu vực nghiên cứu có phía Bắc giáp các huyện Đắk Nia, Đắk R’lấp, Quảng Khê của tỉnh Đắk Nông; phía Nam giáp huyện Tánh Linh, Hàm Thuận Bắc, Bắc Bình tỉnh Bình Thuận. Phía Đông giáp các huyện Đa Huoai, Đạ Tẻh, Cát Tiên và phía Tây giáp huyện Lâm Hà, Đức Trọng đều thuộc tỉnh Lâm Đồng. 2.1.2. Quan hệ địa chất, địa mạo - thổ nhưỡng 2.1.2.1. Địa chất Trong mối quan hệ phát sinh đất, theo nguồn gốc thành tạo và thành phần cơ bản của đá mẹ có thể chia các mẫu chất vừa mô tả trên thành các nhóm: Nhóm 1: Các đá phiến sét và phiến sa là trầm tích của hệ tầng La Ngà có thành phần bột sét đến bột cát. 6 Nhóm 2: Các đá mác ma axít là các đá thuộc hệ tầng Định Quán có thành phần thạch học như: granit, granit biotit,… Nhóm 3: Các đá macma trung tính đến axít yếu là các thành tạo núi lửa của hệ tầng Đèo Bảo Lộc gồm các đá phun trào trung tính đến axít yếu, có màu đỏ như: andesit, ryolit, andesitobazan… Nhóm 4: Đá bazan bao gồm các phun trào núi lửa của hệ tầng Đại Nga, Tân Phát có đặc điểm giàu nhôm và magiê, ít silic. Vỏ phong hóa bazan này thường chứa lớp bôxít - laterit có giá trị lớn. Nhóm 5: Mẫu chất phù sa và dốc tụ thuộc trầm tích Holocene và trầm tích hệ Đệ tứ không phân chia. 2.1.2. Địa hình, địa mạo Địa hình của Bảo Lộc - Di Linh rất phong phú và đa dạng từ dải đồng bằng đáy thung lũng nhỏ hẹp đến các dãy đồi rìa chân núi, cao nguyên, bề mặt các cao nguyên đến hình thái dãy núi trung bình, khối núi sót bóc mòn được chia làm 5 nhóm địa hình, 12 kiểu địa hình, trong đó địa hình cao nguyên là hình thái đặc trưng. - Đồng bằng đáy trũng giữa núi xâm thực - bóc mòn, bề mặt nghiêng, lượn sóng, bị phân cắt, bị phủ bởi vật liệu aluvi, coluvi và vỏ phong hóa dày. - Đồng bằng đáy thung lũng xâm thực - tích tụ trên bề mặt cao nguyên với bề mặt nghiêng thoải, lượn sóng, vỏ phong hóa dày, đôi chỗ được phủ bởi vật liệu aluvi. - Đồi và dãy đồi rìa cao nguyên sườn thoải, bị chia cắt mạnh, cấu tạo bởi đá trầm tích lục nguyên vỏ phong hóa mỏng. - Đồi và dãy đồi chân núi sườn thoải, bị chia cắt mạnh, cấu tạo bởi đá trầm tích lục nguyên, vỏ phong hóa mỏng. - Cao nguyên bazan, dạng vòm phủ chia cắt yếu với bề mặt lượn sóng mềm mại. Vỏ phong hóa dày có kết von laterit - bôxít, cao < 900 m. - Cao nguyên bazan, dạng vòm phủ chia cắt yếu với bề mặt lượn sóng mềm mại. Vỏ phong hóa dày có kết von laterit - bôxít, cao > 1.000 m. - Cao nguyên bóc mòn cao < 900 m, cấu tạo chủ yếu bởi trầm tích lục nguyên, bề mặt dạng đồi với đáy thung lũng hẹp, sườn dốc. - Cao nguyên bóc mòn cao > 1.000 m, cấu tạo bởi đá granođiorit, granit xen trầm tích lục nguyên, bề mặt dãy đồi với đáy thung lũng rộng, sườn thoải đỉnh bằng. - Khối núi trung bình (1.000 - 1.500 m) sót bóc mòn chọn lọc, sườn dốc lồi, cấu tạo bởi granit. Lớp vỏ phong hóa trung bình lẫn nhiều tảng lăn. - Dãy núi trung bình (1.000 - 1.500 m) bị chia cắt mạnh, sườn dốc thẳng, cấu tạo chủ yếu bởi đá macma xâm nhập và các thành tạo trầm tích, phun trào bị biến chất bao quanh. - Khối núi sót cao (<1.500 m), bóc mòn cấu tạo bởi đá Đaxit, riolit - đaxit, xen trầm tích lục nguyên, vỏ phong hóa dày, sườn lồi dốc thoải. Kiểu địa hình phân bố chủ yếu ở phía Đông Nam huyện Di Linh, thuộc xã Hòa Bắc, Hòa Trung, Bảo Thuận. 2.1.3. Quan hệ khí hậu, thủy văn - thổ nhưỡng 2.1.3.1. Khí hậu Lượng bức xạ tổng cộng cả năm ở điều kiện thực tế là 128 KCal/cm2.năm. Trung bình mỗi năm có khoảng 2.000 – 2.040 giờ nắng. Trong mùa khô, tác động của tín phong và gió 7 mùa Đông Bắc vẫn cho khu vực một lượng mưa mùa khô lớn nhất Tây Nguyên. Trong mùa mưa, chịu tác động của hai luồng không khí đối nghịch hướng là hoàn lưu tín phong và gió mùa Tây Nam. Nhiệt độ trung bình năm thấp 22,8oC, ôn hòa, ít biến động theo mùa, mức độ chênh lệch giữa tháng nóng nhất và tháng lạnh nhất ở khoảng 3 - 4 oC, biên độ dao động nhiệt giữa ngày và đêm khá lớn. Lượng mưa trung bình năm 2.295 mm. Mùa mưa bắt đầu từ tháng IV và kết thúc vào tháng XI. Mùa khô ngắn bắt đầu từ tháng XI đến tháng IV năm sau. Lượng mưa phân bố không đồng đều giữa các tháng trong năm, chủ yếu tập trung vào mùa mưa. Độ ẩm tương đối trung bình năm ở khu vực nghiên cứu cao, đạt 85,5%. 2.1.3.2. Thủy văn Có thể thấy, các sông suối trong khu vực nghiên cứu có lòng sông hẹp, dốc, khả năng bồi đắp phù sa kém vì vậy chỉ xuất hiện những dải đất phù sa hẹp chạy dọc theo các triền sông. Lượng nước khá dồi dào và chia làm hai mùa: mùa lũ chiếm trên 80% lượng nước cả năm, mùa kiệt chỉ khoảng 15-20%, nên thường gây lũ lụt trong mùa lũ và thiếu nước trong mùa khô. Khu vực nghiên cứu nằm trong hệ thống lưu vực của 2 sông lớn: Sông La Ngà và sông Đồng Nai. 2.1.4. Đặc điểm thảm thực vật Do phân bố trên các đai cao khác nhau nên hình thành nhiều kiểu thảm thực vật rừng khác nhau, đặc biệt các khu rừng đặc dụng thể hiện khá đầy đủ những hệ sinh thái rừng tiêu biểu của khu vực Bảo Lộc - Di Linh với 6 kiểu rừng chính là: Rừng lá rộng thường xanh, rừng rụng lá, rừng tre nứa, rừng hỗn giao gỗ tre nứa, rừng lá kim, rừng hỗn giao lá rộng lá kim và thảm thực vật nhân tác gồm rừng trồng, quần hệ cây trồng lâu năm, quần hệ cây trồng hàng năm. 2.1.5. Con người và các hoạt động phát triển kinh tế - xã hội Theo kết quả tổng điều tra dân số năm 2010, tổng dân số của khu vực Bảo Lộc – Di Linh là 416.851 người, trong đó Di Linh là huyện có quy mô dân số lớn nhất với 154.786 người, thành phố Bảo Lộc có quy mô dân số lên đến 148.654 người thì dân số huyện Bảo Lâm là 109.343 người. Mật độ dân số trung bình là 126 người/km2. Thành phố Bảo Lộc tập trung đông dân cư nhất, với mật độ lên đến 646 người/km2. Trong khi đó, mật độ dân số Di Linh và Bảo Lâm thấp hơn rất nhiều, đều dưới 100 người/km2. Nhìn chung, ngoài Bảo Lộc, nền kinh tế của Bảo Lâm và Di Linh vẫn phụ thuộc nhiều vào nông nghiệp, tốc độ tăng trưởng kinh tế phụ thuộc nhiều vào giá cả nông sản. Cơ cấu kinh tế về cơ bản vẫn là nông nghiệp - dịch vụ - công nghiệp, trong đó công nghiệp vẫn là ngành chiếm tỷ trọng nhỏ. Trong khi đó, thành phố Bảo Lộc là khu vực có ngành công nghiệp - xây dựng phát triển nổi bật, chiếm tới gần 45% tổng giá trị sản xuất. Năm 2010 GDP bình quân đầu người của Thành phố Bảo Lộc cao nhất, đạt 21,97 triệu đồng/người/năm; sau đó là Bảo Lâm với 18,81 triệu đồng/người, Di Linh là 18,50 triệu đồng/người. 8 2.2. Hiện trạng sử dụng đất và canh tác chè ở khu vực nghiên cứu 2.2.1. Hiện trạng sử dụng đất Trong nhóm đất nông nghiệp, đất lâm nghiệp chiếm diện tích lớn 175.879 ha, đất sản xuất nông nghiệp chiếm khoảng 42%, đất nuôi trồng thủy sản 614 ha, đất nông nghiệp khác 29 ha. Đất phi nông nghiệp chiếm 5,74% tổng diện tích tự nhiên toàn khu vực. Đất phi nông nghiệp chiếm tỷ lệ cao ở các khu vực có tốc độ đô thị hóa mạnh như: trung tâm thành phố Bảo Lộc, thị trấn Lộc Thắng, thị trấn Di Linh, xã Lộc An, xã Hòa Ninh… Diện tích đất chưa sử dụng chiếm 1,84% trong tổng diện tích tự nhiên, trong đó chủ yếu là đất đồi núi chưa sử dụng, tập trung ở huyện Di Linh hơn 3.300 ha, đất bằng chưa sử dụng phân bố rải rác. Đây có thể coi là “đất trống, đồi núi trọc”. 2.2.2. Hiện trạng canh tác chè Nếu như những năm 2000 trở về trước, chè được trồng chủ yếu ở Bảo Lộc, Bảo Lâm thì đến nay diện tích chè đã mở rộng ra các xã Lộc Thành, Lộc Tân, giảm ở Lộc Quảng, Lộc Bắc của Bảo Lâm. Tại thành phố Bảo Lộc, chè được phát triển thêm ở Đạ M’bri, Lộc Sơn, phường 2. Giai đoạn 2005 - 2007 diện tích chè ở Di Linh tăng nhanh, chè được mở rộng thêm ở các xã Tân Châu, Liên Đầm, Hòa Ninh, Hòa Nam…[22]. Bảng 2.1. Diên tích trồng chè ở Bảo Lộc - Di Linh (giai đoạn 2005 - 2011) 2005 Tổng số 1. Huyện Bảo Lâm 2006 Đơn vị: ha Kế hoạch 2012 2008 2009 2010 2011 25.535 26.553 24.083 23.900 23.557 23.529 23.911 12.341 13.478 13.188 13.255 13.246 13.350 13.350 2. TP. Bảo Lộc 9.661 9.544 8.713 8.475 8.208 8.050 8.250 3. Huyện Di Linh 2.015 2.015 1.019 983 886 886 950 Các huyện khác 1.518 1.516 1.163 1.187 1.217 1.243 1.361 Nguồn: Sở Nông nghiệp và phát triển nông thôn tỉnh Lâm Đồng Trong những năm gần đây, địa phương đã tích cực chuyển đổi giống chè, nhiều giống chè mới có năng suất và chất lượng cao như: Ôlong, Kim Tuyến, Thúy Ngọc, Tứ quý xuân… giống chè cao sản như: TB14, LD97, LDP1, LDP2... Bảng 2.2. Sản lƣợng chè búp tƣơi khu vực Bảo Lộc – Di Linh giai đoạn 2005-2011 Đơn vị: tấn Kế hoạch 2005 2006 2008 2009 2010 2011 2012 Tổng số 1. Huyện Bảo Lâm 2. TP. Bảo Lộc 3. Huyện Di Linh Các huyện khác 161.938 170.543 178.979 171.683 204.031 209.016 80.735 63.982 10.350 6871 80.500 70.696 11.480 7867 92.340 74.446 6.499 5694 97.340 117.761 123.657 60.773 72.707 68.817 6.615 5.640 7.656 6955 7923 8886 212.948 122.200 72.900 7.920 9928 Nguồn: Sở Nông nghiệp và phát triển nông thôn tỉnh Lâm Đồng 9 Các vùng chuyên canh chè tập trung đã ứng dụng công nghệ tưới phun, tưới nhỏ giọt, sử dụng các loại hóa chất và phân bón không có hại cho môi trường. Đồng thời, người trồng chè cũng sử dụng các biện pháp thâm canh phù hợp để đảm bảo diện tích trồng giống mới cho năng suất cao, chất lượng nguyên liệu tốt. 2.3. Các quá trình phát sinh và thoái hóa đất Các quá trình phát sinh và thoái hóa đất chủ yếu là quá trình mùn hóa, khoáng hóa; quá trình feralit hình thành đất đỏ vàng, quá trình laterit - đá ong hóa, quá trình bồi tụ hình thành đất phù sa, quá trình glây, quá trình xói mòn rửa trôi bề mặt và quá trình nhân tác 2.4. Đặc điểm lớp phủ thổ nhưỡng 2.4.1. Hệ thống phân loại đất khu vực Bảo Lộc – Di Linh Theo phân loại theo phát sinh học đất, hệ thống phân loại đất khu vực Bảo Lộc - Di Linh bao gồm 10 đơn vị đất, thuộc 5 nhóm đất. Sự phân bố không gian của các đơn vị đất được thể hiện trên bản đồ đất khu vực Bảo Lộc - Di Linh tỷ lệ 1: 50.000. Bảng 2.3. Hệ thống phân loại đất khu vực Bảo Lộc - Di Linh tỷ lệ 1: 50.000 TÊN THEO FAO-UNESCO DIỆN TÍCH (ha) TỶ LỆ (%) TT KÝ HIỆU I P Nhóm đất phù sa Fluvisols 7.629,24 2,30 1 Py Đất phù sa ngòi suối Dystric Fluvisols 4.741,17 1,43 2 Pg Đất phù sa glây Gleyic Fluvisols 2.888,08 0,87 II 3 R Ru Nhóm đất đen Đất nâu thẫm trên bazan Luvisols Humic Luvisols 2.893,42 0,87 2.893,42 0,87 III Fđ Nhóm đất đỏ vàng Ferralsols/ Acrisols 305.468,06 92,27 4 Fk Đất nâu đỏ trên đá bazan Humic Ferralsols 35.864,35 10,83 5 Fu Đất nâu vàng trên đá bazan Xanthic Ferralsol 82.970,53 25,06 6 Fd Đất đỏ vàng trên đá mac ma trung tính và axit yếu Rhodi- Skeletic Acrisols 14.371,05 4,34 7 Fs Đất đỏ vàng trên đá phiến sét Ferralic Acrisols 63.500,13 19,18 8 Fa Đất vàng đỏ trên đá mac ma axít Ferralic Acrisols 108.762,00 32,85 IV H Alisols 1.132,25 0,34 9 Ha Đất mùn vàng đỏ trên núi Đất mùn vàng đỏ trên đá mac ma axít 1.132,25 0,34 7.100,03 2,14 7.100,03 2,14 324.223 97,93 6.777 2,05 63 0,02 V 10 D TÊN ĐẤT Nhóm đất thung lũng do sản phẩm dốc tụ Đất thung lũng do sản phẩm dốc tụ Humic Alisols Gleysols Dystric Gleysols Tổng diện tích Sông suối, mặt nước Núi đá 10 Tổng diện tích 331.063 100,00 Trong khu vực xã Bảo Lộc - Di Linh, nhóm đất đỏ vàng chiếm ưu thế với 92,77% DTTN với 305.468,06 ha. Nhóm đất mùn đỏ vàng trên núi có diện tích nhỏ nhất 1.132,25 (0,42 % DTTN). Trong 10 đơn vị đất, đất vàng đỏ trên đá mác ma axít (Fa) có diện tích lớn nhất 108.762,00 ha, tương đương 32,85% DTTN, nhỏ nhất là đất mùn vàng đỏ trên đá mác ma axít (Ha). 2.4.2. Thoái hóa đất tiềm năng và thoái hóa đất hiện tại khu vực nghiên cứu * Thoái hóa tiềm năng: Nguyên nhân của thoái hóa trước tiên bắt nguồn từ cấu trúc lớp phủ thổ nhưỡng kém bền vững như: đất núi dốc phân cắt, thành phần cơ giới của đất thô, độ bền gắn kết cấu trúc thấp do phong hóa hóa học triệt để… Đồng thời, điều kiện phát sinh đất có nhiều cực đoan như chế độ mưa mùa tập trung, quá trình laterit phát triển, các hiện tượng xói lở, trượt đất... Như vậy, mỗi yếu tố địa lý phát sinh đất thể hiện một khả năng dẫn đến thoái hóa được phân cấp như sau: Bảng 2.4. Tiêu chí đánh giá thoái hóa đất tiềm năng khu vực nghiên cứu TT Tiêu chí đánh giá I 1 2 3 4 II 5 6 7 8 9 Nhóm loại đá mẹ/mẫu chất Nhóm phù sa, dốc tụ Nhóm đá bazan Nhóm đá phiến sét, phiến sa Nhóm đá macma axít và biến chất Hình thái địa hình Đồng bằng đáy trũng giữa núi xâm thực – bóc mòn Đồng bằng đáy thung lũng xâm thực – tích tụ Đồi và dãy đồi rìa cao nguyên sườn thoải, bị chia cắt mạnh Đồi và dãy đồi chân núi sườn thoải, bị chia cắt mạnh Cao nguyên bazan, dạng vòm phủ, chia cắt yếu. Vỏ phong hóa dày có kết von laterit – bôxít Cao nguyên bóc mòn, bề mặt dạng đồi với đáy thung lũng hẹp, sườn dốc. Cao nguyên bóc mòn, bề mặt dãy đồi với đáy thung lũng rộng, sườn thoải đỉnh bằng. Khối núi sót trung bình, bóc mòn chọn lọc, sườn dốc lồi, cấu tạo bởi granit Dãy núi trung bình bị chia cắt mạnh, sườn dốc thẳng Khối núi sót cao bóc mòn, cấu tạo bởi đá macma axit Độ dốc Độ dốc phổ biến < 30 Độ dốc phổ biến 3 - 80 Độ dốc phổ biến 8 - 150 Độ dốc phổ biến > 250 Độ cao Độ cao dưới 600 m Độ cao 600 - 1.000 m 10 11 12 13 14 III 15 16 17 18 IV 19 20 11 Mức độ thoái hóa Điểm Yếu 1 Trung bình Mạnh 2 3 Yếu 1 Trung bình 2 Yếu 1 Mạnh 3 Trung bình 2 Mạnh 3 Yếu 1 Trung bình Mạnh 2 3 Yếu Trung bình 1 2 21 22 IV 23 24 25 VII 26 Độ cao 1.000 - 1.600 m Độ cao trên 1.600 m Tầng dày > 100 cm 70 - 100 cm < 70 cm Kiểu sinh khí hậu Khu vực có mưa nhiều đến rất nhiều và mùa khô ngắn (IIB0a, IIA0a,IIIA1a) 27 28 29 Khu vực mưa vừa và mùa khô trung bình (IIC0b, IIIC1b) Mưa ít, mùa khô trung bình (IID0b) Khu vực có mưa nhiều đến rất nhiều và mùa khô trung bình (IA0b, IIA0b, IB0b, IIB0b) Mạnh 3 Yếu Trung bình Mạnh 1 2 3 Yếu 1 Trung bình 2 Mạnh 3 Khu vực mưa ít và mùa khô dài (ID0c) Việc đánh giá mức độ thoái hóa thông qua việc phân tích và tổ hợp các bản đồ thành phần, tích hợp theo ma trận tương quan các tiêu chí đánh giá cho phép phân chia tiềm năng thoái hóa đất khu vực Bảo Lộc – Di Linh thành 3 cấp như sau: T1: Tiềm năng thoái hóa yếu T2: Tiềm năng thoái hóa trung bình T3: Tiềm năng thoái hóa mạnh đến rất mạnh. 30 - Tiềm năng thoái hóa yếu (T1): Chiếm diện tích tương đối lớn 100.090,83 ha tương ứng 30,23% DTTN. Loại thoái hoá này phân bố chủ yếu ở bề mặt cao nguyên bazan Di Linh Bảo Lộc và các khu vực đồng bằng dọc theo các thung lũng sông. Các khu vực này là nơi tập trung dân cư, canh tác hoa màu và cây lâu năm quy mô vườn tạp hộ gia đình. - Tiềm năng thoái hóa trung bình (T2): Xuất hiện ở vùng chuyển tiếp giữa các kiểu cao nguyên và địa hình núi với quy mô 81.105,77 ha, chiếm 24,50% tổng DTTN. Trên bản đồ thoái hóa đất tiềm năng cho thấy sự phân bố tập trung của loại thoái hóa này các xã Lộc Bắc, Lộc Bảo, Lộc Lâm của Bảo Lâm; Gung Ré, Hòa Trung, Bảo Thuận, Tam Bố của Di Linh. Diện tích còn lại phân bố phổ biến ở các xã Lộc Quảng, Lộc Phú, Lộc Tân - Bảo Lâm; Lộc Châu - Bảo Lộc; Đinh Trang Thượng, Sơn Điền, Lộc Thành - Di Linh. Bảng 2.5. Quy mô thoái hóa đất tiềm năng khu vực Bảo Lộc – Di Linh Cấp thoái hóa T1 T2 T3 Tổng diện tích đất Sông suối Núi đá Tổng diện tích Bảo Lâm Bảo Lộc 41.796,62 43.843,79 58.929,59 144.570,00 1.771,00 2,00 146.343,00 16.218,59 1.557,35 4.725,06 22.501,00 755,00 0,00 23.256,00 12 Tổng diện tích Tỷ lệ các cấp thoái hóa 42.075,62 30,23 100.090,83 35.704,64 24,50 81.105,77 79.371,74 43,20 143.026,40 157.152,00 97,93 324.223,00 4.251,00 6.777,00 2,05 61,00 63,00 0,02 161.464,00 331.063,00 100,00 Nguồn: Kết quả tính toán của đề tài Di Linh - Tiềm năng thoái hóa mạnh (T3) trong khu vực nghiên cứu là rất lớn, chiếm 43,20% tổng diện tích. Với 143.026,40 ha, đất có tiềm năng thoái hóa mạnh đến rất mạnh phân bố thành một dải rộng từ Lộc Phú, Lộc Lâm đến Lộc Bảo, xuống đến Lộc Tân của huyện Bảo Lâm, phần lớn diện tích thuộc thị trấn Di Linh, các xã Bảo Thuận, Tam Bố, Gung Ré của huyện Di Linh. Đối với thành phố Bảo Lộc, tiềm năng thoái hóa mạnh chỉ tập trung ở xã Lộc Châu. - Thoái hóa đất hiện tại: Bảng 2.6. Mức độ thoái hóa đất qua hiện trạng thảm thực vật và hiện trạng sử dụng đất TT Hiện trạng thảm thực vật hoặc loại hình sử dụng đất Mức độ thoái hoá đất Trên các loại đất chủ yếu 1 Rừng cây lá rộng thường xanh Không hoặc nhẹ Fa, Fs 2 Rừng lá kim, rừng hỗn giao lá rộng lá kim Không hoặc nhẹ Ha, Fa, Fs, Ru 3 Rừng tre nứa, rừng hỗn giao gỗ tre nứa 4 Rừng rụng lá 5 Rừng trồng 6 Đất chuyên trồng lúa nước Không hoặc nhẹ Pg, Py, D 7 Đất trồng cây công nghiệp lâu năm Không hoặc nhẹ Fk, Fu, Fd 8 Đất trồng cây hàng năm Trung bình Pg, Py, D Trung bình Fa, Fs Mạnh Fa, Fs Trung bình Fu, Fk Đất chuyên dùng (khu dân cư, khai thác Mạnh Fk, Fu, Fd, Fa khoáng sản, vật liệu xây dựng…) Đất đồi núi chưa sử dụng, đất bằng chưa sử 10 Mạnh Fa, Fs, Núi đá dụng Cơ sở để thành lập bản đồ thoái hoá đất hiện tại là các tính chất của đất thoái hoá và được thể hiện trên các loại hình sử dụng đất. Có thể nói thoái hoá tiềm năng là thoái hoá tự nhiên, còn thoái hoá hiện tại là thoái hoá nhân tác. Bản đồ được phân hạng khái quát theo mức độ thoái hoá, với 3 cấp: H1: Không thoái hóa hoặc thoái hóa nhẹ; H2: Thoái hóa trung bình; H3: Thoái hóa nặng. Bảng 2.7. Quy mô thoái hóa đất hiện tại khu vực Bảo Lộc – Di Linh 9 Cấp thoái hóa H1 H2 H3 Tổng diện tích đất Sông suối Núi đá Tổng diện tích Bảo Lâm 87.167,78 33.135,96 24.266,26 144.570,00 1.771,00 2,00 146.343,00 Bảo Lộc 15.815,48 1.084,73 5.600,79 22.501,00 755,00 0,00 23.256,00 13 Di Linh Tổng diện tích Tỷ lệ 85.610,81 56,97 188.594,07 42.554,71 23,19 76.775,40 28.986,48 17,78 58.853,53 157.152,00 97,93 324.223,00 4.251,00 6.777,00 2,05 61,00 63,00 0,02 161.464,00 100,00 331.063,00 Nguồn: Kết quả tính toán của đề tài Diện tích đất thoái hóa nhẹ H1 trong khu vực nghiên cứu chiếm ưu thế với tỷ lệ 56,97% DTTN, tương ứng 188.594,07 ha. Đất có mức độ thoái hóa nhẹ phân bố chủ yếu ở các xã Lộc Tân, Lộc An, phía Đông xã Lộc Bảo, Lộc Bắc của Bảo Lâm; Tân Châu, thị trấn Di Linh, phía Bắc xã Bảo Thuận của huyện Di Linh, Lộc Châu của thành phố Bảo Lộc. - Đất thoái hóa trung bình (H2): trong khu vực Bảo Lộc - Di Linh có phần lớn diện tích phân bố tập trung ở phía Bắc - Đông Bắc huyện Bảo Lâm và các xã phía Nam huyện Di Linh như Hòa Bắc, Gung Ré, Hòa Trung, Tam Bố. Diện tích còn lại phân bố rải rác chủ yếu xen giữa đất có mức độ thoái hóa nhẹ H1 như ở Lộc Bắc, Lộc Quảng (Bảo Lâm); Liên Đầm, thị trấn Di Linh (Di Linh). Quy mô thoái hóa đất trung bình của khu vực nghiên cứu là 76.775,40 ha, chiếm 23,19% DTTN. - Đất thoái hóa nặng (H3): Là đất suy giảm độ phì nhiêu đến mức kiệt quệ làm biến đổi hoàn toàn đặc tính phát sinh đất, khả năng phục hồi chúng rất khó khăn và sử dụng phải đầu tư tốn kém. Đất thoái hóa nặng trong khu vực nghiên cứu có quy mô không nhiều. Với 58.853,53 ha, chiếm 17,78% DTTN, mức độ thoái hóa này phân bố trên bảng đồ dạng da báo ở hầu hết các xã của Di Linh, Bảo Lâm và Bảo Lộc. 2.4.3. Tổng hợp thoái hóa đất khu vực Bảo Lộc – Di Linh Đánh giá tổng hợp thoái hóa đất khu vực Bảo Lộc – Di Linh trên cơ sở lập ma trận tương quan giữa thoái hoá đất tiềm năng (T) và thoái hoá đất hiện tại (H). Như vậy, thoái hoá đất tổng hợp ở Bảo Lộc – Di Linh được phân thành các cấp sau: - BL1: Đất thoái hoá nhẹ (được tập hợp từ các mức độ không thoái hóa đến thoái hóa nhẹ: T1H1, T2H1, T1H2); - BL2: Đất thoái hoá trung bình (được tập hợp từ các mức độ thoái hóa trung bình nhẹ đến thoái hóa ít mạnh : T2H2, T1H3, T3H1); - BL3: Đất thoái hoá mạnh (được tập hợp từ các tổ hợp thoái hóa mạnh đến rất mạnh: T2H3, T3H2 và T3H3). Bảng 2.8. Quy mô thoái hóa đất tổng hợp khu vực Bảo Lộc – Di Linh Cấp thoái hóa Bảo Lâm BL1 51.872,31 BL2 65.128,67 BL3 27.569,02 Tổng diện tích đất 144.570,00 Sông suối 1.771,00 Núi đá 2,00 Tổng diện tích 146.343,00 Bảo Lộc 13.032,57 7.967,13 1.501,30 22.501,00 755,00 0,00 23.256,00 Di Linh 43.561,09 68.676,85 44.914,06 157.152,00 4.251,00 61,00 161.464,00 Đơn vị tính: ha Tổng diện tích Tỷ lệ (%) 32,76 108.465,98 42,82 141.772,65 22,35 73.984,37 324.223,00 97,93 6.777,00 2,05 63,00 0,02 100,00 331.063,00 Nguồn: Kết quả tính toán của đề tài 2.4.4. Một số vấn đề thoái hóa đất trồng chè - Thoái hóa vật lý: Quá trình dẫm đạp của con người để chăm sóc, thu hoạch chè trong thời gian dài khiến bề mặt đất trở nên chặt cứng, chai lì, khả năng thấm nước kém đi. Tỷ lệ sét lớp đất mặt trung bình của các mẫu đất trồng chè trong khu vực nghiên cứu là 26,3 - 39,20% và có thành phần cơ giới phổ biến là thịt trung bình, hàm lượng sét tăng dần theo chiều sâu phẫu diện... Quá trình khai thác đất canh tác chè nhiều năm đã tạo điều kiện thúc đẩy quá 14 trình rửa trôi các cấp hạt sét ở tầng đất mặt đều giảm mạnh. Các biểu hiện suy giảm về thành phần cơ giới, kết cấu đất trong hình thái phẫu diện là những biểu hiện rõ rệt của các dấu hiệu thoái hóa về tính chất vật lý. - Thoái hóa hóa học: Số liệu kết quả phân tích một số mẫu đất trồng chè đại diện tại khu vực nghiên cứu cho thấy đất có phản ứng chua đến rất chua, mặc dù đặc điểm của cây chè là ưa chua, nhưng với độ pH thấp như trên cũng thể hiện phần nào đó mức độ suy thoái đất. Hàm lượng mùn tầng mặt khá do được bón phân thường xuyên nhưng giảm mạnh ở những tầng dưới, hàm lượng đạm, lân, kali tổng số tầng đất mặt khá đến giàu, kali dễ tiêu rất nghèo đến nghèo. Tình hình sử dụng phân bón cho cây chè của nông dân trồng chè không theo các quy trình kỹ thuật đã được ban hành; bón phân cho cây chè chủ yếu theo kinh nghiệm. Lượng phân bón các loại hàng năm bón cho cây chè chưa hợp lý và không cân đối, không hoặc rất ít sử dụng phân bón hữu cơ vi sinh, lượng bón phân hữu cơ quá thấp, bón quá dư thừa phân vô cơ, đặc biệt là lượng phân lân. Kỹ thuật bón phân không đảm bảo, bón rải trên mặt đất là chủ đạo. Việc sử dụng phân bón không cân đối không những gây ảnh hưởng xấu đến đất đai, làm kết cấu đất bị phá vỡ, giảm sút khả năng giữ nước, giữ phân, gia tăng dịch bệnh. Bón phân không hợp lý, chất hữu cơ trong đất nghèo thường làm cho cấu trúc đất bị thoái hóa, dung trọng đất tăng, giảm độ xốp làm đất trở nên chặt, rễ cây khó phát triển. Chƣơng 3 - ĐÁNH GIÁ THÍCH HỢP ĐẤT ĐAI VÀ ĐỀ XUẤT MỘT SỐ GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG ĐẤT TRỒNG CHÈ Ở BẢO LỘC – DI LINH, TỈNH LÂM ĐỒNG 3.1. Đặc điểm sinh thái của cây chè 3.1.1. Yêu cầu về nhiệt độ, ánh sáng và gió Độ nhiệt bình quân hàng năm để cây chè sinh trưởng tốt trong phạm vi 22 - 28oC. Búp chè sinh trưởng chậm ở 15-18 oC, dưới 10 oC hoặc trên 30 oC chè mọc rất chậm. Độ nhiệt quá thấp hoặc quá cao đều giảm thấp việc tích lũy tannin. Điều kiện nhiệt độ trên 40 oC chè bị khô xém nắng lá non. Chè yêu cầu lượng tích nhiệt hàng năm 3.500 - 4.000oC. Gió nhẹ và có mưa có lợi cho sự sinh trưởng của chè vỡ nụ có tác dụng cân bằng nước của cây. 3.1.2. Yêu cầu về nước và chế độ ẩm Chè là loại cây ưa ẩm, là cây thu hoạch búp, lá non nên cần nhiều nước. Tổng lượng nước mưa bình quân trong một năm đối với cây chè khoảng 1.500 – 2.000 mm và mưa phân bố đều trong các tháng. Bình quân lượng mưa của các tháng trong thời kỳ chè sinh trưởng phải lớn hơn hoặc bằng 100 mm. Chè yêu cầu độ ẩm không khí cao, thời kỳ sinh trưởng của chè độ ẩm thích hợp khoảng 80 - 85%. 3.1.3. Yêu cầu về đất đai So với một số cây trồng khác, chè yêu cầu về đất không nghiêm khắc lắm. Song để cây chè sinh trưởng tốt, năng suất cao và ổn định thì đất trồng chè phải đạt những yêu cầu sau: nhiều mùn, chua và thoát nước. Độ pH thích hợp cho chè phát triển là 4,5 - 6,0. Đất trồng phải có độ sâu ít nhất là 80 cm, mực nước ngầm phải dưới 1 m. 3.2. Bản đồ đơn vị đất đai khu vực Bảo Lộc – Di Linh 3.2.1. Lựa chọn và phân cấp chỉ tiêu xây dựng bản đồ đơn vị đất đai * Phân cấp về loại đất: 15 - G1: Nhóm đất phù sa và dốc tụ - G2: Nhóm đất đen - G3: Nhóm đất nâu đỏ và nâu vàng trên đá bazan - G4: Nhóm đất đỏ vàng - G5: Nhóm đất vàng đỏ - G6: Nhóm đất mùn vàng đỏ * Phân cấp độ dốc: - SL1: Đất có độ dốc dưới 30 - SL2: Đất có độ dốc từ 3 - 80 - SL3: Đất có độ dốc từ 8 - 150 - SL4: Đất có độ dốc trên 150 * Phân cấp tầng dày: - D1: Đất có tầng dày từ 100 cm trở lên - D2: Đất có tầng dày từ 70 - 100 cm - D3: Đất có tầng dày dưới 70 cm * Phân cấp thành phần cơ giới: - C1: Đất có thành phần cơ giới cát pha - C2: Đất có thành phần cơ giới thịt nhẹ - C3: Đất có thành phần cơ giới thịt trung bình đến nặng * Phân cấp độ cao: - H1: Đất ở độ cao dưới 600 m - H2: Đất ở độ cao từ 600 - 1.000 m - H3: Đất ở độ cao từ 1.000 - 1.600 m - H4: Đất ở độ cao trên 1.600 m * Phân cấp sinh khí hậu: - CL1: Khu vực mưa rất nhiều và có mùa khô ngắn (IIA0a, IIIA1a) - CL2: Khu vực mưa rất nhiều và có mùa khô trung bình (IA0b, IIA0b) - CL3: Khu vực mưa nhiều và có mùa khô ngắn (IIB0a) - CL4: Khu vực mưa nhiều và mùa khô trung bình (IB0b, IIB0b) - CL5: Khu vực mưa vừa và có mùa khô trung bình (IIC0b, IIIC1b) - CL6: Khu vực mưa ít và có mùa khô trung bình đến dài (ID0c, IID0b) 3.2.2. Kết quả xây dựng bản đồ đơn vị đất đai Kết quả tổng hợp đã xác định được 127 đơn vị đất đai, trong đó LMU có diện tích lớn nhất là LMU số107 với diện tích 20.275,2 ha, LMU có diện tích nhỏ nhất là LMU số 66 với diện tích 8,1 ha. Đặc tính và tính chất của từng đơn vị đất đai (LMU) thuộc khu vực nghiên cứu được mô tả theo từng loại đất như sau: - Nhóm đất phù sa và dốc tụ - G1 có 14.731,9 ha, bao gồm 9 LMU; - Nhóm đất đen - G2 có diện tích 2.893,42 ha của 5 LMU; - Nhóm đất nâu đỏ và nâu vàng trên đá bazan - G3 chiếm ưu thế với 49 LMU có tổng diên tích 118.853,8 ha; - Nhóm đất đỏ vàng - G4 có 77.851,5 ha, gồm 33 LMU; - Nhóm đất vàng đỏ - G5 có 25 LMU với 108.762 ha; 16 - Nhóm đất mùn vàng đỏ - G6 chỉ có 3 LMU với 1.132,25 ha. 3.3. Đánh giá mức độ thích hợp đất đai cho cây chè 3.3.1. Lựa chọn các chỉ tiêu đánh giá Trên cơ sở các yêu cầu sử dụng đất trồng chè, các yếu tố thuận lợi và hạn chế đã được đưa ra phân tích, từ đó phân cấp các yếu tố đánh giá thích hợp trồng chè. Bảng 3.1. Phân cấp các yếu tố đánh giá thích hợp đất trồng chè Mức độ thích hợp Chỉ tiêu 1. Loại đất S1 Nhóm đất trên bazan Nhóm đất đỏ vàng 2. Độ dốc 3. Tầng dày 4. TPCG 5. Độ cao 3o - 8o, 8o - 15o >100 cm Thịt trung bình nặng 600 - 1.000 m 1.000 - 1.600 m 6. Sinh khí hậu IIA0a, IIIA1a IIB0a S2 Nhóm đất mùn vàng đỏ Nhóm đất vàng đỏ < 3o 70 - 100 S3 N Nhóm đất đen Nhóm đất phù sa và dốc tụ > 15o - < 70 cm Thịt nhẹ Cát pha - > 1.600 m < 600 m - IB0b, IIB0b IA0b, IIA0b IIC0b, IIIC1b ID0c, IID0b 3.3.2. Đánh giá phân hạng thích hợp đất trồng chè Tiềm năng đất đai của khu vực Bảo Lộc - Di Linh được đánh giá dựa trên kết quả xây dựng bản đồ phân hạng thích hợp đất đai và thể hiện tổng hợp mức độ thích hợp đất đai của các đơn vị đất đối với cây chè. Bậc thích hợp của đất đai cho cây chè được phân thành 4 hạng: Rất thích hợp (S1), thích hợp trung bình (S2), ít thích hợp (S3) và không thích hợp (N). Qua đánh giá thích hợp cho cây chè trên địa bàn huyện Bảo Lâm, huyện Di Linh, thành phố Bảo Lộc, có thể thấy rằng đây là vùng đất rất thích hợp cho việc trồng các giống chè có hiệu quả kinh tế cao. Tổng diện tích cấp rất thích hợp là 81.888,79 ha, chiếm 24,74 % tổng diện tích các cấp thích hợp. Cấp thích hợp trung bình chiếm 14,76 %, tập trung ở các xã Sơn Điền, Tân Châu, Đinh Lạc của huyện Di Linh; Lộc Phú, Lộc Lâm huyện Bảo Lâm; Lộc Châu, thành phố Bảo Lộc. Bảng 3.2. Kết quả đánh giá thích hợp đất đai cho cây chè khu vực nghiên cứu Đơn vị tính: ha Cấp thích hợp Bảo Lâm Bảo Lộc S1 S2 S3 N Tổng diện tích đất Sông suối 48.587,89 22.073,74 51.290,46 22.619,90 144.572,00 1.771,00 14.190,47 3.172,27 19,59 5.118,67 22.501,00 755,00 17 Di Linh 19.110,44 23.628,26 43.735,24 70.739,07 157.213,00 4.251,00 Tổng diện tích 81.888,79 48.874,27 95.045,29 98.477,64 324.286,00 6.777,00 Tỷ lệ (%) 24,74 14,76 28,71 29,75 97,95 2,05 Tổng diện tích 146.343,00 23.256,00 161.464,00 331.063,00 100,00 Nguồn: Kết quả tính toán của đề tài Cấp ít thích hợp có 95.045,29 ha chiếm 28,71% tổng diện tích các cấp thích hợp, là khu vực các xã Hòa Bắc, Liên Đầm, thị trấn Di Linh thuộc huyện Di Linh- Lộc Bắc, Lộc Bảo huyện Bảo Lâm. Các yếu tố gây hạn chế ở cấp này chủ yếu là độ cao địa hình (< 600 m) ảnh hưởng đến chất lượng búp chè, độ dốc (15-25o) và điều kiện khí hậu (mùa khô 3-4 tháng) khó khăn đến tưới tiêu cho cây chè. Khu vực không thích hợp trồng chè chủ yếu là vùng phía Đông và Đông Nam huyện Di Linh do điều kiện tới hạn của khí hậu (mưa ít, mùa khô dài). Diện tích còn lại không phù hợp khu vực phân bố nhóm đất phù sa và dốc tụ. Tổng diện tích không phù hợp để trồng chè trong khu vực nghiên cứu là 98.477,64 ha, chiếm 29,75%. 3.4. Đề xuất một số giải pháp sử dụng bền vững đất trồng chè 3.4.1. Cơ sở xác định vùng chuyên canh chè Lựa chọn vùng phát triển chuyên canh chè căn cứ vào các yêu cầu sau: 1. Phương án quy hoạch: Hiện nay, kế hoạch phát triển KT-XH giai đoạn 2011 - 2015 của tỉnh Lâm Đồng đã xác định đến năm 2015 quy hoạch và ổn định diện tích trồng chè trên địa bàn tỉnh là 26.000 ha. 2. Vùng thích hợp: Trên cơ sở kết quả đánh giá thích hợp đất đai cho phép lựa chọn các vùng chuyên canh ưu tiên theo thứ tự như sau: Vùng có các đơn vị đất đai ở mức rất thích hợp; vùng có các đơn vị đất đai ở mức thích hợp trung bình; vùng có các đơn vị đất đai ở mức ít thích hợp. 3. Yêu cầu về lao động và qui mô: - Canh tác chè ở khu vực Bảo Lộc - Di Linh chủ yếu nhờ nước trời đồng thời chè sau khi thu hái cần được đưa vào xử lý và chế biến ngay nên phát triển ở những vùng đông dân cư và lao động, trình độ dân trí cao, biết đầu tư thâm canh, áp dụng các tiến bộ khoa học tiên tiến. Vùng bố trí sản xuất chè yêu cầu đường giao thông thuận lợi để tiện cho công tác chỉ đạo, thu mua chế biến, nâng cao chất lượng sản phẩm. 4. Yêu cầu về hiệu quả KT-XH và môi trường: - Phát triển vùng chuyên canh chè trên diện tích đất nông nghiệp. Các mục đích sử dụng đất khác là: đất lâm nghiệp có rừng, đất chuyên dùng, đất ở, đất chuyên lúa nước không phát triển chè. - Trên đất nông nghiệp ưu tiên phát triển vùng trồng chè trên những hệ thống sử dụng đất sau: Trên các loại đất trồng cây công nghiệp lâu năm như : cà phê, dâu tằm, điều… trồng xen trên đất cà phê, cây ăn quả, trồng thay thế những hệ thống sử dụng đất trồng cây hàng năm có hiệu quả KT-XH thấp hơn cây chè. 3.4.2. Hiệu quả kinh tế, tính bền vững xã hội và môi trường của canh tác chè trong khu vực nghiên cứu * Hiệu quả kinh tế của trồng chè Theo thống kê từ kết quả phỏng vấn thì trung bình thu nhập của hộ gia đình và người lao động trồng chè bình quân như sau : 18 a. Khối thu nhập thấp trồng chè trung du, chè hạt, năng suất thấp  6,5 tấn/ha. Thu nhập từ 320.000 - 400.000 đồng/người/tháng. Tuy nhiên, số hộ trồng các giống chè này không nhiều. b. Khối thu nhập trung bình: Là những hộ trồng chè giống mới, lai: LDP2, PH1, PH8, chè Shan công nghiệp và chè nhập nội có năng suất gấp 1,5-2 lần giống chè hạt, chè trung du, có thu nhập khá từ : 1.200.000 - 2.000.000 đồng/người/ tháng. c. Khối thu nhập cao (có thể làm giàu lên từ cây chè) trồng chè nhập nội như Kim Tuyên, Tứ Quí Xuân, Ôlong Thanh Tâm để làm chè Ôlong và chè cao cấp có thu nhập từ 4.000.000 - 5.000.000 triệu đồng/người/ tháng * Hiệu quả xã hội và môi trường Chè là cây công nghiệp lâu năm có khả năng xóa đói giảm nghèo cùng với các cây công nghiệp khác như: cà phê, cao su, mía. Thực tế trồng chè đầu tư không cao, cho thu hoạch nhanh và ổn định trong nhiều năm. Trồng chè cần nhiều sức lao động, tạo nhiều việc làm vì thời vụ thu hái kéo dài, hầu như quanh năm, đảm bảo thu nhập đều đặn cho người sản xuất. Phát triển chè sẽ thu hút được một số lao động đáng kể, không những chỉ trong khâu sản xuất nguyên liệu mà cả khâu chế biến và tiêu thụ chè. Chè là cây không đòi hỏi đất thật tốt như cà phê, mặt khác, chè là cây thu hoạch lá, năng suất tương đối ổn định, biến động hàng năm không lớn ngay cả những năm nhiều thiên tai hạn hán cũng không mất trắng hoàn toàn như cây ăn quả, cà phê. Thực tế cho thấy trồng chè có tác dụng bảo vệ đất, chống xói mòn tích cực hơn cà phê. Cây chè vẫn có thể phát triển tốt và cho hiệu quả kinh tế khá cao trên vùng đất dốc 20 -25 độ. Vì vậy, trồng chè trên đất dốc góp phần nâng cao hệ số che phủ cho đất. 3.4.3. Định hướng phát triển vùng trồng chè Trên cơ sở lựa chọn xác định các vùng chuyên canh chè đã được phân tích ở trên, loại trừ khu vực không thích hợp trồng chè mà một số loại hình sử dụng đất như: đất khu dân cư, đất lâm nghiệp, đất trồng lúa… diện tích các vùng thích hợp với trồng chè trong khu vực nghiên cứu như bảng. Đồng thời, đề tài cũng đề xuất diện tích mở rộng vùng chè theo 2 phương án. Bảng 3.3. Diện tích đề xuất vùng chè ở khu vực nghiên cứu Đơn vị tính: ha Diện tích vùng thích hợp Rất thích hợp Bảo Lâm Bảo Lộc Di Linh 25.795,42 10.130,78 12.809,08 Thích hợp trung bình 3.201,83 2.373,90 15.341,79 Ít thích hợp 3.913,09 19,53 13.543,61 8.208,00 886,00 1 13.246,00 12.549,42 1.922,78 11.923,08 2 19.664,34 4.316,22 40.808,48 Hiện trạng canh tác Phương án mở rộng 19 Nguồn: Kết quả tính toán của đề tài Phương án 1: Đây là diện tích ưu tiên hàng đầu để phát triển chè trên vùng được đánh giá có hầu hết điều kiện thuận lợi, đáp ứng được đặc điểm sinh trưởng của cây chè. Đồng thời, với định hướng quy hoạch khoảng 26.000 ha đất trồng chè của tỉnh Lâm Đồng hoàn toàn đáp ứng được yêu cầu này với điều kiện đất đai tốt nhất. Có thể lựa chọn các vùng trồng chè ở Bảo Lâm với 12.549,42 ha, ở Bảo Lộc là 1.922,78 ha, hay 11.923,08 ha ở Di Linh. Phương án 2: thể hiện toàn bộ tiềm năng có thể mở rộng diện tích trồng chè chè trên cơ sở tổng hợp cả ba vùng có cấp độ thích hợp khác nhau. Trong đó, hình thành khu vực trọng điểm trồng chè, khu vực vệ tinh và khu vực dự phòng. Vùng ít thích hợp là diện tích dự phòng được ưu tiên cuối cùng trong việc quy hoạch vùng chè, hoặc cải tạo dần để sử dụng trong tương lai. 3.4.4. Một số giải pháp sử dụng bền vững đất trồng chè Trên cơ sở phân tích thoái hóa đất trồng chè và đánh giá thích hợp đất đai cho cây chè ở trên, cho thấy sản xuất chè có 5 mục tiêu chính cần đạt được là: sản lượng nhiều, năng suất cao, chất lượng tốt, chè an toàn, đất trồng chè bền vững. Để đạt được mục tiêu trên, thâm canh vườn chè hiện có, cải tạo vườn chè cũ, trồng chè mới là 3 nội dung cần tiến hành đồng thời. 3.4.3.1. Giải pháp cho các vùng trồng chè - Vùng rất thích hợp với cây chè nên xây dựng thành vùng trọng điểm thâm canh chè, đầu tư các giống chè chất lượng cao. Nơi có độ dốc phổ bình quân dưới 8o thiết kế trồng chè thành hàng thẳng theo đường bình độ chính. Đối chiếu với các cấp thoái hóa đất để có kế hoạch duy trì chất lượng đất trồng chè trên các khu vực thoái hóa đất yếu, cải tạo đất và ngăn ngừa suy thoái đất trên các khu vực thoái hóa đất trung bình và thoái hóa mạnh. - Vùng thích hợp trung bình hình thành khu vực trồng chè vệ tinh xung quanh vùng trọng điểm. Khu vực này tập trung phát triển các giống chè cành trồng đại trà, trồng xen các loại cây phù hợp trong các thời kỳ sinh trưởng khác nhau của chè để gia tăng hiệu quả kinh tế, tận dụng diện tích đất canh tác. - Vùng ít thích hợp vẫn nên duy trì một diện tích chè nhất định ở quy mô vườn trong các hộ gia đình, xen canh với cà phê và một số loại cây khác. Đặc biệt, đối với vùng ít thích hợp và vùng thích hợp trung bình trên thoái hóa đất tổng hợp mạnh nên chuyển đổi cơ cấu cây trồng sang rừng sản xuất hoặc cây ăn quả để cải tạo đất lâu dài. - Đối với các vùng trồng chè cũ cần xác định vùng nào cần cải tạo nâng cấp, vùng nào cần phát bỏ để luân canh cây trồng khác. Những đồi chè giống tốt nhưng già cỗi, đã khai thác lâu năm, không đầu tư thâm canh ngay từ đầu, không nên phá bỏ nên tái đầu tư để cải tạo vì chi phí ít mà sản lượng tăng nhanh hơn đầu tư vào các vườn chè đã có năng suất cao. 3.4.3.2. Xây dựng các mô hình trồng chè * Cách thức bố trí các hàng trồng chè ảnh hưởng đến hiệu quả sản xuất và tuổi thọ của nương chè, phương pháp bố trí tùy thuộc vào độ dốc của đồi chè. - Độ dốc dưới 8o bố trí hàng chè thẳng; - Độ dốc từ 8 - 15o bố trí hàng chè theo đường đồng mức; - Trồng chè trên ruộng bậc thang đối với những khu vực có độ dốc trên 15 o. 20 * Nông lâm kết hợp là mô hình trồng chè xen với một số loài cây khác với cấu trúc nhiều tầng như sau: Chè trồng xen cây phân xanh: trồng muồng hoa vàng làm cây che bóng trên cao tạm thời, trồng các cây họ đậu như lạc, đỗ tương, đỗ xanh… che phủ đất. Đai chắn gió: các loại muồng đen, keo lá chàm, keo tai tượng… được trồng với vai trò chắn gió xung quanh vùng chè. Chè trồng xen các cây thân gỗ che bóng ngắn và dài ngày có sức sinh trưởng mạnh, không cùng đối tượng sâu bệnh như: keo dậu, keo tây, muồng đen, hoa hòe… 3.4.3.3. Giải pháp về giống, phân bón và thuốc trừ sâu Quy hoạch trồng thay thế giống chè trung du, chè hạt cho năng suất thấp, thu nhập thấp bằng các giống chè chất lượng cao như: BP14, LDP2, PH1, PH8… chè Shan đầu dòng và các giống nhập nội theo từng vùng tập trung ít nhất từ 30 ha trở lên. Đối với các khu vực có độ cao trên 800 m có thể sản xuất các loại chè xanh chất lượng cao như Kim Tuyên, Tứ quý xuân, Thanh Tâm…, chè Ôlong. Sử dụng phân bón hợp lý phải tuân thủ 4 nguyên tắc. Một là bón đúng liều lượng và tỷ lệ phân, đồng nghĩa với số kg/đơn vị diện tích, tỷ lệ N:P:K. Hai là, đúng loại phân quy định. Ba là bón đúng lúc, đáp ứng nhu cầu dinh dưỡng theo từng thời kỳ của cây trồng. Bốn là bón đúng cách, đúng kỹ thuật. Để xử lý sâu bệnh trên cây chè có thể sử dụng một số giải pháp sinh học như sau: Bảo vệ và phát triển quần thể thiên địch tự nhiên có sẵn trên nương chè và tăng cường sử dụng các chế phẩm sinh học và thảo mộc. 3.4.5. Một số kiến nghị Chúng tôi nhận thấy cần có những công trình nghiên cứu tiếp theo về xây dựng bản đồ hiện trạng trồng chè. Trong đó thành lập bản đồ hiện trạng trồng chè sử dụng công nghệ viễn thám - GIS để phân loại, điều tra khảo thực địa kiểm chứng và đưa vào những vùng trồng chè lâu đời đã bị chặt phá để khôi phục. Từ bản đồ hiện trạng trồng chè xác định một cách chi tiết diện phân bố chè ở các khu vực, cụ thể các giống chè hiện có từ đó làm cơ sở dự đoán sản lượng chè trong những năm tiếp theo để có kế hoạch chế biến và cân đối thị trường tiêu thụ. Bảo Lộc - Di Linh là một trong những vùng chè lớn, chất lượng tốt của Lâm Đồng cũng như cả nước, hiện nay diện tích chè luôn luôn biến động do tình hình giá cả thị trường của ngành hàng chè và một số mặt hàng nông sản cạnh tranh điển hình là cà phê. Vì vậy cần có những điều chỉnh diện tích canh tác chè một cách kịp thời mang tính định hướng lâu dài của Nhà nước và cấp chính quyển địa phương dựa trên các kết quả nghiên cứu gắn với thực tiễn. Sau khi ổn định diện tích chè, tiếp tục đầu tư theo chiều sâu từ khâu canh tác đến chế biến để nâng cao chất lượng chè thành phẩm, duy trì và phát huy thương hiệu chè Bảo Lộc Di Linh. KẾT LUẬN 1. Khu vực Bảo Lộc - Di Linh với diện tích 331.063 ha, bao gồm thành phố Bảo Lộc, 2 huyện Bảo Lâm và Di Linh là trung tâm phía Nam của tỉnh Lâm Đồng, đồng thời là vùng 21 chè lớn đã phát triển lâu đời. Điều kiện tự nhiên của khu vực có những đặc trưng riêng về nền tảng nhiệt - ẩm, mẫu chất đá mẹ và điều kiện địa hình. Sự phân hóa về nhiệt ẩm kết hợp với đặc điểm dinh dưỡng của nền vật chất rắn và hoạt động khai thác của con người đã tạo nên các quá trình hình thành và thoái hóa đất điển hình, từ đó đặt dấu ấn nên lớp vỏ thổ nhưỡng. Theo phát sinh học đất, hệ thống phân loại đất khu vực Bảo Lộc - Di Linh ở tỷ lệ 1: 50.000 gồm 10 đơn vị đất, thuộc 5 nhóm. Trong đó nhóm đất đỏ vàng chiếm ưu thế với 305.468,06 ha, tương đương 92,27% DTTN; nhóm đất phù sa 7.629,24 ha (2,3%); nhóm đất thung lũng do sản phẩm dốc tụ 7.100,03 ha (2,14%), nhóm đất đen 2.893,42 ha, nhỏ nhất là nhóm đất mùn vàng đỏ trên núi 1.132,25 ha (0,34%). Cây chè được trồng chủ yếu trên bề mặt cao nguyên dốc thoải từ 3 -15o, phát triển trên đất hình thành từ sản phẩm phong hóa của đá mẹ bazan trong điều kiện ánh sáng dồi dào, lượng mưa phong phú, mùa mưa dài. Các quá trình phát sinh và thoái hóa đất chủ yếu là quá trình mùn hóa, khoáng hóa; quá trình feralit hình thành đất đỏ vàng, quá trình laterit - đá ong hóa, quá trình bồi tụ hình thành đất phù sa, quá trình glây, quá trình xói mòn rửa trôi bề mặt và quá trình nhân tác. 2. Việc lựa chọn phân cấp các tiêu chí đánh giá như: đá mẹ, hình thái địa hình, độ dốc, sinh khí hậu,… cho phép thành lập bản đồ thoái hóa đất tiềm năng tỷ lệ 1: 50.000 với 143.026,40 ha đất có tiềm năng thoái hóa mạnh (T3), chiếm 43,20% DTTN; tiềm năng thoái hóa trung bình (T2) có 81.105,77 ha (24,50% DTTN); tiềm năng thoái hóa yếu (T1) tương đối lớn 100.090,83 ha (30,23% DTTN). Thoái hóa đất hiện tại phản ánh hoạt động của con người thông qua hiện trạng thảm thực vật, các loại hình sử dụng đất là cơ sở xây dựng bản đồ thoái hóa đất hiện tại tỷ lệ 1: 50.000. Kết quả là diện tích đất bị thoái hóa mạnh (H3) chiếm 17,78% DTTN ứng với 58.853,53 ha, thoái hóa trung bình (H2) có 76.775,40 ha (23,19% DTTN), thoái hóa yếu có diện tích lớn nhất 188.594,07 ha (56,97% DTTN). Đánh giá tổng hợp thoái hóa đất khu vực Bảo Lộc - Di Linh theo ma trận tương quan giữa thoái hóa tiềm năng và thoái hóa hiện tại đã xác định các mức độ thoái hóa đất tổng hợp như sau: 73.984,37 ha đất thoái hóa mạnh (BL3) ứng với 22,35% DTTN, 141.772,65 ha đất thoái hóa trung bình (BL2) tương đương 42,82% DTTN, 108.465,98 ha đất thoái hóa nhẹ (BL1) chiếm 32,76% DTTN. 4. Dựa trên phân tích yêu cầu sinh thái của cây chè và đặc điểm của 127 đơn vị đất đai thể hiện trên bản đồ đơn vị đất đai khu vực Bảo Lộc - Di Linh, lựa chọn các chỉ tiêu cho phép đánh giá định lượng ảnh hưởng của các đơn vị đất đai đến cây chè. Kết quả đánh giá bằng phương pháp tích hợp ALES - GIS cho thấy các cấp thích hợp của cây chè ở Bảo Lộc - Di Linh bao gồm 4 cấp: rất thích hợp (S1) có 81.888,79 ha chiếm 24,74% DTTN, thích hợp trung bình (S2) là 48.874,27 ha với 14,76% DTTN, ít thích hợp (S3) có 95.045,29 ha (28,71% DTTN) , và 29,75% DTTN không thích hợp (N) - 98.477,64 ha. 5. Trên nền tảng cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu thoái hóa đất, đánh giá thoái hóa đất, đánh giá thích hợp đất đai cho cây chè, đề tài đề xuất một số biện pháp và kiến nghị sử dụng bền vững đất trồng chè. Trong đó, đề tài đã xác định diện tích có thể mở rộng phục vụ phát triển vùng trồng chè, giải pháp cho các vùng trồng chè trên những khu vực có mức độ thoái hóa đất và mức độ thích hợp khác nhau, một số mô hình trồng chè, giải pháp về giống và phân bón. 22 6. Nghiên cứu địa lý phát sinh và thoái hóa đất là một trong những hướng nghiên cứu tổng hợp giúp ích cho việc hoạch định không gian phát triển đặc biệt là không gian sản xuất nông - lâm nghiệp, dự báo những tác hại, rủi ro của thoái hóa đất do tự nhiên cũng như do nhân tác, đáp ứng nhu cầu sử dụng đất bền vững của nước ta nói chung và các địa phương nói riêng. 7. Định hướng sự dụng tài nguyên đất không thể tách rời khỏi công tác khảo sát điều tra thực địa, song nghiên cứu thoái hóa đất phải đánh giá theo ma trận tổng hợp trên quan điểm hệ thống và tổng hợp hướng tới sử dụng đất bền vững đối với mỗi loại cây trồng như chè, cà phê, cao su. 8. Thông qua tích hợp phương pháp nghiên cứu tổng hợp thoái hóa đất và đánh giá đất đai bằng ALES - GIS để tìm ra những khu vực thích hợp trồng chè đã đóng góp cơ sở vào xây dựng quy trình quy hoạch vùng chè không chỉ ở Lâm Đồng mà còn ở các lãnh thổ khác. 23
- Xem thêm -