Tài liệu Nghiên cứu thành lập công ty xử lý chất thải cho các khu công nghiệp trên địa bàn thành phố hồ chí minh

  • Số trang: 57 |
  • Loại file: PDF |
  • Lượt xem: 239 |
  • Lượt tải: 0

Mô tả:

Nghiên cứu thành lập công ty xử lý chất thải cho các khu công nghiệp trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh
Luận văn tốt nghiệp – Nguyễn Thị Ngọc Trâm – Lớp QLCN – K2008 CHƯƠNG 1. MỞ ĐẦU 1.1. LÝ DO HÌNH THÀNH ĐỀ TÀI: Ý tưởng hình thành dự án xuất phát từ nhu cầu thực tế trên thị trường. Hiện nay, cùng với tốc độ phát triển của các khu công nghiệp, vấn đề quản lý chất thải đang là vấn đề “nóng” cho toàn xã hội. Việc quy hoạch các khu sản xuất không đồng bộ với phương án xử lý chất thải gây ra các thiệt hại to lớn cho môi trường và toàn xã hội. Trong khoảng 2 năm trở lại đây, nhà nước đã có nhiều hành động đẩy mạnh công tác quản lý chất thải công nghiệp, đặc biệt là chất thải nguy hại phát sinh từ các nhà máy sản xuất. Tuy vậy, thực tế tồn tại bất cập ở chổ các lò đốt rác công nghiệp hiện có đang trong tình trạng quá tải, không đáp ứng nổi nhu cầu của thị trường. Tác giả cũng hiện đang làm việc tại một công ty xử lý chất thải có tên tuổi trên thị trường nên nhận thấy được sự bất cập này. Đặc biệt, khó khăn lớn cho các doanh nghiệp với quy mô sản xuất nhỏ tại các khu công nghiệp (tập trung nhiều tại KCN Tân Tạo, Lê Minh Xuân, Linh Trung) là việc tìm kiếm các đơn vị xử lý chất thải. Do khối lượng chất thải phát sinh từ các doanh nghiệp này rất nhỏ (thường là vài chục kg đến khoảng 100kg hàng tháng) nên các đơn vị xử lý rất khó để tiến hành thu gom vì không đủ thu nhập tối thiểu để họ cung cấp dịch vụ (do dịch vụ của các nhà cung cấp này đã được tính toán trên cơ sở khách hàng với khối lượng trung bình vài tấn mỗi tháng); còn nếu họ đồng ý cung cấp dịch vụ thì các doanh nghiệp không đủ kinh phí để chi trả. Hay nói một cách khác, các khách hàng với khối lượng chất thải nhỏ không là đối tượng tiềm năng cho các đơn vị cung cấp dịch vụ xử lý hiện nay. Các khách hàng này có chung đặc điểm là chất thải đơn giản, chủ yếu yêu cầu về an toàn pháp lý. Do bản thân đã có kinh nghiệm thực tế trong ngành xử lý chất thải nguy hại nên mong muốn hợp tác với công ty Biển Xanh để tiến hành lập và phân tích dự án nhằm áp dụng các kiến thức học từ nhà trường vào công việc thực tế. Tác giả cũng mong muốn dự án sẽ sớm thực hiện và thành công để có thể trở thành một giải pháp hiệu quả cho khách hàng, góp phần bảo vệ môi trường, đặc biệt là khu vực TP.Hồ Chí Minh. 1.2. MỤC TIÊU CỦA ĐỀ TÀI: Với mục tiêu cùng với công ty Biển Xanh thực hiện dự án trong thời gian sớm nhất có thể nhằm đáp ứng nhu cầu của thị trường. Các kết quả tính toán cho bài toán kinh tế có được Trang 1 Luận văn tốt nghiệp – Nguyễn Thị Ngọc Trâm – Lớp QLCN – K2008 từ đề tài sẽ khẳng định dự án có khả thi hay không, đáp ứng được kỳ vọng của công ty hay không. Ngoài ra, đề tài cũng sẽ phân tích dựa vào nguồn thông tin thực tế và kiến thức, kinh nghiệm của bản thân tác giả về thị trường quản lý chất thải tại Việt Nam nói chung và TP.Hồ Chí Minh nói riêng, kinh nghiệm từ hệ thống quản lý chất thải để dự đoán được các thuận lợi, khó khăn và đề xuất các chiến lược kinh doanh hợp lý. 1.3. PHẠM VI GIỚI HẠN CỦA ĐỀ TÀI: Các số liệu liên quan đến thị trường và chi phí chỉ có giá trị tại thời điểm làm luận văn, (được thu thập từ tháng 08/2010 đến tháng 11/2010). Thông tin khách hàng thu thập tại các khu công nghiệp: Lê Minh Xuân, Tân Tạo, Linh Trung 1,2,3; thông tin thị trường dịch vụ xử lý chất thải nguy hại được thu thập trên địa bàn TP.Hồ Chí Minh và các vùng lân cận: Đồng Nai, Bình Dương, Long An. Kết quả của luận văn chỉ có thể áp dụng cho cụm khu công nghiệp tại TP.Hồ Chí Minh tương ứng với điều kiện thị trường bên ngoài tại thời điểm hiện tại. 1.4. PHƯƠNG PHÁP THỰC HIỆN: Các số liệu thị trường thô về khách hàng và đối thủ sẽ được thu thập thực tế nhờ vào mối quan hệ giữa tác giả và công ty Biển Xanh với BQL các khu công nghiệp và thông tin, kiến thức có được từ thực tế công việc hàng ngày và tham khảo ý kiến chuyên gia. Các thông tin thô này sẽ được thống kê và phân tích để có bức tranh tổng quát về thị trường và tìm thấy cơ hội kinh doanh. Các số liệu về chi phí đầu tư sẽ thu thập thực tế từ các nhà cung cấp thiết bị; chi phí hoạt động sẽ dựa vào kinh nghiệm làm việc của bản thân tác giả. Việc tính toán hiệu quả kinh tế sẽ dùng phương pháp phân tích dòng tiền Trang 2 Luận văn tốt nghiệp – Nguyễn Thị Ngọc Trâm – Lớp QLCN – K2008 CHƯƠNG 2. TỔNG QUAN CƠ SỞ LÝ THUYẾT CHO LẬP DỰ ÁN 2.1. CÁC BƯỚC TRONG LẬP & PHÂN TÍCH DỰ ÁN: Trang 3 Luận văn tốt nghiệp – Nguyễn Thị Ngọc Trâm – Lớp QLCN – K2008 Ghi chú : Nội dung lý thuyết của phân tích tài chính sẽ đề cập kỹ hơn so với các phần khác do đây là phần quan trọng của việc xác định tính hiệu quả của dự án. 2.2. NGHIÊN CỨU CÁC CĂN CỨ CHỦ YẾU HÌNH THÀNH DỰ ÁN: 2.2.1. Môi trường vĩ mô: Nghiên cứu môi trường vĩ mô nhằm đánh giá khái quát quy mô và tiềm năng của dự án trên cơ sở phân tích các tác động của môi trường vĩ mô có thể ảnh hưởng đến triển vọng ra đời, quá trình thực hiện cũng như vận hành kết quả đầu tư. Hình 1: Các yếu tố thuộc môi trường vĩ mô ảnh hưởng đến dự án Các nhân tố thuộc môi trường vĩ mô có thể có nhiều song chủ yếu tập trung vào 4 yếu tố sau: – Môi trường kinh tế vĩ mô – Môi trường văn hóa xã hội – Môi trường chính trị, luật pháp – Môi trường tự nhiên Bên cạnh đó, về nguyên tắc, trong hoạt động đầu tư, công tác quy hoạch cần đi trước một bước làm cơ sở cho công tác lập dự án. Vì vậy để đảm bảo cho hiệu quả của hoạt động đầu tư thì ngay trong quá trình lập dự án cần quan tâm đến công tác quy hoạch bao gồm quy hoạt tổng thể phát triển kinh tế xã hội, quy hoạch phát triển ngành, lĩnh vực kết cấu hạ tầng, đô thị và xây dựng. Trang 4 Luận văn tốt nghiệp – Nguyễn Thị Ngọc Trâm – Lớp QLCN – K2008 2.2.2. Nghiên cứu thị trường: Thị trường là nhân tố quan trọng quyết định việc lựa chọn mục tiêu và quy mô của dự án. Nghiên cứu thị trường xuất phát từ nhu cầu của người tiêu dùng để đi đến quyết định sản xuất kinh doanh mặt hàng gì, cách thức và chất lượng như thế nào, khối lượng bao nhiêu, phương thức bán hàng, tiếp thị để tạo chổ đứng trên thị trường. Nghiên cứu thị trường bao gồm các vấn đề sau: – Phân tích và đánh giá thị trường tổng thể: nhằm có thông tin tình hình cung cầu hiện tại và quá khứ từ đó xác địng loại thị trường và loại sản phẩm của dự án. – Phân đoạn thị trường và xác định thị trường mục tiêu để tạo ra tính ưu thế hơn so với đối thủ, tạo tính hiệu quả khi đầu tư và phù hợp với khả năng đầu tư của doanh nghiệp. – Dự báo cung cầu của thị trường trong tương lai: bằng các phương pháp (hồi quy tuyến tính, hệ số co giãn cầu, định mức, lấy ý kiến chuyên gia,…) – Nghiên cứu vấn đề tiếp thị của dự án: bao gồm việc xác định đối tượng tiêu thụ sản phẩm của dự án, lựa chọn hình thức giới thiệu sản phẩm (quảng cáo trên các phương tiện truyền thông, tiếp xúc trực tiếp, hội thảo khách hàng,…), lựa chọn các phương thức linh hoạt để đẩy mạnh sức mua và tổ chức mạng lưới tiêu thụ sản phẩm. Khả năng cạnh tranh và chiếm lĩnh thị trường của dự án: tức là việc sản xuất và kinh doanh sản phẩm của dự án sẽ giành được và duy trì ở mức độ nào trên thị trường. Nội dung bao gồm: nghiên cứu đối thủ cạnh tranh, xác định chiến lược cạnh tranh, xác định chỉ tiêu đánh giá khả năng cạnh tranh. 2.2.3. NGHIÊN CỨU KHÍA CẠNH KỸ THUẬT CỦA DỰ ÁN: Nghiên cứu khía cạnh kỹ thuật là tiền đề cho việc tiến hành nghiên cứu mặt kinh tế tài chính của dự án. Nội dung bao gồm: – Mô tả sản phẩm sẽ sản xuất và các tiêu chuẩn kỹ thuật có liên quan đến việc lựa chọn công nghệ. – Lựa chọn hình thức đầu tư: đầu tư mới hay đầu tư cải tạo, mở rộng (hình thức này bao gồm đầu tư theo chiều rộng và chiều sâu). – Xác định công suất của máy móc, thiết bị (lý thuyết, thiết kế và thực tế) Trang 5 Luận văn tốt nghiệp – Nguyễn Thị Ngọc Trâm – Lớp QLCN – K2008 – Lựa chọn công nghệ, kỹ thuật cho dự án: căn cứ vào các nguyên tắc và tiêu chuẩn lựa chọn công nghệ. Nội dung bao gồm: Định hướng trình độ hiện đại của công nghệ, Xác định dây chuyền công nghệ, Xác định phương án tổ chức sản xuất, Xác định phương án cán bộ quản lý và công nhân kỹ thuật, Đánh giá phương án công nghệ để lựa chọn phương án tối ưu. – Nguyên liệu đầu vào: Nội dung bao gồm: Các định các loại nguyên liệu sẽ sử dụng dựa vào chất lượng sản phẩm yêu cầu; Xác định nhu cầu từng loại nguyên liệu; Xác định nguồn cung cấp và khả năng của từng nguồn; Ước tính chi phí nguyên liệu cho dự án. – Cơ sở hạ tầng: xác định rõ chi phí đầu tư và chi phí vận hành cho cơ sở hạ tầng bao gồm năng lượng, nước và các cơ sở hạ tầng khác phục vụ cho thực hiện dự án. – Địa điểm thực hiện dự án: bao gồm lựa chọn khu vực địa điểm (xem xét các khía cạnh địa lý, tự nhiên, kinh tế, xã hội,... liên quan đến hoạt động của dự án) và lựa chọn địa điểm cụ thể (mô tả vị trí, chi phí, thuận lợi và không thuận lợi và những ảnh hưởng của dự án về mặt xã hội). – Giải pháp xây dựng công trình: bao gồm các giải pháp về: Quy hoạch tổng mặt bằng công trình xây dựng, Kiến trúc, Kết cấu xây dựng; Công nghệ và tổ chức xây dựng; Thống kê các kết quả tính toán thành các biểu bảng. – Đánh giá tác động môi trường: bao gồm nhận dạng mọi tác động có thể có của dự án đến môi trường trong mọi giai đoạn của dự án và đề xuất các biện pháp khắc phục. – Lịch trình thực hiện dự án: Có nhiều phương pháp tùy thuộc vào quy mô và sự phức tạp của kỹ thuật xây dựng, sản xuất (Sơ đồ GANT, Phương pháp PERT và CPM). 2.3. NGHIÊN CỨU KHÍA CẠNH TỔ CHỨC QUẢN LÝ VÀ NHÂN SỰ CỦA DỰ ÁN ĐẦU TƯ: Các dự án khác nhau có thể có các hình thức tổ chức quản lý khác nhau do các nhân tố ảnh hưởng bao gồm: pháp lý, tổ chức và kinh tế. Tuy nhiên tổ chức quản lý cần đảm bảo các yêu cầu: tập trung hóa, chuyên môn hóa, cân đối, đồng bộ, linh hoạt, nhịp nhàng, liên tục và kế thừa. Trang 6 Luận văn tốt nghiệp – Nguyễn Thị Ngọc Trâm – Lớp QLCN – K2008 2.3.1. Cơ cấu tổ chức vận hành: có thể bố trí theo nhiệm vụ, địa điểm hoặc sản phẩm: Hình 2: Sơ đồ tổ chức quản lý theo nhiệm vụ Hình 3: Sơ đồ tổ chức quản lý theo vùng, lãnh thổ Trang 7 Luận văn tốt nghiệp – Nguyễn Thị Ngọc Trâm – Lớp QLCN – K2008 Hình 4: Sơ đồ tổ chức quản lý theo sản phẩm 2.3.2. Dự kiến nhân sự và chi phí nhân lực thực hiện dự án: Sau khi xây dựng được sơ đồ tổ chức vận hành, cần dự kiến số lượng công nhân trực tiếp làm việc cho dự án bằng các phương pháp khác nhau. Trên cơ sở xác định số lượng nhân lực, cần tiếp tục tính chi phí nhân lực bao gồm: chi phí lương cơ bản, phụ cấp, tiền thưởng, phúc lợi, chi phí đào tạo và tuyển dụng,… 2.4. PHÂN TÍCH TÀI CHÍNH CỦA DỰ ÁN ĐẦU TƯ: 2.4.1. Các chỉ tiêu đánh giá tiềm lực tài chính của doanh nghiệp: Hệ số vốn tự có so với vốn vay: hệ số này phải lớn hơn 1, đối với dự án nhiều triển vọng, hiệu quả rõ ràng thì hệ số này có thể nhỏ hơn 1, vào khoảng giá trị 2/3. Tỷ trọng vốn tự có trong tổng vốn đầu tư: phải lớn hơn hoặc bằng 50%. Đối với dự án có hiệu quả rõ ràng thì tỷ số này có thể khoảng 40%. 2.4.2. Chỉ tiêu hiện giá thuần NPV (Net Present Value – NPV): Giá trị hiện tại ròng của dự án là hiệu số giữa hiện giá lợi ích và hiện giá chi phí trong toàn bộ thời gian thực hiện dự án. Trang 8 Luận văn tốt nghiệp – Nguyễn Thị Ngọc Trâm – Lớp QLCN – K2008 n ( Bt − C t ) Công thức: NPV= ∑ t t = 0 (1 + r ) Trong đó: NPV : Giá trị hiện tại ròng của dự án tại thời điểm t = 0 Bt : Lợi ích hàng năm của dự án Ct : Chi phí hàng năm của dự án r : Suất chiết khấu, % t : Thứ tự năm trong thời gian thực hiện dự án (t= 0, 1, 2,…, n) 1/(1+r)t: Thường được gọi là hệ số chiết khấu cho năm t. n : Thời đoạn phân tích Theo tiêu chuẩn này: NPV ≥ 0 : Dự án hiệu quả NPV < 0 : Dự án không có hiệu quả Khi lựa chọn một trong số nhiều dự án, dự án nào có NPV dương và lớn nhất thì sẽ được chọn đầu tư. 2.4.3. Chỉ tiêu tỷ suất lợi phí B/C (Benefit Cost Ratio) Tỷ số lợi ích và chi phí của một dự án được xác định như là tỷ số giữa hiện giá các lợi ích với hiện giá chi phí của dự án, sử dụng chi phí cơ hội của vốn làm suất chiết khấu. Phương pháp này được sử dụng khá phổ biến trong các dự án phục vụ công cộng hay các cơ quan thẩm định dự án. Tỷ số B/C thường: hoặc: B/C=AW(lợi ích)/AW(chi phí)= B/(CR+O+M) Tỷ số B/C sửa đổi: hoặc: B/C=PW (lợi ích)/PW (chi phí)=PW(B)/PW(CR+O+M) B/C=PW[B–(O+M)]/PW(CR) B/C = B – (O + M) Trong đó: PW : là giá trị tương đương hiện tại. B : giá trị đều hằng năm của lợi ích. CR : chi phí đều hằng năm tương đương để hoàn lại vốn đầu tư ban đầu. Trang 9 Luận văn tốt nghiệp – Nguyễn Thị Ngọc Trâm – Lớp QLCN – K2008 O : chi phí vận hành đều hằng năm. M : chi phí bảo hành đều hằng năm. Với các dự án độc lập, riêng lẽ thì dự án được xem là đáng giá khi tỷ số B/C ≥ 1. Với việc so sánh và lựa chọn một trong nhiều phương án, chọn phương án có đầu tư ban đầu lớn hơn nếu gia số vốn đầu tư là đáng giá, tức là tỷ số B/C () ≥ 1. 2.4.4. Chỉ tiêu lợi suất doanh lợi nội bộ IRR (International Rate of Return): Suất thu lợi nội tại IRR là suất chiết khấu tại đó giá trị hiện tại ròng của dự án bằng 0 (NPV=0). Bt − C t n Công thức: ∑ (1 + IRR) t =0 t = NPV = 0 Việc ra quyết định được thực hiện trên cơ sở so sánh IRR của dự án với suất thu lợi tối thiểu chấp nhận được. Theo quan điểm chủ đầu tư, IRR sẽ được so sánh với suất thu lợi tối thiểu có thể chấp nhận được – MARR (Minimum Acceptable Rate of Return) của chủ đầu tư, dự án được xem là có hiệu quả nếu IRR ≥ MARR. Nếu xét theo quan điểm tổng đầu tư, chúng ta sẽ so sánh IRR với giá sử dụng vốn trung bình có trọng số - WACC (Weighted Average Cost of Capital), dự án được xem là có hiệu quả nếu IRR ≥ WACC. 2.4.5. Đánh giá độ an toàn về mặt tài chính của dự án đầu tư: An toàn về nguồn vốn: các vấn đề cần quan tâm: – Nguồn vốn không chỉ đảm bảo về số lượng mà phải đảm bảo phù hợp về tiến độ cần bỏ vốn. – Đảm bảo về mặt pháp lý – Điều kiện cho vay vốn, hình thức trả nợ – Tỷ lệ hợp lý giữa vốn vay và vốn sở hữu An toàn về khả năng thanh toán nợ ngắn hạn và khả năng trả nợ: Tỷ lệ giữa tài sản lưu động với nợ ngắn hạn thể hiện khả năng thanh toán nợ ngắn hạn; tỷ số này phải lớn hơn 1 và được xem xét cụ thể cho từng ngành nghề kinh doanh. Trang 10 Luận văn tốt nghiệp – Nguyễn Thị Ngọc Trâm – Lớp QLCN – K2008 Tỷ số khả năng trả nợ của dự án bằng tỷ lệ nguồn nợ hàng năm của dự án với Nợ phải trả hàng năm (gốc và lãi). Tỷ số này so sánh với mức quy định chuẩn xác định theo từng ngành nghề. 2.4.6. Lạm phát và tác động của lạm phát lên dòng tiền: 2.4.6.1. Lạm phát Lạm phát được đo bằng tỷ số giữa sự thay đổi mặt bằng giá so với mặt bằng giá đầu kỳ. Mặt bằng giá đầu kỳ trở thành mốc quy chiếu để xác định tỷ lệ lạm phát trong suốt thời kỳ tính toán. Lạm phát của một thời kỳ có thể được biểu diễn như sau: gPeI = (PtI – Pt-nI)/ Pt-nI Trong đó: gPeI : tỷ lệ lạm phát của một thời kỳ của hàng hoá I. PtI : chỉ số mặt bằng giá tại thời điểm t của hàng hoá I. Pt-nI : chỉ số mặt bằng giá đầu kỳ của hàng hoá I. n : thời kỳ phân tích. Lạm phát là rủi ro hệ thống tác động đến mọi lĩnh vực kinh tế. Dù xuất phát từ nguyên nhân nào thì lạm phát cũng thể hiện các đặc trưng cơ bản là sự bất ổn về kinh tế xã hội, sự tăng giá cả liên tục và đồng bộ của tất cả các hàng hoá, dịch vụ. Hiện nay, yếu tố lạm phát ít được chú trọng nhiều khi phân tích dự án vì nhìn chung lạm phát ít có tác động trực tiếp lên lợi ích và chi phí kinh tế; mặt khác, việc xác định chính xác tỷ lệ lạm phát đòi hỏi nhiều thời gian và nguồn lực. Tuy nhiên, nếu bỏ qua ảnh hưởng của lạm phát có thể làm sai lệch đáng kể kết quả phân tích, đặc biệt là về phương diện tài chính. 2.4.6.2. Các tác động của lạm phát lên dòng tiền tệ của dự án: Tác động của lạm phát lên các khoản mục tài chính của dự án bao gồm tác động trực tiếp lên khoản mục tài trợ đầu tư, số dư tiền mặt cân bằng, khoản phải thu, khoản phải trả; tác động gián tiếp lên khoản mục chi phí khấu hao, khoản khấu trừ tiền trả lãi. Trang 11 Luận văn tốt nghiệp – Nguyễn Thị Ngọc Trâm – Lớp QLCN – K2008 2.4.6.2.1. Tác động trực tiếp: Tài trợ đầu tư: Lạm phát sẽ làm tăng chi phí lãi cho dự án, nâng số vốn vay gốc danh nghĩa, dẫn tới chi phí khấu hao danh nghĩa lớn hơn. Các ảnh hưởng này có cả tác động bất lợi lẫn thuận lợi lên ngân lưu, nên có thể làm giảm hoặc tăng NPV của dự án. Số dư tiền mặt cân bằng: Lạm phát sẽ làm gia tăng chi phí nắm giữ tiền mặt, do đó yêu cầu phải bổ sung liên tục trữ lượng tiền mặt tồn quỹ sẽ làm tăng chi phí của dự án, và làm giảm NPV. Khoản phải thu: Lạm phát tác động làm cho giá trị thực của khoản tín dụng thương mại chưa thanh toán giảm xuống, do đó sẽ làm giảm NPV của dự án. Khoản phải trả: Khi có lạm phát, bên mua (trong trường hợp này là dự án) với các khoản phải trả sẽ được lợi từ số dư chưa trả, vì giá trị thực của khoản nợ đang giảm xuống trong thời gian trước khi thanh toán, và làm cho NPV của dự án tăng lên. 2.4.6.2.2. Tác động gián tiếp: Chi phí khấu hao: Khi lạm phát gia tăng làm giá trị tương đối của khoản khấu hao sẽ giảm, làm cho số lượng thực của các khoản nợ thuế thu nhập tăng lên, và tác động làm giảm NPV của dự án. Khoản khấu trừ tiền trả lãi: Khi lạm phát xảy ra, chủ đầu tư phải trả lãi vay theo lãi suất danh nghĩa là lãi suất bao hàm lạm phát. Do vậy, các khoản trả lãi được khấu trừ vào lợi tức chịu thuế sẽ cao hơn, làm giảm số thuế phải trả và làm tăng NPV của dự án. Tóm lại, tác động của lạm phát lên các khoản mục tài chính của dự án có thể làm tăng hoặc giảm NPV của dự án, và được tóm lại trong Bảng 2.1. Bảng 2- : Tác động của lạm phát lên NPV của dự án STT Khoản mục NPV Tác động trực tiếp 1 Tài trợ đầu tư 2 Số dư tiền mặt cân bằng STT 3 Tăng/ giảm Khoản mục Khoản phải thu Giảm NPV Giảm Trang 12 Luận văn tốt nghiệp – Nguyễn Thị Ngọc Trâm – Lớp QLCN – K2008 4 Khoản phải trả Tăng Tác động gián tiếp 5 Chi phí khấu hao Giảm 6 Khoản khấu trừ tiền trả lãi Tăng 2.4.7. Đánh giá độ an toàn về mặt tài chính của dự án đẦu tư: 2.4.7.1. An toàn về nguồn vốn: Nguồn vốn huy động đảm bảo đủ về số lượng và phù hợp tiến độ cần bỏ vốn; Đảm bảo về tính pháp lý và cơ sở thực tiễn của nguồn vốn huy động; Xem xét đến điều kiện cho vay, hình thức thanh toán, trả nợ; Cân đối tỷ lệ vốn vay và vốn tự có. 2.4.7.2. An toàn về khả năng thanh toán nghĩa vụ tài chính ngắn hạn và khả năng trả nợ: An toàn về khả năng thanh toán nghĩa vụ tài chính ngắn hạn thể hiện qua tỷ lệ giữa tài sản lưu động so với nợ ngắn hạn (tỷ lệ khả năng thanh toán hiện hành). Tỷ lệ này phải ≥ 1 và xem xét cụ thể cho từng ngành nghề kinh doanh. An toàn về khả năng trả nợ của dự án: căn cứ vào Tỷ số khả năng trả nợ của dự án (=Nguồn nợ hàng năm của dự án/Nợ phải trả hàng năm bao gồm gốc và lãi). Tỷ số này so sánh với mức quy định chuẩn xác định theo từng ngành nghề. Ngoài ra khả năng trả nợ còn đánh giá thông qua việc xem xét sản lượng và doanh thu tại điểm hòa vốn trả nợ. Khả năng trả nợ của dự án đóng vai trò quan trọng trong việc đánh giá độ an toàn về mặt tài chính đồng thời là chỉ tiêu cho các nhà cung cấp vốn chấp nhận cung cấp tín dụng cho dự án hay không. 2.4.7.3. An toàn cao cho các chỉ tiêu hiệu quả tính toán: Sự phân tích này được thực hiện thông qua phân tích độ nhạy của dự án. 2.4.8. Phân tích rủi ro – Sự tác động của các yếu tố khách quan: Bao gồm: Phân tích độ nhạy, Phương pháp toán xác suất, Phương pháp mô phỏng Monte Carlo: Trang 13 Luận văn tốt nghiệp – Nguyễn Thị Ngọc Trâm – Lớp QLCN – K2008 2.4.8.1. Phân tích độ nhạy: Là xem xét sự thay đổi của các chỉ tiêu tài chính của dự án (lợi nhuận, thu nhập thuần, hệ số hoàn vốn nội bộ,…) khi các yếu tố liên quan đến các chỉ tiêu đó thay đổi. Hay nói một cách khác phân tích độ nhạy nhằm xác định hiệu quả của dự án trong điều kiện biến động của các yếu tố liên quan. Nó giúp các chủ đầu tư biết yếu tố nào tác động nhiều nhất đến hiệu quả dự án và lựa chọn các dự án có độ an toàn cao hơn. Phương pháp 1: Phân tích ảnh hưởng của từng yếu tố liên quan đến chỉ tiêu hiệu quả tài chính nhằm tìm ra yếu tố gây sự nhạy cảm lớn nhất. Phương pháp 2: Phân tích ảnh hưởng đồng thời của nhiều yếu tố đến chỉ tiêu tài chính để đánh giá độ an toàn của dự án. Phương án 3: Cho các yếu tố liên quan đến hiệu quả tài chính thay đổi trong giới hạn của thị trường mà người đầu tư chấp nhận được. Mỗi một sự thay đổi là một phương án. Khi lần lượt cho các yếu tố thay đổi ta có hàng loạt các phương án. Căn cứ vào điều kiện cụ thể của thị trường người đầu tư lựa chọn phương án tốt nhất. 2.4.8.2. Phương pháp toán xác suất: Được sử dụng trong trường hợp có nhiều khả năng và rủi ro. Phương pháp này cho phép lượng hóa những biến cố trong tương lai trong điều kiện bất định của các biết cố, đặc biệt trong trường hợp sự xuất hiện của một biến cố sẽ loại trừ sự xuất hiện của bất kỳ biến cố nào khác. Bằng việc tính toán kỳ vọng của các biến cố, người đầu tư có thể chọn phương án tối ưu trong các phương án có thể có. 2.4.8.3. Phương pháp mô phỏng Monte Carlo: Đây là phương pháp phân tích kết quả của dự án dưới sự tác động đồng thời của các yếu tố trrong các tình huống khác nhau có tính tới phân bố xác suất và giá trị có thể có của các biến số yếu tố đó. Đây là phương pháp khá phức tạp, đòi hỏi người phân tích phải có kinh nghiệm, kỹ năng thực hiện tốt với sự trợ giúp của máy tính. 2.4.9. PHÂN TÍCH KHÍA CẠNH KINH TẾ XÃ HỘI CỦA DỰ ÁN: Phân tích khía cạnh kinh tế-xã hội dự án đầu tư là việc so sánh, đánh giá một cách hệ thống giữa những chi phí và lợi ích của dự án trên quan điểm của toàn bộ nền kinh tế và toàn xã hội, là nội dung trong lập và thẩm định dự án đầu tư. Việc này có thể được thực hiện Trang 14 Luận văn tốt nghiệp – Nguyễn Thị Ngọc Trâm – Lớp QLCN – K2008 qua hệ thống các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả kinh tế của dự án đầu tư: NVA, NPV E, B/CE,…, mức tiết kiệm và tăng thu ngoại tệ, tác động đến khả năng cạnh tranh quốc tế và các chỉ tiêu phản ánh tác động về mặt xã hội, tác động tạo công ăn việc làm cho xã hội, tác động đến môi trường sinh thái,… 2.4.10. SO SÁNH LỰA CHỌN PHƯƠNG ÁN ĐẦU TƯ: Việc lựa chọn phương án đầu tư tối ưu có thể xem xét trên các góc độ khác nhau như sau: 1 . Xét trên phương diện tài chính: 2 . Xét theo khía cạnh kinh tế xã hội: Trong thực tế, việc so sánh, lựa chọn dự án phải cân nhắc giữa các mục tiêu khác nhau nên cần phối hợp các mục tiêu. Thông thường người ta thường dùng ma trận mục tiêu để lựa chọn phương án đầu tư. Khi đó cần phải xác định được các thông tin sau: – Các chỉ tiêu căn bản phản ánh các mục tiêu cần điều phối – Hệ số tầm quan trọng của các chỉ tiêu và cho điểm. – – – – – – CHƯƠNG 3. NGHIÊN CỨU CÁC CĂN CỨ CHỦ YẾU HÌNH THÀNH DỰ ÁN 3.1. CÁC ĐIỀU KIỆN VĨ MÔ ẢNH HƯỞNG ĐẾN SỰ HÌNH THÀNH VÀ THỰC HIỆN DỰ ÁN: 3.1.1. Phát triển kinh tế và vấn đề rác thải công nghiệp: Với tốc độ phát triển liên tục của công nghiệp hoá, những vấn đề về môi trường, trong đó có quản lý chất thải nguy hại đòi hỏi có sự quan tâm đặc biệt để đối phó ngay một cách nghiêm túc, kịp thời trước khi vấn đề trở nên trầm trọng. Với thực trạng ở Việt Nam như Trang 15 Luận văn tốt nghiệp – Nguyễn Thị Ngọc Trâm – Lớp QLCN – K2008 hiện nay, nhà nước cần nhanh chóng đưa ra cơ chế quản lý chất thải nguy hại, theo đó cần kết hợp chặt chẽ giữa việc xây dựng một hệ thống pháp luật “cứng” với các chính sách “mềm” nhằm bảo đảm sự cân bằng hai lợi ích – thúc đẩy sự phát triển kinh tế và ngăn ngừa, giảm thiểu tác hại đến môi trường. Theo thống kê vào tháng 10/2009, trên phạm vi toàn quốc, tổng lượng chất thải nguy hại trên địa bàn toàn quốc vào khoảng 150.064 tấn/năm. Tỷ lệ phát sinh chất thải rắn nguy hại của các ngành, các lĩnh vực kinh tế, xã hội được sắp xếp theo thứ tự như sau: – Ngành công nghiệp nhẹ: 61.543 tấn/năm – Ngành hoá chất: 32.296 tấn/năm – Ngành cơ khí luyện kim: 26.331 tấn/năm – Chất thải bệnh viện: 10.460 tấn/năm – Ngành nông nghiệp: 8.600 tấn/năm – Chất thải sinh hoạt: 5.037 tấn/năm – Ngành chế biến thực phẩm: 3.799 tấn/năm – Ngành điện, điện tử: 1.948 tấn/năm – Ngành năng lượng: 50 tấn/năm. Bảo vệ môi trường để phát triển bền vững hiện nay đã trở thành một vấn đề sống còn của toàn nhân loại. Cùng với phát triển kinh tế, mức sinh hoạt của người dân ngày càng được nâng cao thì lượng chất thải nguy hại cũng tăng nhanh gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến chất lượng môi trường và sức khoẻ con người. Chất thải nguy hại luôn là một trong những vấn đề môi trường trầm trọng nhất mà con người dù ở bất cứ đâu cũng phải tìm cách để đối phó. Có người cho rằng, chỉ có các nước phát triển mới phải lo lắng đến việc quản lý chất thải nguy hại vì ở các nước phát triển đã sản sinh ra nhiều chất thải, còn các nước đang phát triển thì còn nhiều vấn đề khác cần ưu tiên quan tâm hơn. Đây là một suy nghĩ rất sai lệch vì như chúng ta biết, với tốc độ phát triển liên tục của công nghiệp hoá ở các nước đang phát triển, vấn đề quản lý chất thải nguy hại là hết sức cần thiết, đòi hỏi phải có sự quan tâm đặc biệt để đối phó ngay một cách nghiêm túc, kịp thời trước khi vấn đề đã trở nên trầm trọng. Trang 16 Luận văn tốt nghiệp – Nguyễn Thị Ngọc Trâm – Lớp QLCN – K2008 Ở Việt Nam, quản lý chất thải và đặc biệt là chất thải nguy hại đang là một trong những nội dung quan trọng trong lĩnh vực quản lý môi trường. Ngày 16/7/1999, Chính phủ đã ban hành Quy chế quản lý chất thải nguy hại, theo đó khái niệm chất thải nguy hại đã được nêu tại Khoản 2, Điều 3 như sau: “Chất thải nguy hại là chất thải có chứa các chất hoặc hợp chất có một trong các đặc tính gây nguy hại trực tiếp (dễ cháy, dễ nổ, làm ngộ độc, dễ ăn mòn, dễ lây nhiễm và các đặc tính gây nguy hại khác) hoặc tương tác với các chất khác gây nguy hại tới môi trường và sức khoẻ con người”. Theo định nghĩa, chất thải nguy hại có các đặc tính lý hoá hoặc sinh học đòi hỏi phải có một quy trình đặc biệt để xử lý hoặc chôn lấp nhằm tránh những rủi ro đối với sức khoẻ con người và những ảnh hưởng bất lợi đối với môi trường. 3.1.2. Thực trạng quản lý chất thải nguy hại tại TP.Hồ Chí Minh: Sự thiếu đồng bộ trong quản lý cộng với sự gia tăng nhanh chóng của chất thải rắn công nghiệp (CTRCN) và chất thải nguy hại (CTNH) ở vùng kinh tế trọng điểm phía Nam (VKTTĐPN) đã và đang gây nên những ảnh hưởng xấu tới môi trường. TTĐPN bao gồm thành phố Hồ Chí Minh và các tỉnh Đồng Nai, Bà Rịa - Vũng Tàu, Bình Dương, Tây Ninh, Bình Phước, Long An. Vùng đã và đang hình thành các trung tâm đô thị, thương mại dịch vụ, công nghiệp lớn vào bậc nhất nước ta. Tuy nhiên, quá trình phát triển với tốc độ cao trên toàn vùng đã và đang làm phát sinh một khối lượng lớn CTRCN và CTNH, ảnh hưởng không nhỏ đến môi trường. Ta có thể thấy điều này qua một số thống kê. Tại thành phố Hồ Chí Minh vào năm 2009, lượng phát thải CTRCN và CTNH từ các cơ sở công nghiệp trên thành phố khoảng 1.502 tấn/ngày, trong đó CTNH khoảng 300 tấn/ngày. Số liệu tương tự tại Đồng Nai là 300 tấn và 60 tấn. Tại Bình Dương, lượng CTRCN và CTNH phát sinh từ các khu công nghiệp ước tính khoảng 100 tấn/ngày. Trên địa bàn tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu, khối lượng CTRCN phát sinh là 30-35 tấn/ngày. Theo Công trình khảo sát chất thải toàn cầu của Tổ chức Hàng hải Quốc tế, cứ tạo ra tổng sản phẩm quốc nội (GDP) 1 tỉ USD sẽ làm phát sinh khoảng 4.500 tấn chất thải công nghiệp bao gồm 20% là CTNH. Như vậy, nếu lấy tốc độ tăng trưởng GDP cả nước bình quân hàng năm là 10% ta có kết quả dự báo tương đối tổng tải lượng CTRCN và CTNH tại một số tỉnh trong vùng đến năm 2010 và 2020 như sau: Năm 2010 Trang 17 Năm 2020 Luận văn tốt nghiệp – Nguyễn Thị Ngọc Trâm – Lớp QLCN – K2008 GDP (tỷ USD) Khối lượng CTNH (tấn) GDP (tỷ USD) Khối lượng CTNH (tấn) Tp.Hồ Chí Minh 14,183 63,824 36,734 165,303 Đồng Nai 5,743 25,830 14,867 66,920 Bình Dương 1,054 4,743 2,730 12,285 BR Vũng Tàu 1,826 8,217 4,730 21,285 Long An 0.620 2,790 1,600 7,200 Lưu ý: Các thông số trên không thực sự chính xác vì thực tế khối lượng phát sinh lớn hơn, tuy nhiên chúng ta tham khảo số liệu trên có thể thấy được mức độ gia tăng của lượng chất thải nguy hại phát sinh theo tốc độ tăng trưởng kinh tế. TP.Hồ Chí Minh hiện có 11 khu công nghiệp, 3 khu chế xuất và 1 khu công nghệ cao chính thức đi vào hoạt động. Và theo định hướng phát triển, đến năm 2020 TP.HCM sẽ có 22 khu công nghiệp tập trung, 33 cụm công nghiệp và tiểu thủ công nghiệp. Như vậy lượng chất thải nguy hại sẽ tiếp tục tăng cao. Cho đến hiện tại, trên địa bàn TP.Hồ Chí Minh có 04 đơn vị xử lý chất thải nguy hại với công suất tổng cộng khoảng 100 tấn/ngày, như vậy chỉ có thể xử lý được một phần ba lượng chất thải nguy hại phát sinh. Phần chất thải không được tiếp nhận tiêu hủy sẽ được xả thải trái pháp luật vào môi trường. Thêm vào đó, theo thông tin từ phòng quản lý chất thải rắn thành phố đầu năm 2009, chỉ khoảng 1.000 doanh nghiệp trong tổng số 12.000 doanh nghiệp đã đăng ký chủ nguồn thải để có cơ sở tiêu hủy chất thải phát sinh từ sản xuất. Số lượng còn lại vẫn xử lý chất thải trái phép như xả thải thẳng vào nguồn nước hay chuyển giao cho các đơn vị không đủ chức năng xử lý chất thải nguy hại để chôn lấp trái phép tại các bãi rác sinh hoạt hay bãi chôn lấp tự phát gây nguy hại nghiêm trọng cho môi trường sống. Trong thời gian một năm trở lại đây, các cơ quan chức năng trên phạm vi cả nước nói chung và TP.Hồ Chí Minh nói riêng tăng cường siết chặt việc thanh tra các cơ sở sản xuất về việc quản lý chất thải nguy hại. Nghị định 117 của Tổng cục Môi trường về việc xử phạt các hành vi vi phạm pháp luật môi trường là biện pháp chế tài hiệu quả giúp chủ nguồn thải thực hiện đúng nghĩa vụ của mình. Theo thống kê sơ bộ từ bộ phận xử lý chất thải của Holcim, trong 6 tháng đầu năm 2010, số khách hàng chủ động liên lạc yêu cầu cung cấp dịch vụ tăng 80% so với thời kỳ năm ngoái. Trang 18 Luận văn tốt nghiệp – Nguyễn Thị Ngọc Trâm – Lớp QLCN – K2008 Riêng một số các cơ sở xử lý hiện nay qua thanh tra của các cơ quan chức năng hiện đang hoạt động trong tình trạng quá tải nhưng do yêu cầu của thị trường và lợi ích kinh tế họ vẫn tiếp tục tiếp nhận chất thải và lưu trữ quá thời gian qui định (theo luật chất thải phải được xử lý trong vòng 60 ngày kể từ ngày tiếp nhận). Việc tồn đọng chất thải cũng gây nguy hại rất lớn đến môi trường. Như vậy các căn cứ dự trên yếu tố vĩ mô để hình thành dự án là nhu cầu thực tế từ thị trường rất lớn trong khi nguồn cung chỉ đáp ứng một phần nhỏ và nhu cầu này sẽ tiếp tục tăng trong thời gian sắp tới. Thêm vào đó, cho đến hiện tại, nhà nước vẫn chưa có dự án có tính khả thi và hiệu quả để làm hướng ra cho lượng chất thải công nghiệp nói chung và chất thải nguy hại nói riêng. 3.1.3. Căn cứ pháp lý: Tên tài liệu Ngày ban hành Ngày hiệu lực Luật Bảo vệ Môi trường và các văn bản liên quan 1 Luật Bảo vệ Môi trường Việt Nam 2005 29/11/2005 01/07/2006 2 Nghị định số 80/2006/NĐ-CP ngày 09/8/2006 của Chính phủ về quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Bảo vệ môi trường 09/08/2006 24/08/2006 3 Nghị định số 21/2008/NĐ-CP ngày 28/2/2008 của Chính phủ về sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 80/2006/NĐ-CP ngày 09/8/2006 của Chính phủ về quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Bảo vệ môi trường 28/02/2008 14/03/2008 4 Nghị định 117/2009/NĐ-CP về xử phạt hành chính trong lĩnh vực bảo vệ môi trường 31/12/2009 01/03/2010 5 Thông tư số 05/2008/TT-BTNMT ngày 08/12/2008 của Bộ Tài nguyên và Môi trường về việc hướng dẫn về đánh giá môi trường chiến 08/12/2008 lược, đánh giá tác động môi trường và cam kết bảo vệ môi trường 23/12/2008 6 Thông tư 12/2006/TT-BTNMT hướng dẫn điều kiện hành nghề và thủ tục lập hồ sơ, đăng ký, cấp phép, hành nghề, mã số quản lý chất thải nguy hại 26/12/2006 01/10/2007 7 Quyết định 23/2006/QĐ-BTNMT về việc ban 26/12/2006 01/10/2007 Trang 19 Luận văn tốt nghiệp – Nguyễn Thị Ngọc Trâm – Lớp QLCN – K2008 hành danh mục chất thải nguy hại 8 Quyết định 85/2007/QĐ-UBND về ban hành quy định tuyến và thời gian vận chuyển chất thải nguy hại trên địa bàn TP.HCM 14/06/2007 24/06/2007 1 Thông tư 203/2009/TT-BTC của Bộ Tài chính Về ban hành Chế độ quản lý, sử dụng và trích khấu hao tài sản cố định 12/12/2003 27/12/2003 2 Công văn hướng dẫn một số quy định mới về BHXH, BHYT, BHTN bắt buộc số 3621 của Sở lao động Thương Binh xã hội, Bảo hiểm TP.Hồ Chí Minh. 07/12/2009 1/1/2010 3 Luật thuế Thu nhập doanh nghiệp 2008 do Quốc hội thông qua 03/06/2008 1/1/2009 4 Quyết định số 28/2007/QĐ-BTC của Bộ Tài chính ban hành quy tắc và biểu phí bảo hiểm cháy nổ bắt 24/04/2007 buộc 9/5/2007 Luật doanh nghiệp và các văn bản liên quan 3.2. CÁC ĐIỀU KIỆN KINH TẾ - THỊ TRƯỜNG: 3.2.1. Hoạt động kinh doanh hiện tại và nhu cầu mở rộng hoạt động của chủ đầu tư dự án – công ty TNHH KT MT Biển Xanh: Được thành lập từ khoảng năm 2000, hoạt động ban đầu của công ty TNHH KT MT Biển Xanh là cung cấp dịch vụ thu gom chất thải sinh hoạt trong các khu công nghiệp và chuyển giao sang các bãi chôn lấp tập trung của công ty Môi trường đô thị. Hiện tại đây vẫn là dịch vụ chính của công ty với hơn 550 khách hàng tại các khu công nghiệp Tân Tạo, Lê Minh Xuân, Tân Đức, Linh Trung 3. Các khu công nghiệp trên chủ yếu tập trung các công ty sản xuất nhỏ và trung bình. Trong các năm trước đây, khi pháp luật về chất thải chưa quy định rõ ràng và con buông lỏng, đa phần các công ty khách hàng của Biển Xanh đều không thực hiện việc phân loại rác thải, để chung rác thải nguy hại vào rác thải sinh hoạt để công ty thu gom rác sinh hoạt đưa đến các bãi chôn lấp. Những năm sau này, khi luật môi trường và các văn bản hướng dẫn việc quản lý chất thải nguy hại ra đời, ý thức được quy định pháp luật cũng như mức độ nguy hại về môi trường của việc chôn lấp trái phép chất thải nguy hại, Biển Xanh đã yêu cầu khách hàng phân loại rác thải tại nguồn và tuyệt đối từ chối cung cấp dịch vụ nếu nhận thấy rác thải sinh hoạt có lẫn chứa chất thải nguy hại. Tuy Trang 20
- Xem thêm -