Tài liệu Tác động của biến đổi khí hậu toàn cầu và sự dâng cao nước biến

  • Số trang: 58 |
  • Loại file: PDF |
  • Lượt xem: 207 |
  • Lượt tải: 0

Mô tả:

Tác động của biến đổi khí hậu toàn cầu và sự dâng cao nước biến
LỜI GIỚI THIỆU Chúng ta đang sống trong một thế giới mà môi trường có nhiều biến đổi: khí hậu biến đổi, nhiệt độ trái đất tăng lên, mực nước biển dâng cao, hạn hán, lũ lụt, ô nhiễm môi trường, suy giảm đa dạng sinh học… Trong đó, biến đổi khí hậu là một vấn đề hiện đang được các nước trên thế giới quan tâm sâu sắc. Biến đổi khí hậu mà tiêu biểu là sự nóng lên toàn cầu đang diễn ra. Nhiệt độ trên thế giới đã tăng thêm khoảng 0,70C kể từ thời kỳ tiền công nghiệp và hiện đang tăng với tốc độ ngày càng cao. Ngoài các nguyên nhân tự nhiên và tính chất biến đổi phức tạp của các hệ thống khí hậu trên thế giới, hầu hết các nhà khoa học về môi trường hàng đầu trên thế giới đều khẳng định: các loại khí nhà kính phát thải vào khí quyển do các hoạt động của con người đã làm cho khí hậu toàn cầu nóng lên. Biến đổi khí hậu đang thu hút sự quan tâm của nhiều quốc gia do những ảnh hưởng hiện nay và hiểm họa trong tương lai đối với xã hội loài người. Các hiện tượng khí hậu dị thường và thiên tai liên tục diễn ra ở nhiều vùng trên thế giới. Các nhà khoa học từ lâu cũng đã lên tiếng cảnh báo hiểm họa nghiêm trọng này nhưng chỉ cho đến gần đây, loài người mới thấy được ý nghĩa quan trọng của việc bảo vệ môi trường và thực hiện cuộc chiến thực sự chống lại sự biến đổi khí hậu. Để có thể giải quyết vấn đề biến đổi khí hậu thế giới cần tăng cường các biện pháp nhằm giảm thiểu phát thải khí nhà kính từ các nước công nghiệp và huy động sự tham gia nhiều hơn nữa của các nước đang phát triển, đề ra các biện pháp khuyến khích các nước này hạn chế mức phát thải, đồng thời đảm bảo tăng trưởng kinh tế. Theo nghiên cứu mới nhất của Liên Hợp Quốc, Việt Nam là quốc gia đang phát triển thuộc nhóm các nước bị ảnh hưởng nhiều nhất ở khu vực Đông Nam Á từ sự biến đổi khí hậu này. Bởi vậy, việc xây dựng chiến lược quốc gia nhằm đối phó và thích ứng với sự biến đổi khí hậu của Việt Nam là một việc làm cấp thiết trong thời gian tới. Trung tâm Thông tin Khoa học và Công nghệ Quốc gia biên soạn Tổng luận “TÁC ĐỘNG CỦA BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU TOÀN CẦU VÀ SỰ DÂNG CAO NƯỚC BIẾN” nhằm giúp các nhà quản lý, các nhà hoạch định chính sách và các nhà nghiên cứu có cách nhìn bao quát hơn về nguy cơ biến đổi khí hậu tòan cầu, từ đó đưa ra các quyết sách hợp lý nhằm thích ứng và đối phó với xu thế này. TRUNG TÂM THÔNG TIN KH&CN QUỐC GIA 1 MỞ ĐẦU Trong những năm 80, bằng chứng khoa học về khả năng biến đổi khí hậu toàn cầu đã dẫn đến sự quan tâm chung ngày càng tăng. Từ năm 1990, một loạt các hội nghị quốc tế đã đưa ra những lời kêu gọi khẩn cấp để có một hiệp ước toàn cầu về vấn đề này. Chương trình Môi trường của Liên Hợp Quốc (UNEP) và Tổ chức Khí tượng Thế giới (WMO) đã hưởng ứng bằng cách thiết lập nhóm Công tác Liên Chính phủ để chuẩn bị cho các cuộc hiệp thương của Hiệp ước. Đã có sự tiến bộ nhanh chóng, một phần do sự nỗ lực của Ủy ban Liên Chính phủ về Biến đổi khí hậu (IPCC) và các cuộc họp về biến đổi khí hậu ở cấp quốc gia, khu vực và toàn cầu. Đáp lại kiến nghị của Nhóm Công tác, Đại Hội đồng Liên Hợp Quốc tại khóa họp năm 1990 đã thành lập Ủy ban Hiệp thương Liên Chính phủ cho một Công ước khung về Biến đổi khí hậu (INC/FCCC). INC/FCCC đã được ủy nhiệm soạn thảo một Công ước khung và các công cụ pháp lý bất kỳ liên quan được coi là cần thiết. Những nhà thương thuyết từ hơn 150 quốc gia đã gặp nhau trong 5 phiên họp trong khoảng thời gian từ tháng 2/1991 đến tháng 5/1992 và đã chấp nhận Công ước khung của Liên Hợp Quốc về Biến đổi khí hậu vào ngày 9 tháng 5 năm 1992 tại trụ sở Liên Hợp Quốc ở New York. Ngay sau đó, tại Hội nghị của Liên Hợp Quốc về Môi trường và Phát triển, hay thường gọi là Hội nghị Thượng đỉnh, đã được tổ chức vào tháng 6 năm 1992, ở Rio de Janeiro, Braxin, 155 quốc gia, trong đó có Việt Nam, đã ký Công ước Khung của Liên hợp quốc về Biến đổi khí hậu. Mục tiêu của Công ước là nhằm “ổn định các nồng độ khí nhà kính trong khí quyển ở mức có thể ngăn ngừa được sự can thiệp nguy hiểm của con người đối với hệ thống khí hậu”. Nghị định thư Kyoto của Công ước khí hậu là văn bản pháp lý để thực hiện Công ước khung về Biến đổi khí hậu có hiệu lực kể từ ngày 16/2/2005 bằng sự phê chuẩn của Nga (tháng 10/2004). Nội dung quan trọng của Nghị định thư Kyoto là đưa ra Chỉ tiêu giảm phát thải khí nhà kính có tính ràng buộc pháp lý đối với các nước phát triển và cơ chế giúp các nước đang phát triển đạt được sự phát triển kinh tế, xã hội một cách bền vững thông qua thực hiện "Cơ chế phát triển sạch"(CDM). Bản thỏa thuận nêu cam kết của các nước công nghiệp hóa giảm phát thải sáu loại khí nhà kính ở mức 5% vào năm 2012. Tháng 12/2007, Hội nghị về khí hậu của Liên Hợp Quốc được tổ chức tại Bali, Inđônêxia, các đại biểu đến từ gần 190 quốc gia, trong đó có Hoa Kỳ đã cố gắng tìm ra một lộ trình cho các cuộc đàm phán về một công ước nóng lên toàn cầu mới sẽ có hiệu lực vào năm 2012, khi kết thúc thời kỳ cam kết đầu tiên của Nghị định thư Kyoto. Hội nghị Bali có ba mục tiêu chính: (1) Mở đầu các đàm phán về ứng phó với biến đổi khí hậu giai đoạn sau năm 2012; (2) Đưa ra lịch trình đàm phán quốc tế; (3) Đạt được Thỏa thuận quốc tế mới nhằm ứng phó với biến đổi khí hậu trên phạm vi toàn cầu. Các quyết định đưa ra tại Hội nghị Bali lần này sẽ mở đầu cho quá trình đạt được các thỏa thuận vào đầu năm 2009, là một dấu hiệu thể hiện sự đoàn kết của cộng đồng quốc tế 2 cùng ứng phó với biến đổi khí hậu. Hội nghị các Bên lần này đóng một vai trò quan trọng trong việc thành lập một chương trình nghị sự ứng phó với biến đổi khí hậu trong tương lai. Báo cáo “Ảnh hưởng của mực nước biển dâng cao đối với các nước đang phát triển: Phân tích so sánh” của Ngân hàng Thế giới (WB) công bố đầu năm 2007 cho biết: Mực nước biển chỉ cần dâng thêm 1m thì sẽ gây hiểm họa lớn đối với các nước có vùng dân cư và đời sống kinh tế tập trung ở các vùng đồng bằng thấp ở ven biển. Theo Báo cáo Tình trạng môi trường biển của Chương trình hành động toàn cầu thuộc UNEP (2006), thì hiện nay, gần 40% dân số thế giới sống tại các vùng ven biển hẹp (chỉ chiếm 6,7% diện tích bề mặt Trái Đất) và phụ thuộc vào nguồn tài nguyên thiên nhiên. Mật độ dân số tại khu vực bờ biển có thể tăng từ 77 người/km2 năm 1990, lên tới 115 người/km2 năm 2025. Với nguy cơ nước biển dâng cao do biến đổi khí hậu, ảnh hưởng đối với các cộng đồng ven biển là không thể tránh khỏi. Còn theo đánh giá của Chương trình Phát triển Liên Hợp Quốc (UNDP, 2007), Việt Nam nằm trong top 5 nước đứng đầu thế giới dễ bị tổn thương nhất trước sự biến đổi khí hậu. Nếu mực nước biển tăng 1m, Việt Nam sẽ mất 5% diện tích đất đai, 11% người mất nhà cửa, giảm 7% sản lượng nông nghiệp và 10% thu nhập quốc nội (GDP). Nước biển dâng 3-5m đồng nghĩa với một thảm họa có thể xảy ra ở Việt Nam. Việt Nam phải xây dựng kịch bản thích ứng và đối phó chi tiết vấn đề khí hậu và nước biển dâng, để từ đó đưa ra các chính sách, chương trình hành động đúng, bởi biến đổi khí hậu không chỉ đơn giản là vấn đề của từng ngành, mà liên quan đến nhiều vấn đề kinh tế, xã hội khác. Như vậy, Trái đất nóng lên, nước biển dâng cao và biến đổi khí hậu đến nay không còn là vấn đề riêng của một nước nào mà đó là vấn đề chung, là trách nhiệm của toàn cầu. Các quốc gia trên thế giới đang rất nỗ lực xây dựng và thực hiện các hành động chiến lược nhằm thích ứng với sự nóng lên toàn cầu, ngăn ngừa và hạn chế tác động của các hiện tượng khí hậu cực đoan do biến đổi khí hậu như nước biển dâng. Tài liệu này tổng hợp chung về tình hình biến đổi khí hậu và đánh giá những ảnh hưởng của sự gia tăng mực nước biển đối với một số quốc gia có biển trong khu vực, dựa trên tổng hợp thông tin từ các Báo cáo lần thứ 4, xuất bản năm 2007 của Ủy ban Liên chính phủ về biến đổi khí hậu (IPCC), Báo cáo “Ảnh hưởng khi mực nước biển dâng cao đối với các nước đang phát triển: Phân tích so sánh” của Ngân hàng Thế giới (WB), Báo cáo Phát triển Con người 2007-2008 của Chương trình Phát triển Liên Hợp Quốc (UNDP), tài liệu về thích ứng với biến đổi khí hậu và nước biển dâng của một số quốc gia trong khu vực như Trung Quốc, Bănglađét cùng một số kết quả điều tra khảo sát của các nhà khoa học Việt Nam. Hy vọng rằng những đánh giá trên sẽ cung cấp thông tin cho Việt Nam trong việc xây dựng chiến lược và các chương trình nhằm thích ứng với sự biến đổi khí hậu, giảm thiểu những tổn thất do biến đổi khí hậu và mực nước biển dâng cao, góp phần thúc đẩy xã hội phát triển bền vững, hài hòa giữa phát triển kinh tế và bảo vệ môi trường. 3 I. TỔNG QUAN VỀ SỰ BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU VÀ TÁC ĐỘNG ĐẾN SỰ DÂNG CAO NƯỚC BIẾN 1.1. TÌNH HÌNH BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU TOÀN CẦU 1.1.1. Một số khái niệm Hiệu ứng nhà kính Nhiệt độ bề mặt Trái đất được tạo nên do sự cân bằng giữa năng lượng Mặt trời đến bề mặt Trái đất và năng lượng bức xạ của Trái đất vào khoảng không gian giữa các hành tinh. Năng lượng Mặt trời chủ yếu là các tia sóng ngắn dễ dàng xuyên qua cửa sổ khí quyển. Trong khi đó, bức xạ của Trái đất với nhiệt độ bề mặt trung bình +16oC là sóng dài có năng lượng thấp, dễ dàng bị khí quyển giữ lại. Các tác nhân gây ra sự hấp thụ bức xạ sóng dài trong khí quyển là khí CO2, bụi, hơi nước, mêtan (CH4), CFC ... Kết quả của sự của sự trao đổi không cân bằng về năng lượng giữa Trái đất với không gian xung quanh, dẫn đến sự gia tăng nhiệt độ của khí quyển Trái đất. Hiện tượng này diễn ra theo cơ chế tương tự như nhà kính trồng cây và được gọi là “hiệu ứng nhà kính”. Sự gia tăng tiêu thụ nhiên liệu hoá thạch của loài người đang làm cho nồng độ khí CO2 của khí quyển tăng lên. Sự gia tăng khí CO2 và các khí nhà kính khác trong khí quyển Trái đất làm nhiệt độ Trái đất tăng lên. Vai trò gây nên hiệu ứng nhà kính của các chất khí được xếp theo thứ tự sau: CO 2 => CFC => CH4 => O3 =>NO2. Sự gia tăng nhiệt độ Trái đất do Hiệu ứng nhà kính có tác động mạnh mẽ tới nhiều mặt của môi trường Trái đất. Biến đổi khí hậu Hệ thống khí hậu Trái đất bao gồm khí quyển, lục địa, đại dương, băng quyển và sinh quyển. Các quá trình khí hậu diễn ra trong sự tương tác liên tục của những thành phần này. Quy mô thời gian của sự hồi tiếp ở mỗi thành phần khác nhau rất nhiều. Nhiều quá trình hồi tiếp của các nhân tố vật lý, hóa học và sinh hóa có vài trò tăng tường sự biến đổi khí hậu hoặc hạn chế sự biến đổi khí hậu. Công ước khung của LHQ về biến đổi khí hậu đã định nghĩa: “Biến đổi khí hậu là “những ảnh hưởng có hại của biến đổi khí hậu”, là những biến đổi trong môi trường vật lý hoặc sinh học gây ra những ảnh hưởng có hại đáng kể đến thành phần, khả năng phục hồi hoặc sinh sản của các hệ sinh thái tự nhiên và được quản lý hoặc đến hoạt động của các hệ thống kinh tế - xã hội hoặc đến sức khỏe và phúc lợi của con người”. Nguyên nhân chính làm biến đổi khí hậu Trái đất là do sự gia tăng các hoạt động tạo ra các chất thải khí nhà kính, các hoạt động khai thác quá mức các bể hấp thụ khí nhà kính như sinh khối, rừng, các hệ sinh thái biển, ven bờ và đất liền khác. Nhằm hạn chế sự biến đổi khí hậu, Nghị định thư Kyoto nhằm hạn chế và ổn định sáu loại khí nhà kính chủ yếu bao gồm: CO2, CH4, N2O, HFCs, PFCs và SF6. • CO2 phát thải khi đốt cháy nhiên liệu hóa thạch (than, dầu, khí) và là nguồn khí nhà kính chủ yếu do con người gây ra trong khí quyển. CO2 cũng sinh ra tử các hoạt động công nghiệp như sản xuất xi măng và cán thép. • CH4 sinh ra từ các bãi rác, lên men thức ăn trong ruột động vật nhai lại, hệ thống khí, dầu tự nhiên và khai thác than. 4 • • N2O phát thải từ phân bón và các hoạt động công nghiệp. HFCs được sử dụng thay cho các chất phá hủy ôzôn (ODS) và HFC-23 là sản phẩm phụ của quá trình sản uất HCFC-22. • PFCs sinh ra từ quá trình sản xuất nhôm. • SF6 sử dụng trong vật liệu cách điện và trong quá trình sản xuất magiê. Các biểu hiện của biến đổi khí hậu: - Sự nóng lên của khí quyển và Trái đất nói chung. - Sự thay đổi thành phần và chất lượng khí quyển có hại cho môi trường sống của con người và các sinh vật trên Trái đất. - Sự dâng cao mực nước biển do băng tan, dẫn tới sự ngập úng ở các vùng đất thấp, các đảo nhỏ trên biển. - Sự di chuyển của các đới khí hậu tồn tại hàng nghìn năm trên các vùng khác nhau của Trái đất dẫn tới nguy cơ đe doạ sự sống của các loài sinh vật, các hệ sinh thái và hoạt động của con người. - Sự thay đổi cường độ hoạt động của quá trình hoàn lưu khí quyển, chu trình tuần hoàn nước trong tự nhiên và các chu trình sinh địa hoá khác. - Sự thay đổi năng suất sinh học của các hệ sinh thái, chất lượng và thành phần của thuỷ quyển, sinh quyển, các địa quyển. 1.1.2. Các nguyên nhân và ảnh hưởng của biến đổi khí hậu toàn cầu Bằng chứng về sự nóng lên của hệ thống khí hậu được thể hiện ở sự gia tăng nhiệt độ trung bình của không khí và đại dương trên toàn cầu, tình trạng băng tan và tăng mực nước biển trung bình trở nên phổ biến. 11 trong số 12 năm qua (1995-2006) được xếp vào những năm có nhiệt độ bề mặt Trái đất nóng kỷ lục (từ năm 1850). Xu thế nhiệt độ tăng trong 100 năm (kể từ năm 1906 – 2005) là 0,740C (0,560C đến 0,920C), lớn hơn xu thế được đưa ra trong báo cáo đánh giá lần thứ 3 của IPCC là 0,60C (từ 0,40C đến 0,80C) (1901-2000). Sự gia tăng nhiệt độ đang trở nên phổ biến trên toàn cầu và tăng nhiều hơn ở các khu vực vĩ độ cao ở phía bắc. Khu vực đất liền nóng lên nhanh hơn các khu vực đại dương. Những thay đổi về nồng độ khí nhà kính trong khí quyển, các sol khí, độ che phủ đất và bức xạ mặt trời đã làm thay đổi cân bằng năng lượng của hệ thống khí hậu. Lượng khí thải nhà kính trên toàn cầu do con người đã tăng khoảng 70% so với thời kỳ trước cách mạng công nghiệp, trong khoảng thời gian từ 1970 đến 2004. Khí CO2 là loại khí nhà kính quan trọng nhất do các hoạt động của con người tạo ra. Từ năm 1970 đến năm 2004, phát thải hàng năm của loại khí này tăng khoảng 80%. Xu thế giảm dài hạn khí thải CO2 trên một đơn vị năng lượng đã bị đảo ngược sau năm 2000. Năm 2005, nồng độ CO2 trong khí quyển là 379 ppm và CH4 là 1.774 ppm, vượt xa mức tự nhiên trong hơn 650.000 năm qua. Nồng độ CO2 trên toàn cầu tăng chủ yếu do sử dụng nhiên liệu hoá thạch và thay đổi mục đích sử dụng đất (hoạt động này chỉ góp một phần nhỏ). Tăng nồng độ CH 4 chủ yếu do nông nghiệp và đốt nhiên liệu hóa thạch. Tốc độ tăng CH4 cũng đã giảm kể từ những năm đầu thập kỷ 90. Kể từ 1750, nồng độ CO2, CH4, N2O trong khí quyển toàn cầu tăng rõ rệt do các hoạt động của con người và hiện nay vượt xa so với mức của thời kỳ trước cách mạng công nghiệp, làm tan chảy cả các khối băng đã tồn tại qua hàng nghìn năm. 5 Hầu hết sự gia tăng nhiệt độ trung bình trên toàn cầu quan sát được từ giữa thế kỷ 20 có thể do tăng nồng độ khí nhà kính. Trong hơn 50 năm qua, nhiệt độ ở các lục địa (trừ Nam Cực) đã tăng lên đáng kể. Nóng lên toàn cầu làm gia tăng mực nước biển. Từ năm 1961, mực nước biển trung bình trên toàn cầu dâng cao với tốc độ trung bình là 1,8 mm/năm (từ 1,3-2,3 mm/năm) và từ năm 1993 ở mức 3,1mm/năm (từ 2,4- 3,8 mm/năm), do sự dãn nở vì nhiệt, tan các mũ băng và những tảng băng ở vùng cực. Tốc độ băng tan diễn ra nhanh nhất trong thời gian từ 1993 đến 2003 thể hiện sự biến đổi trong một thập kỷ, chứ chưa phải là một xu thế tan chảy dài hạn rõ ràng. Nóng lên toàn cầu làm giảm lượng băng và tuyết. Dữ liệu vệ tinh từ năm 1978 chỉ ra rằng, trung bình hàng năm, diện tích băng biển ở Bắc cực giảm khoảng 2,7%/thập kỷ (từ 2,1-3,3%/thập kỷ), mức giảm lớn nhất trong mùa hè là 7,4%/thập kỷ (5,09,8%/thập kỷ). Độ che phủ băng và tuyết ở vùng núi nhìn chung giảm ở cả hai bán cầu. Từ năm 1900 đến 2005, lượng mưa tăng đáng kể ở các khu vực phía đông của Bắc và Nam Mỹ, Bắc Âu, Bắc và Trung Á, nhưng giảm ở Sahel, Địa Trung Hải, Nam Phi và các khu vực Nam Á. Tổng diện tích bị ảnh hưởng bởi hạn hán đã tăng lên từ những năm 1970. Rõ ràng là trong hơn 50 năm qua: số ngày lạnh, đêm lạnh và sương giá ít hơn ở hầu hết các khu vực đất liền và tăng số ngày nóng, đêm nóng. Các đợt sóng nhiệt trở nên thường xuyên hơn ở hầu hết các khu vực đất liền, tần suất của các hiện tượng như mưa lớn tăng ở hầu hết các khu vực và kể từ năm 1975 phạm vi ảnh hưởng của mực nước biển cao tăng trên toàn thế giới. Bão nhiệt đới gia tăng, xuất hiện với cường độ mạnh ở Bắc Đại Tây Dương từ khoảng năm 1970 và không thấy tăng lên ở những nơi khác. Cũng không có xu thế rõ ràng về số lượng các cơn bão nhiệt đới hàng năm. Khó có thể xác định được xu hướng lâu dài về hoạt động của bão, đặc biệt trước năm 1970. Nhiệt độ trung bình của Bắc bán cầu trong nửa sau của thế kỷ 20 cao hơn bất kỳ giai đoạn 50 năm nào trong 500 năm gần đây và có thể cao nhất trong ít nhất 1300 năm qua. Bằng chứng quan sát được từ tất cả các châu lục và hầu hết các đại dương chỉ ra rằng, nhiều hệ thống tự nhiên đang bị ảnh hưởng bởi những biến đổi khí hậu khu vực, đặc biệt là nhiệt độ tăng. Những biến đổi về tuyết, băng và các vùng đất đóng băng, kích thước các hồ băng và sự bất ổn ở các vùng núi và vùng đóng băng khác dẫn đến những thay đổi ở một số hệ sinh thái ở Nam Cực và Bắc Cực. Một số hệ sinh thái dưới nước cũng bị ảnh hưởng do tăng lưu lượng nước, ảnh hưởng đến cấu trúc nhiệt và chất lượng nước sông hồ. Với các hệ sinh thái trên cạn, mùa xuân đến sớm hơn, xu thế dịch chuyển lên các cực và dịch chuyển lên cao đối với một số hệ động vật, thực vật có liên quan đến hiện tượng nóng lên gần đây. Còn với các hệ sinh thái biển và nước ngọt, những thay đổi về hệ động vật, thực vật và sự phong phú của tảo, sinh vật phù du và cá liên quan đến sự gia tăng nhiệt độ của nước, cũng như liên quan đến những thay đổi về độ che phủ của băng, độ mặn, hàm lượng ôxy và sự lưu thông của nước. 6 Có thể tóm lược những ảnh hưởng của biến đổi khí hậu đến các khu vực trên thế giới như sau: Châu Phi - Vào năm 2020, khoảng từ 75 - 250 triệu người sẽ phải chịu áp lực lớn về nước do biến đổi khí hậu. - Vào năm 2020, ở một số nước, sản lượng nông nghiệp dựa vào nước mưa có thể giảm tới 50%. Sản xuất nông nghiệp tại nhiều nước châu Phi sẽ bị thiệt hại nghiêm trọng, gây ảnh hưởng xấu hơn tới an ninh lương thực và tăng tình trạng suy dinh dưỡng. - Đến cuối thế kỷ 21, mực nước biển dâng sẽ gây ảnh hưởng tới các vùng trũng ven biển, đông dân cư. Chi phí thích ứng có thể chiếm ít nhất từ 5%-10% tổng sản phẩm quốc nội (GDP). - Năm 2080, diện tích đất khô cằn và bán khô cằn ở châu Phi sẽ tăng từ 5%-8% theo các kịch bản khí hậu. Châu Á - Đến những năm 2050, lượng nước ngọt có thể sử dụng được ở Trung Á, Nam Á, Đông Á và Đông Nam Á, đặc biệt tại các lưu vực sông lớn sẽ giảm. - Vùng ven biển, nhất là các vùng châu thổ rộng lớn đông dân ở Nam Á, Đông Á và Đông Nam Á sẽ chịu rủi ro nhiều nhất, do lũ từ sông, biển. - Biến đổi khí hậu kết hợp đô thị hoá, công nghiệp hoá và phát triển kinh tế nhanh chóng gây áp lực tới tài nguyên thiên nhiên và môi trường. - Sự hoành hành của dịch bệnh và tỷ lệ tử vong do tiêu chảy, chủ yếu liên quan đến lũ lụt và hạn hán sẽ gia tăng ở Đông Á, Nam Á và Đông Nam Á do những thay đổi trong chu trình thuỷ văn. Ôxtrâylia - Vào năm 2020, suy giảm đa dạng sinh học ở mức cao sẽ diễn ra tại một và New số điểm giàu đa dạng sinh học, gồm có Rạn san hô Great Barrier và Zealand các vùng nhiệt đới ẩm ướt ở Queensland, Ôxtrâylia. - Đến 2030, các vấn đề về an ninh nguồn nước sẽ trầm trọng hơn ở miền nam và đông Ôxtrâylia, tại miền Bắc và một số vùng Đông New Zealand . - Vào năm 2030, sản xuất nông, lâm nghiệp sẽ giảm ở hầu hết miền đông nam Ôxtrâylia và các vùng miền đông New Zealand do hạn hán và cháy rừng xảy ra nhiều hơn. Tuy nhiên, một số vùng khác ở New Zealand sẽ được hưởng những lợi ích ban đầu. - Vào năm 2050, phát triển ven biển và tăng dân số ở một số khu vực thuộc Ôxtrâylia và New Zealand sẽ làm tăng nguy cơ mực nước biển dâng, tăng tần suất và cường độ của bão, lũ ven biển. Châu Âu - Biến đổi khí hậu sẽ làm tăng sự khác biệt giữa các khu vực. Các tác động tiêu cực bao gồm tăng nguy cơ xảy ra lũ quét trong nội địa, lũ lụt ven biển thường xuyên hơn và xói mòn mạnh hơn (do bão lớn và mực nước biển dâng cao). - Các vùng núi sẽ phải đối mặt với sự thu hẹp của sông băng, độ che phủ của tuyết giảm và suy giảm số lượng lớn các loài (vào năm 2080, ở 7 - Châu Mỹ La tinh - Bắc Mỹ - Các vùng cực Các nhỏ đảo - một số khu vực tỷ lệ suy giảm là 60% tuỳ theo các kịch bản phát thải ) Ở Nam Âu - vùng đã từng dễ bị tổn thưởng bởi tính bất thường của khí hậu - biến đổi khí hậu sẽ làm cho các điều kiện (nhiệt độ cao và hạn hán) nghiêm trọng hơn và nhìn chung làm giảm khả năng sử dụng nước, tiềm năng thuỷ điện, du lịch và năng suất cây trồng. Biến đổi khí hậu cũng sẽ làm tăng mối nguy hiểm tới sức khoẻ vì các đợt sóng nhiệt và tần suất cháy rừng tự nhiên. Giữa thế kỷ này, ở miền Đông Amazôn, nhiệt độ tăng cao kết hợp với suy giảm lượng nước sẽ dẫn đến sự thay thế rừng nhiệt đới bằng các hoang mạc. Thảm thực vật bán khô hạn sẽ được thay thế bằng thảm thực vật khô hạn. Nguy cơ mất đa dạng sinh học ở mức cao là do sự tuyệt chủng các loài ở nhiều khu vực thuộc vùng nhiệt đới ở Mỹ La tinh. Năng suất của một số loại cây trồng quan trọng và khả năng sinh sản của gia súc sẽ giảm gây hậu quả bất lợi tới an ninh lương thực. Nhìn chung, số lượng người có nguy cơ bị đói gia tăng. Những thay đổi trong các mô hình về lượng mưa và sự biến mất của các sông băng sẽ gây ảnh hưởng tới khả năng sử dụng nước phục vụ cho con người, nông nghiệp và thuỷ điện. Nóng lên ở các dãy núi miền tây sẽ làm giảm lớp tuyết phủ, tăng lũ lụt mùa đông và giảm lưu lượng nước mùa hè khiến cho cuộc cạnh tranh vì tài nguyên nước phân bổ không đều diễn ra khốc liệt hơn. Trong những thập kỷ đầu của thế kỷ này, biến đổi khí hậu ở mức vừa phải sẽ nâng tổng sản lượng của ngành nông nghiệp dựa vào nước mưa thêm từ 5%-20%, nhưng sản lượng tăng thêm lại thay đổi theo vùng. Các thành phố đang trải qua các đợt sóng nhiệt sẽ gặp phải thách thức lớn hơn vì trong suốt thế kỷ này các đợt sóng nhiệt gia tăng về số lượng, cường độ và thời gian, gây tác động tiêu cực tới sức khoẻ. Các cộng đồng và nơi cư trú ven biển sẽ phải chịu ngày càng nhiều áp lực do các tác động của biến đổi khí hậu. Các ảnh hưởng chủ yếu sẽ là giảm độ dày và diện tích của các sông băng, mũ băng và băng biển, những thay đổi trong các hệ sinh thái tự nhiên gây ảnh hưởng bất lợi tới nhiều sinh vật gồm các loài chim di cư, động vật có vú và các loài ăn thịt. Đối với các cộng đồng ở Bắc cực, các tác động đặc biệt là những tác động do thay đổi trạng thái của băng, tuyết sẽ phức tạp. Các tác động tiêu cực sẽ bao gồm tác động tới cơ sở hạ tầng và lối sống truyền thống của các cộng đồng bản địa. Mực nước biển dâng sẽ làm gia tăng lũ lụt, dông bão, xói lở và các thảm hoạ ven biển khác, đe dọa cơ sở các hạ tầng có ý nghĩa quan trọng, nơi ở và các điều kiện hỗ trợ sinh kế của các cộng đồng trên đảo. 8 - Phá huỷ hiện trạng ven biển, ví dụ xói lở bờ biển và tẩy trắng san hô sẽ ảnh hưởng tới nguồn tài nguyên địa phương. - Vào giữa thế kỷ này, biến đổi khí hậu sẽ làm suy giảm tài nguyên nước ở nhiều đảo nhỏ, chẳng hạn như biển Caribê và Thái Bình Dương không có đủ nước để đáp ứng nhu cầu trong thời kỳ mưa ít. - Do nhiệt độ cao hơn nên các loài ngoại lai sẽ tăng cường xâm lấn, đặc biệt ở các đảo nằm ở vĩ độ trung và cao. Nóng lên toàn cầu và nước biển dâng có thể tiếp diễn trong nhiều thế kỷ do tính phức tạp và sự phản hồi của các quá trình khí hậu, thậm chí ngay cả khi nồng độ các khí nhà kính đã ổn định. Sau năm 2100, sự thu hẹp của dải băng Greenland sẽ tiếp diễn, góp phần làm cho mực nước biển dâng cao hơn. Các mô hình hiện nay cho thấy dải băng tan chảy hoàn toàn sẽ làm cho mực nước biển dâng cao khoảng 7m. Các nghiên cứu mô hình toàn cầu hiện nay dự báo, dải băng ở Nam cực vẫn còn quá lạnh để tan chảy trên bề mặt rộng lớn và vẫn tiếp tục tích tụ do mưa tuyết nhiều hơn. Tuy nhiên, khối lượng băng có thể giảm thực sự giảm nếu xu thế tan chảy trội hơn trong cân bằng khối của dải băng. Nóng lên toàn cầu do con người có thể dẫn tới một số tác động đột ngột hoặc không thể đảo ngược, phụ thuộc vào tốc độ và cường độ của biến đổi khí hậu. Mất một phần dải băng ở vùng cực nghĩa là mực nước biển sẽ dâng cao hàng mét, đường bờ biển sẽ có nhiều thay đổi và các vùng thấp/trũng bị nhấn chìm, gây ảnh hưởng lớn tới các vùng châu thổ sông và các đảo thấp. Những thay đổi này sẽ diễn ra trong thiên niên kỷ nhưng cũng không loại trừ trong thế kỷ này mực nước biển tăng nhanh hơn. Biến đổi khí hậu có thể gây ra một số tác động lớn. Cho đến nay, theo ước tính, khoảng từ 20%-30% loài có nguy cơ tuyệt chủng nếu nhiệt độ trung bình toàn cầu tăng khoảng 30C (tương ứng từ năm 1980-1999). Khi nhiệt độ toàn cầu tăng hơn 3,50C, dự báo mô hình cho thấy trên toàn cầu sẽ có từ 40%-70% loài tuyệt chủng. 1.2. CƠ SỞ KHOA HỌC VÀ NHỮNG ẢNH HƯỞNG CỦA SỰ THAY ĐỔI MỰC NƯỚC BIỂN Do những hoạt động khác nhau của con người, nồng độ CO2 và các khí nhà kính khác tích luỹ trong khí quyển của Trái đất và gây ra nóng lên toàn cầu. Mực nước biển dâng cao là một trong những tác động có quy mô lớn nhất do hậu quả của nóng lên toàn cầu. Các yếu tố góp phần khiến mực nước biển dâng cao trong thế kỷ 20-21 là: • Sự dãn nở nhiệt do lớp bề mặt đại dương nóng lên. • Sự bổ sung nước cho các đại dương do các vùng có băng tuyết tan chảy, như ở Hymalaya, Alaska, Patagogia… và các mũ băng ở vùng cực, như Nam Cực và Greenland. • Sự trao đổi nước với các nguồn trên lục địa như nước ngầm, các tầng ngậm nước, các đập nước, hồ chứa… Các chỏm băng lớn ở vùng cực chính là nguồn bổ sung nước tiềm tàng cho các đại dương. Nước bổ sung cho các đại dương theo hai cơ chế chung: 1) Tan chảy băng trên 9 vùng đất, sau đó tạo thành dòng chảy đổ ra các đại dương và 2) Do tính chất động lực học của băng, tạo thành dòng từ đất liền ra biển. Khi băng được chuyển ra biển, ngay lập tức nước biển dâng cao. Cho đến nay, các tính chất động lực học của băng vẫn không hề thay đổi, nhưng các bằng chứng mới đây cho thấy lượng băng đổ ra các đại dương ngày càng nhiều, diễn ra ở cả Bắc cực và Nam cực. Kể từ Báo cáo đánh giá thứ 3 của IPCC năm 2001, đã có nhiều nỗ lực trong việc đo lượng băng mất đi ở Greenland và sự góp phần của hiện tượng này vào xu thế nước biển dâng. Ringot và Kanagaratnam (2006) đã phát hiện ra sự tăng lên nhanh chóng của các dòng sông băng lớn ở vùng vĩ độ thấp trong những năm 1996- 2000, và lan rộng đến vùng vĩ độ cao vào năm 2005. Kết quả cho thấy tổng lượng băng tan chảy đã tăng gấp đôi so với thập kỷ trước. So sánh sự đóng góp của lượng băng tan của Greenland đối với nước biển dâng với ước tính của IPCC trong thế kỷ 20, các đo đạc mới lớn hơn khoảng từ 2-5 lần. Tại Nam Cực, sử dụng vệ tinh GRACE, các nhà khoa học đã xác định được sự thay đổi lớn của các tảng băng ở Nam Cực trong giai đoạn 2002-2005. Kết quả cho thấy rằng khối lượng băng đã giảm đáng kể, với tốc độ 152 ± 80 km3/năm; phần lớn khối lượng này từ các tảng băng phía Tây của Nam Cực. Tỷ lệ này lớn hơn gấp nhiều lần so với dự đoán của IPCC trong bản Báo cáo thứ ba, và IPCC cũng đã thừa nhận rằng báo cáo cuối cùng đã không xem xét đến những thay đổi động của các tảng băng phía Tây của Nam Cực. Bản Báo cáo thứ ba của IPCC cho thấy từ cuối thế kỷ 19 nhiệt độ trung bình bề mặt Trái đất đã tăng xấp xỉ 0,2-0,6oC. Thập kỷ 90 của thế kỷ 20 là thập kỷ nóng nhất trong 1000 năm qua ở bán cầu Bắc. Hai giai đoạn có nhiệt độ tăng nhanh nhất là 1910-1945 và từ 1976 đến nay với khoảng 0,15 oC/thập kỷ. Mức tăng nhiệt độ của biển chỉ bằng khoảng một nửa mức tăng nhiệt độ không khí bề mặt đất. Những phân tích mới cho thấy hàm lượng nhiệt của đại dương toàn cầu tăng lên rõ rệt từ những năm 1950, trong đó hơn một nửa lượng nhiệt tăng lên này xảy ra ở lớp nước bên trên, tương đương với mức tăng khoảng 0,040C/thập kỷ. Hình 1. Sự thay đổi nhiệt độ đại dương và đất liền trên toàn cầu (Nguồn: IPCC 2007) Mực nước biển tăng đặt ra nhiều vấn đề nghiêm trọng cho nhiều quốc đảo nhỏ đang phát triển và cho tất cả các vùng trũng trên thế giới. Báo cáo Phát triển Con người 2007-0008 (UNDP) đưa ra dự báo nếu nhiệt độ tăng thêm 3-4oC, 330 triệu người phải di dời tạm thời hay vĩnh viễn do lũ lụt. Hơn 70 triệu người Bănglađét, 6 triệu người ở 10 vùng đồng bằng thấp của Ai cập và 22 triệu người Việt Nam có thể bị ảnh hưởng. Các quốc đảo nhỏ ở Thái Bình Dương và vùng Caribê có thể bị thiệt hại hết sức nghiêm trọng. Sự thay đổi hình thái dòng chảy và hiện tượng băng tan sẽ gây ra thêm các áp lực sinh thái, ảnh hưởng xấu đến lưu lượng nước tưới và sự định cư của con người. Trung Á, Bắc Trung Quốc và khu vực phía bắc của Nam Á phải đối mặt với các nguy cơ rất lớn liên quan đến sự tan chảy của các núi băng với tốc độ 10-15m/năm ở dãy Hymalaya. Khi các núi băng tan chảy, 7 hệ thống sông lớn của châu Á sẽ có lưu lượng tăng lên trong khoảng thời gian ngắn, sau đó lại hạ xuống, ảnh hưởng đến nguồn cung cấp nước và duy trì nguồn cung lương thực cho hàng trăm triệu người ở khu vực Nam Á. Nước biển ấm lên sẽ sinh ra những cơn bão nhiệt đới mạnh hơn. Với hơn 344 triệu người hiện đang phải đối mặt với nguy cơ bị ảnh hưởng bởi các xoáy thuận nhiệt đới, các cơn bão mạnh hơn có thể gây thiệt hại nặng nề cho một số nước. Hiện có 1 tỷ người đang sống ở các khu nhà ổ chuột đô thị, trên các triền đồi có nguy cơ bị sạt lở, hay bên các bờ sông luôn bị ngập lụt đang phải đối mặt với nguy cơ tổn thương nghiêm trọng. 1.3. NHỮNG ẢNH HƯỞNG CỦA SỰ THAY ĐỔI MỰC NƯỚC BIỂN Rất khó có thể đánh giá đầy đủ về những ảnh hưởng gián tiếp của mực nước biển dâng cao do biến đổi khí hậu. Song, có thể nhận thấy các khu vực duyên hải, ven biển sẽ chịu nhiều tác động nhất, mà khu vực này lại là nơi tập trung các đô thị lớn, dân cư đông đúc và các cơ sở hạ tầng quan trọng. Một đánh giá của Chương trình Đánh giá quy mô của Con người đến Sự thay đổi môi trường toàn cầu (UNU-IHDP) cho thấy: hiện nay có rất nhiều trung tâm đô thị đặt tại các vùng thấp ven biển. Đó là các vùng đất tiếp giáp với biển, ở độ cao dưới 10m so với mực nước biển, chiếm 2% diện tích bề mặt Trái đất nhưng tập trung tới 10% dân số thế giới và 13% dân số đô thị. Có 10 nước có số đông dân số sống ở các vùng ven biển có độ cao dưới 10m, với tổng số 463 triệu người, chiếm 73% dân số thế giới sống trong khu vực này (9/10 nước này là ở khu vực châu Á). Trong số 180 nước có dân số sống ở các vùng ven biển thì có tới 70% có các đô thị lớn nhất mở rộng ra sát biển. Những hậu quả của nước biển dâng cao sẽ liên quan đến các một số lĩnh vực tiềm tàng như thuỷ sản, nông nghiệp, đa dạng sinh học, du lịch. Mực nước biển dâng cao còn dẫn tới những khủng hoảng sinh thái, kinh tế và xã hội như tạo ra các dòng người di cư (tị nạn môi trường) thoát khỏi các vùng bị ảnh hưởng, gây xáo trộn về trật tự xã hội và các vấn đề khác về sức khoẻ môi trường. Có thể tóm lược các ảnh hưởng tiềm tàng về kinh tế xã hội chính của mực nước biển dâng như sau: - Tăng nguy cơ thiệt hại về tài sản và các nơi cư trú vùng ven biển. - Tăng rủi ro ngập lụt và tỷ lệ thương vong. - Phá huỷ các công trình bảo vệ bờ biển và các công trình cơ sở hạ tầng khác. - Suy giảm các nguồn tài nguyên tái tạo và sinh kế. - Suy giảm các chức năng du lịch, giải trí và giao thông. - Thiệt hại về các giá trị về văn hóa. - Nảy sinh các vấn đề mới về tái định cư. 11 - Tác động đến nông nghiệp và nuôi trồng thuỷ sản do suy giảm chất lượng đất và nước. Tài liệu “Tác động của mực nước biển dâng cao đến các nước đang phát triển: Phân tích so sánh” của Ngân hàng Thế giới (WB) thực hiện tháng 2/2007 đã đánh giá các tác động của mực nước biển dâng cao đối với tất cả các nước đang phát triển bằng cách sử dụng bộ chỉ số đồng nhất các chỉ thị và với các kịch bản khác nhau về mực nước biển dâng cao. Có thể nói, đây là tài liệu đầu tiên được thực hiện theo hình thức này. Năm 2006, Mendelsohn và các cộng sự đã đưa ra thêm bằng chứng, bằng việc đánh giá các tác động của biến đổi khí hậu đối với thị trường tại các nước giàu và nghèo theo các kịch bản khí hậu khác nhau. Tuy nhiên, nghiên cứu này đã không đánh giá tác động của mực nước biển dâng cao đến các chỉ thị tự nhiên và xã hội. Với tài liệu này, WB đã chia 84 nước đang phát triển ở ven biển thành 5 nhóm theo 5 văn phòng khu vực của WB gồm: Mỹ Latin và Caribê (25 nước); Trung Đông và Bắc Phi (13 nước); Châu Phi cận Xahara (29 nước); Đông Á (13 nước); và Nam Á (4 nước). Với mỗi nước và khu vực, các nhà khoa học đánh giá tác động của mực nước biển dâng cao theo 6 chỉ thị: đất đai, dân số, tổng sản phẩm quốc nội (GDP), diện tích đô thị và đất ngập nước. Cuối cùng, các tác động này được tính toán theo các kịch bản về mực nước biển dâng cao từ 1-5m. Các nhà khoa học đã sử dụng phần mềm của Hệ thống thông tin địa lý (GIS) để chồng ghép 6 yếu tố quan trọng bị tác động của các vùng có nguy cơ nhấn chìm theo 5 kịch bản nước biển dâng từ 1-5m. Đánh giá cũng sử dụng các nguồn dữ liệu không gian phân tán tại nhiều trung tâm như Trung tâm Nghiên cứu các Hệ thống môi trường (CESR), Trung tâm quốc tế Mạng thông tin về Khoa học Trái đất (CIESIN), Trung tâm Quốc tế về Nông nghiệp Nhiệt đới (CIAT), Viện Nghiên cứu Chính sách Lương thực Quốc tế (IFPRI), Cơ quan Hàng không và Không gian Quốc gia (NASA), Cơ quan Quản lý Hải dương và Khí quyển quốc gia (NOAA) và WB. Các kết quả nghiên cứu cho thấy 0,31% (194.309 km2) vùng lãnh thổ của 84 nước đang phát triển bị ảnh hưởng khi mực nước biển dâng cao 1m. Tỷ lệ bị ngập có thể tăng lên 1,2% theo kịch bản nước biển dâng cao 5m. Cho dù tỷ lệ này nhỏ song sẽ có khoảng 56 triệu người (hay 1,28% dân số) ở 84 nước đang phát triển bị ảnh hưởng khi mực nước biển dâng cao 1m. Tác động của mực nước biển dâng cao đến GDP cao hơn chút ít so với tác động đến dân số. Các vùng đất ngập nước cũng chịu tác động đáng kể cho dù nước biển chỉ dâng 1m. Sẽ có 7,3% các vùng đất ngập nước ở 84 nước bị ảnh hưởng khi mực nước biển dâng cao 5m. Với mỗi chỉ thị, WB đưa ra danh sách 10 nước bị ảnh hưởng nhiều nhất. Theo đó, với kịch bản nước biển dâng cao 1m, Bahamas (khu vực Mỹ latinh và Caribê) là nước bị ảnh hưởng nặng nhất xét về diện tích bị ảnh hưởng (12% tổng diện tích). Việt Nam đứng đầu danh sách 10 nước bị ảnh hưởng về dân số, khu vực đô thị và đất ngập nước (khoảng 10%). Nông nghiệp của Ai Cập bị ảnh hưởng nhiều nhất, gần 13%. 28% diện tích đất ngập nước của Việt Nam, Jamaica và Belize có thể bị ảnh hưởng khi mực nước biển dâng cao 1m. Xét về tất cả các chỉ thị, theo Báo cáo của WB, Việt Nam nằm trong danh sách 5 nước bị ảnh hưởng nhiều nhất cùng với Ai Cập, Suriname và Bahamas. 12 Bảng 1. Tác động của mực nước biển dâng cao đến khu vực Đông Á Các đối 1m 2m 3m 4m 5m tượng bị ảnh hưởng Tổng diện tích 14.140.767 km2 Diện tích 74.020 119.370 178.177 248.970 325.089 % 0,52 0,84 1,26 1,76 2,30 Tổng dân số 1.883.407.000 người Dân số % 37.193.866 1,97 GDP (triệu 158.399 USD) % 2,09 60.155.640 90.003.580 126.207.275 3,19 4,78 6,70 Tổng GDP 7.577.206 triệu USD 255.510 394.081 592.598 162.445.397 8,63 772.904 3,37 5,20 7,82 10,20 2 Tổng diện tích đô thị 388.054 km 11.127 17.596 25.725 34.896 2,87 4,53 6,63 8,99 2 Tổng diện tích đất nông nghiệp 5.472.581 km 78.347 121.728 174.076 229.185 Đô thị % 6.648 1,71 Đất nông nghiệp % 45.393 Đất ngập nước % 36.463 1,43 2,22 3,18 4,19 Tổng diện tích đất ngập nước 1.366.069 km2 56.579 79.984 110.671 130.780 2,67 4,14 0,83 5,86 8,10 9,57 Nguồn: WB, 2007 Đông Á sẽ bị ảnh hưởng rất lớn bởi nước biển dâng. Khi nước biển dâng 5m, Đông Á là khu vực ảnh hưởng nghiêm trọng nhất trong khối các nước đang phát triển. Với các kịch bản nước biển dâng tương ứng từ 1m đến 5m, dân số bị ảnh hưởng là khoảng 2% đến 8,6%, trong khi ảnh hưởng đến GDP là 2,09% đến 10,2%. Khu vực đô thị và diện tích các vùng đất ngập nước cũng bị ảnh hưởng rất nghiêm trọng khi nước biển dâng. Theo đánh giá này, Việt Nam là nước bị ảnh hưởng nghiêm trọng nhất bởi nước biển dâng: khoảng 16% tổng diện tích của Việt Nam sẽ bị ảnh hưởng khi nước biển dâng 5m, đưa Việt Nam trở thành nước thứ hai sau Bahamas (60% tổng diện tích) trong số các nước được phân tích trong nghiên cứu này. Đa số ảnh hưởng này tác động đến Đồng bằng sông Hồng và Đồng bằng sông Cửu Long. Một phần lớn dân cư Việt Nam và các hoạt động kinh kế nằm ở vị trên vùng đồng bằng của hai con sông này. 10,8% dân số Việt Nam sẽ bị ảnh hưởng khi nước biển dâng 1m. Đây là tỷ lệ lớn nhất trong số 84 quốc gia 13 (tiếp theo là Ai Cập với 10,56%). Dân số Việt Nam sẽ bị ảnh hưởng đến 35% với nước biển dâng ở mức 5m. Ảnh hưởng của nước biển dâng đến GDP của Việt Nam và khu vực đô thị gần với mức ảnh hưởng đến dân số của Việt Nam. GDP của Thái Lan cũng sẽ bị ảnh hưởng nghiêm trọng. Tuy nhiên, ảnh hưởng này sẽ đáng kể chỉ khi nước biển dâng ở mức 4m đến 5m. Trong tất cả các chỉ thị, khu vực nông nghiệp Việt Nam sẽ ảnh hưởng nặng nhất ở các nước Đông Á. Đồng thời, nông nghiệp của Myanmar, cũng như các vùng đất ngập nước cũng sẽ bị ảnh hưởng rất lớn. Hầu hết các vùng đất ngập nước của Việt Nam sẽ bị ảnh hưởng của nước biển dâng. Bảng 2. Tác động của mực nước biển dâng cao ở Nam Á 1m Các đối tượng bị ảnh hưởng 2m 3m 4m 5m Tổng diện tích 4.197.171 km2 Diện tích % 12.362 21.983 35.696 52.207 69.225 0,29 0,52 0,85 1,24 1,65 Tổng dân số 1.306.556.000 người Dân số % 5.870.472 10.187.694 17.810.069 22.065.103 39.505.521 0,45 0,78 1,36 1,69 3,02 Tổng GDP 3.295.567 triệu USD GDP (triệu USD) % 18.021 30.957 52.036 72.462 0,55 0,94 1,58 2,20 94.020 2,85 2 Tổng diện tích đô thị 241.779 km Đô thị 809 1.379 2.311 3.599 % 0,33 0,57 0,96 1,49 5.117 2,12 2 Tổng diện tích đất nông nghiệp 3.023.617 km Đất nông nghiệp 3.442 6.951 13.501 23.716 35.190 % 0,11 0,23 0,45 0,78 1,16 Tổng diện tích đất ngập nước 579.130 km2 Đất ngập nước 9.184 % 1,59 Nguồn: WB, 2007 16.685 25.988 36.109 46.003 2,88 4,49 6,24 7,94 14 Hình 2. Dân số bị ảnh hưởng theo các kịch bản nước biển dâng ở Đông Á Nguồn:WB, 2007 Hình 3. Diện tích đất các quốc gia bị ảnh hưởng theo các kịch bản nước biển dâng ở Đông Á Nguồn: WB 2007 Hình 4. Diện tích đất ngập nước các quốc gia bị ảnh hưởng theo các kịch bản nước biển dâng ở Đông Á Nguồn: WB, 2007 15 1.2. CƠ SỞ KHUNG ĐÁNH GIÁ CÁC TÁC ĐỘNG CỦA SỰ DÂNG CAO NƯỚC BIỂN Các nghiên cứu về tác động của mực nước biển dâng cao thường tập trung vào đánh giá các tác động và sự ứng phó. Năm 2001, Smit và các cộng sự đã đưa ra khung đánh giá, trên cơ sở khung của Klein và Nicholls (1999) làm nền tảng cho thực hiện diễn giải và so sánh. Mực nước biển, cho dù do nguyên nhân nào thì nó cũng có những tác động như tăng xói lở và ngập lụt. Ngược lại các tác động này lại có những tác động đến kinh tế xã hội gián tiếp tuỳ thuộc vào sự tiếp xúc của con người trước các thay đổi này. Các hệ thống bị ảnh hưởng đồng thời cũng có những sự phản hồi quan trọng như tự điều chỉnh và thích ứng với những biến đổi trên. Các vùng ven biển là khu vực bị tác động nhiều nhất khi nước biển dâng. Vùng ven biển chính là nơi diễn ra các quá trình tương tác giữa các hệ thống tự nhiên và hệ thống kinh tế xã hội. Cả hai hệ thống này đều được đặc trưng bởi các mức ảnh hưởng (tiếp xúc), tính nhạy cảm và khả năng thích ứng trước mực nước biển dâng cao và các thay đổi khác liên quan đến khí hậu và các áp lực không liên quan đến khí hậu. Tính nhạy cảm và khả năng thích ứng kết hợp với mức độ tiếp xúc sẽ xác định tính dễ tổn thương của mỗi hệ thống. Khả năng tự thích ứng Tính nhạy cảm tự nhiên Khả năng thích ứng tự nhiên Khả năng thích ứng theo kế hoạch Tính tổn thương tự nhiên Các áp lực không liên quan đến khí hậu Cácảnh hưởng sinh-địa-vật lý HỆ THỐNG TỰ NHIÊN Khả năng tự thích ứng Nước biển dâng và các thay đổi khí hậu khác Tính nhạy cảm về kinh tế-xã hội Khả năng thích ứng kinh tế-xã hội Khả năng thích ứng theo kế hoạch Tính nhạycảmkinhtếxã hội Cácảnh hưởngkhác HỆ THỐNG KT-XH Hình 5. Cơ sở khung đánh giá Tính tổn thương và tác động của sự dâng cao nước biển đối với vùng ven biển Nguồn: Nicholl, 2002 16 Mức tiếp xúc được xác định là tính chất và mức độ, mà một hệ thống khi tiếp xúc với các thay đổi về khí hậu như nước biển dâng. Tính nhạy cảm, là mức độ mà một hệ thống khi bị ảnh hưởng, hoặc bị ảnh hưởng nghiêm trọng hoặc hưởng lại từ sự thay đổi khí hậu. Khả năng tự thích ứng, biểu hiện là các phản ứng tự nhiên thích ứng trước mực nước biển dâng cao. Các quá trình thích ứng tự nhiên thường bị giảm nhẹ, hoặc ngừng lại bởi các áp lực do con người. Khả năng thích ứng theo kế hoạch (đã xuất hiện trong hệ thống kinh tế xã hội) có thể giúp giảm thiểu tính tổn thương bằng rất nhiều giải pháp. Sự tương tác giữa các hệ thống tự nhiên và kinh tế xã hội ở các vùng ven biển diễn ra rất phức tạp. Do vậy, các hình thức thích ứng và điều chỉnh trong mỗi hệ thống và giữa hai hệ thống thường nhằm giảm cường độ của các tác động tiềm tàng khi các tác động này xảy ra. Nhờ đó, các tác động thực thường bớt nghiêm trọng hơn so với tác động tiềm tàng được dự báo ban đầu. Các kịch bản tương lai về nước biển dâng Báo cáo đánh giá lần thứ tư của IPCC đưa ra năm 2007 dự báo về mực nước biển dâng cao theo các kịch bản khác nhau: Trong 2 thập kỷ tới, nhiệt độ Trái đất sẽ tăng khoảng 0,20C mỗi thập kỷ. Thậm chí nếu nồng độ của các khí nhà kính và các sol khí khác vẫn giữ ở mức năm 2000 thì nhiệt độ trung bình Trái đất vẫn tăng thêm 0,10C mỗi thập kỷ. Bảng 4. Các kịch bản và nhiệt độ và nước biển dâng theo IPCC (2007) Các kịch bản Mức nền của năm 2000 Kịch bản B1 Kịch bản A1T Kịch bản B2 Kịch bản A1B Kịch bản A2 Kịch bản A1F1 Sự thay đổi nhiệt độ (0C, giai đoạn 2090-2099 so với giai đoạn 1980-1999) Trung bình Giới hạn 0,6 0,3-0,9 1,8 1,1-2,9 2,4 1,4-3,8 2,4 1,4-3,8 2,8 1,7-4,4 3,4 2,0-5,4 4,0 2,4-6,4 Mực nước biển dâng (m, giai đoạn 2090-2099 so với giai đoạn 1980-1999) Phạm vi dao động 0,18-0,38 0,20-0,45 0,20-0,43 0,21-0,48 0,23-0,51 0,26-0,59 Nguồn: IPCC, 2007 Kịch bản A1: Nền kinh tế thế giới tăng trưởng nhanh, dân số toàn cầu đạt cực đại vào những năm giữa thế kỷ và nhiều công nghệ mới hiệu suất cao sẽ được đưa vào sử dụng. Kịch bản A1 chia làm 3 nhóm với các hướng thay đổi khác nhau trong công nghệ: - Nhiên liệu hóa thạch (A1F1). - Nhiên liệu phi hóa thạch (A1T). - Cân bằng giữa các loại năng lượng (A1B). Kịch bản B1: Dân số toàn cầu cũng đạt cực đại vào những năm giữa thế kỷ giống kịch bản A1 nhưng có sự thay đổi nhanh hơn trong cơ cấu kinh tế theo hướng dịch vụ và kinh tế nông thôn. Kịch bản B2: Sự tăng trưởng kinh tế và dân số ở mức trung bình, các giải pháp phát triển kinh tế, xã hội và môi trường bền vững khu vực được chú trọng. Kịch bản A2: dân số toàn cầu tăng trưởng nhanh trong khi phát triển kinh tế và chuyển giao công nghệ chậm. 17 II. ẢNH HƯỞNG CỦA SỰ DÂNG CAO NƯỚC BIỂN TỚI MỘT SỐ QUỐC GIA CÓ BIỂN VÀ VIỆT NAM 2.1. BĂNGLAĐÉT Bănglađét là một trong những vùng châu thổ lớn trên thế giới với 230 hệ thống sông ngòi dày đặc phân bố khắp đất nước. Trong đó lớn nhất là Hệ thống sông Hằng, Brahmaputra và Meghna. Địa hình Bănglađét thoải từ phía Bắc xuống phía Nam với 710 km đường bờ biển. Dải ven biển phía Nam nằm song song với Vịnh Bengal ở mũi phía Bắc của Ấn Độ Dương, nông và có dạng hình cung lõm, thường xuyên bị bão tấn công, gây ra sóng lớn. Dải ven biển tập trung 19 trong số 64 quận của Bănglađét, trong đó có 12 quận tiếp giáp với biển hoặc nằm trên vùng cửa sông. Dân số vùng ven biển là 35,1 triệu người, chiếm 28% tổng dân số (năm 2003). Mật độ dân số ở vùng duyên hải là 482 người/km2, trong khi có những nơi tập trung tới 1.012 người/km2. Nuôi trồng thuỷ sản, nông nghiệp, nuôi tôm, sản xuất muối và du lịch là các hoạt động kinh tế chính ở vùng ven biển Bănglađét. Bănglađét là nước tốc độ tăng trưởng kinh tế thấp, thiếu vốn đầu tư và cơ sở hạ tầng cần thiết, thiếu năng lực thể chế, phụ thuộc nhiều vào tài nguyên thiên nhiên.... Những đặc điểm này khiến cho Bănglađét rất dễ tổn thương trước các ảnh hưởng của biến đổi khí hậu, và dân cư ở dải ven biển tổn thương nhiều hơn so với dân cư ở các khu vực khác nếu xảy ra các tác động. Theo đánh giá của Chương trình Phát triển Liên Hợp Quốc (UNDP) năm 2007, mực nước biển dâng 1m sẽ nhấn chìm 18% diện tích đất, trực tiếp đe doạ 11% dân số. Tác động của mực nước sông do mực nước biển dâng cao có thể ảnh hưởng đến 70 triệu người. Nước biển dâng cao 1m sẽ ảnh hưởng tới diện tích rộng lớn vùng ven biển và vùng đồng bằng ngập lũ. Điều này sẽ ảnh hưởng đến việc thực hiện các mục tiêu Phát triển Thiên niên kỷ, gây ra dòng người tị nạn môi trường. Các đối tượng bị tổn thương nhiều nhất khi nước biển dâng 1m là tài nguyên vùng ven biển, tài nguyên nước, nông nghiệp và đa dạng sinh học, trong đó Sundarbans là khu vực bị ảnh hưởng nhiều nhất. Khu vực Sundarbans là nguồn sinh kế duy trì cuộc sống cho khoảng 10 triệu người. Các hoạt động chính ở Sundarbans là khai thác thuỷ sản, gỗ và mật ong (Bảng 5). Bảng 5: Nước biển dâng và những ảnh hưởng tiềm tàng ở Bănglađét Năm Mực nước dâng Diện tích chìm dưới mực nước biển 2020 10cm 2 % diện tích đất (2.500 km2) Bão Ngập lụt Ngập lụt tăng 20% . 2050 25cm 4 % diện tích đất (6.300 km2) 2100 1m 17,5 % diện tích đất (25,000 km2). Các khu vực bị ảnh hưởng nhiều nhất gồm Patuakhali, Khulna và Barisal 1991 trận bão, lốc diễn ra, Bão làm nước dâng 7,4-9,1m và với mức tăng 10% về làm mực nước biển dâng cao 1 cường độ, tốc độ gió tăng m. từ 225 đến 248 km/h; Tăng ngập lụt ở sông Tăng diện tích bị ngập mức độ đồng bằng ngập lũ sông lũ lụt. 18 Nông nghiệp Hệ sinh thái Xâm nhập mặn Nước biển dâng làm giảm 0,2% sản lượng do ngập. Giảm 1% sản lượng so với mức hiện nay. Nhấn chìm 15% Sundarbans Tăng Meghna và sông Hằng. Ngập trong mùa mưa làm tăng thiệt hại mùa màng. Mực biển dâng cao 0,3m Lũ tàn phá làm thiệt hại trong làm giảm 0,5% sản lượng nhiều năm do ngập. Giảm 2% so với mức hiện nay. Nhấn chìm 40% Sundarbans Tăng Sundarbans có thể mất hoàn toàn. Mất Sundarbans và các vùng ngập nước ven biển làm giảm diện tích các bãi đẻ của nhiều loài cá, làm giảm số lượng quần thể. Tăng Nguồn: WB, 2000. Ngoài các nguyên nhân do băng tan và nước dãn nở do nhiệt, thì sự sụt lún và nâng lên của nền đất là các yếu tố quan trọng góp phần vào nước biển dâng ở Bănglađét. Một nghiên cứu do Trung tâm Nghiên cứu Khí tượng (SAARC) thực hiện năm 2003 dựa trên 22 bộ dữ liệu năm về thuỷ triều tại 3 trạm đo ven biển cho thấy tốc độ nước biển dâng trong 22 năm qua là khá cao. Mức triều dâng ở Hiron Point, Char Changa và Cox’s Bazar tương ứng với các mức 4,0 mm/năm, 6,0 mm/năm và 7,8 mm/năm trong khoảng thời gian từ 1977-1998. Tốc độ triều dâng ở dải ven biển phía tây cao gấp đôi dải ven biển phía đông. Sự khác biệt này có thể do sự sụt lún và nâng lên của nền đất, tuy nhiên xu thế sụt lún là chủ yếu. Để đánh giá chính xác mức nước biển dâng lên ở vùng ven biển Bănglađét, cần có những đo đạc về lượng phù sa ở các vùng châu thổ và tốc độ nâng lên hay sụt lún của nền đất trong đó phải kể đến hai hệ thống sông lớn là sông Hằng và sông Brahmaputra vận chuyển gần 1,6 tỷ tấn phù sa mỗi năm. Các tác động liên quan đến nước do biến đổi khí hậu và nước biển dâng là những vấn đề nghiêm trọng nhất ở Bănglađét, đặc biệt là liên quan đến ngập lụt ven biển và ven sông. Những thay đổi về nền đáy sông do quá trình vận chuyển phù sa và trầm tích, cũng như những thay đổi về đặc điểm hình thái do biến động mực nước và lưu lượng dòng chảy theo mùa cũng có ý nghĩa quan trọng. Nguy cơ xói lở tăng lên khi mực nước biển và nước sông dâng cao. Nước biển dâng cuốn trôi lớp đất bề mặt ở dải ven biển, khiến cho khu vực trở nên dốc hơn. Dải ven biển của Bănglađét được thành tạo bởi đất bùn và cát do vậy rất dễ tổn thương trước nước biển dâng. Xói lở còn là nguyên nhân khiến con người phải di dời. Hầu hết người nghèo ở Bănglađét không có đất. Nhà có thể bị sập do xói lở và nhiều lần sập như vậy khiến họ càng nghèo khổ hơn. Một nghiên cứu của Viện nghiên cứu Chính sách Trái đất năm 2004 cho thấy sẽ có khoảng 40 triệu người Bănglađét trở thành tị nạn môi trường do nước biển dâng 1m. Xu thế di cư ra các vùng ven biển khá rõ ràng ở Bănglađét. Trong khi tốc độ tăng dân số của nước này là 1,2% (2000-2005) thì tốc độ tăng dấn số ở các vùng ven biển thấp dưới 10m là 2,1%, ở khu vực đô thị là 2,8%. Dòng người tị nạn môi trường này ngoài một số di dời vào sâu trong nội địa, một số khác tìm đường sang các nước láng giềng như Ấn Độ và Pakistăng, gây những bất ổn về xã hội trong khu vực. 19 Nước biển dâng sẽ làm tăng các hoạt động làm thay đổi đặc điểm hình thái học của sông, gia tăng lưu lượng dòng chảy và do vậy làm tăng khả năng xói lở bờ. Xói lở bờ ở các khu vực cồn đôi khi còn xóa sổ chúng trên bản đồ của Bănglađét. Trong giai đoạn 1972-1987, đã có khoảng 196 km2 cồn bị xói lở và tổng số 11 cồn biến mất tại lưu vực sông Meghna. Xói lở bờ sông là hiện tượng phổ biến dọc theo các Hệ thống sông Hằng, Jamuna và Tista. Trong giai đoạn 1973-1996, đã có khoảng 1,7 triệu ha vùng ngập lũ nhạy cảm với quá trình xói lở bờ sông. Trong khi có 73.552 ha đất bị xói lở chỉ có 10.628 ha đất được bồi tụ. Mức độ xói lở trầm trọng còn phụ thuộc vào lưu lượng dòng chảy sông và lưu lượng này thay đổi lớn theo mùa. Bănglađét là quốc gia có tài nguyên nước dồi dào, song thực tế là có tới hơn 92% lưu lượng dòng chảy hàng năm là từ bên ngoài lãnh thổ. Vào mùa mưa tổng lưu lượng của sông Hằng và sông Brahmaputra có thể đạt đỉnh điểm 80.000 – 140.000 m3/s vào tháng 7-8 hoặc đầu tháng 9, trong khi lưu lượng của sông Hằng vào tháng 2 và tháng 4 chỉ là gần 1.000 m3/s, sông Brahmaputra thấp hơn 4.000 m3/s trong khoảng tháng 3 và tháng 4. Ngập lụt là một hiện tượng phổ biến ở Bănglađét. Ngập lụt ảnh hưởng tới 80% diện tích lãnh thổ mà nguyên nhân có thể do lũ quét, mưa lớn, ngập lụt theo mùa và ngập lụt vùng ven biển do nước dâng kèm theo bão. Trong những năm bình thường, 20-25% lãnh thổ bị ngập lụt do nước sông dâng hoặc tắc nghẽn dòng chảy. Nghiên cứu năm 2003 của SAARC cho thấy xu thế ngày càng tăng của các cơn bão lớn trên Vịnh Bengal trong thời gian từ tháng 11 năm trước đến tháng 5 năm sau. Hộp 1: Trận lụt lịch sử ở Bănglađet Lũ lụt là chuyện bình thường về sinh thái ở Bănglađét. Khi khí hậu biến đổi, lũ lụt bất thường có thể sẽ là đặc điểm nổi bật trong tương lai. Kinh nghiệm sau trận lụt năm 1998 thường gọi là trận lụt thế kỷ - nêu bật nguy cơ lũ lụt gia tăng sẽ dẫn đến những thụt lùi lâu dài về phát triển con người. Trận lụt năm 1998 là một hiện tượng cực đoan. Trong năm bình thường thì khoảng ¼ đất nước bị ngập lụt. Khi lên tới đỉnh điểm, trận lụt 1998 ngập trắng 2/3 đất nước. Trên 1.000 người chết và 30 triệu người thành vô gia cư. Khoảng 10% diện tích trồng lúa toàn quốc mất trắng. Ngập lụt kéo dài không thể trồng cấy lại nên hàng chục triệu hộ phải đối mặt với khủng hoảng lương thực. Tỷ lệ trẻ em suy dinh dưỡng gấp đôi sau lụt. Mười lăm tháng sau lụt, 40% trẻ có tình trạng dinh dưỡng kém vào thời gian ngập lụt vẫn chưa trở lại được mức dinh dưỡng cũ. Việc đối phó với trận lụt 1998 đôi khi được coi là bài học thành công về xử lý thiên tai. Tuy nhiên, lũ lụt có tác động xấu về lâu dài, rõ nhất là về tình trạng dinh dưỡng của trẻ vốn đã suy dinh dưỡng. Trẻ bị tác động có thể không bao giờ có khả năng phục hồi sau hậu quả. Hộ nghèo phải chịu đựng trong thời gian trước mắt do cắt giảm tiêu dùng và bệnh tật gia tăng, và do phải gánh chịu nợ nần chồng chất hơn. Nguồn: Báo cáo Phát triển Con người 2007-2008, UNDP. 20
- Xem thêm -