Tài liệu Bảo hộ và chia sẻ lợi ích tri thức bản địa trong pháp luật quốc tế và pháp luật việt nam

  • Số trang: 19 |
  • Loại file: PDF |
  • Lượt xem: 555 |
  • Lượt tải: 0

Mô tả:

Bảo hộ và chia sẻ lợi ích tri thức bản địa trong\r\npháp luật quốc tế và pháp luật Việt Nam
Bảo hộ và chia sẻ lợi ích tri thức bản địa trong pháp luật quốc tế và pháp luật Việt Nam Nguyễn Thị Hải Yến Khoa Luật Luận văn Thạc sĩ ngành: Luật quốc tế; Mã số: 60 38 60 Người hướng dẫn: TS. Hoàng Ngọc Giao Năm bảo vệ: 2009 Abstract: Đưa ra khái niệm, cách hiểu, đặc điểm của tri thức bản địa, những vấn đề pháp lý liên quan tới tri thức bản địa như nguyên lý pháp lý của bảo hộ tri thức bản địa, mối quan hệ giữa bảo hộ tri thức bản địa và pháp luật về sở hữu trí tuệ. Nghiên cứu tình hình pháp luật quốc tế về bảo hộ tri thức bản địa thông qua quy định của các định chế quốc tế lớn như WTO, WIPO, UNESCO và thực tế quy định bảo hộ tri thức bản địa của một số các quốc gia. Thực trạng về pháp luật bảo hộ tri thức bản địa Việt Nam, những kiến nghị về giải pháp bảo hộ. Keywords: Luật Quốc tế; Bảo hộ; Pháp luật quốc tế; Pháp luật Việt Nam; Tri thức bản địa Content MỞ ĐẦU 1. Lý do chọn đề tài Tri thức truyền thống được khai thác trên phạm vi toàn cầu hàng ngàn năm nay và được cộng đồng quốc tế nghiên cứu nhằm tìm kiếm các công cụ pháp lý để bảo vệ từ những năm bẩy mươi của thế kỷ trước. Cho đến nay, đây vẫn là chủ đề gây tranh luận không chỉ trên bình diện quốc gia mà còn ở các diễn đàn quốc tế. Tri thức bản địa được hiểu là là những kinh nghiệm được duy trì và đúc rút qua nhiều thế hệ ở các cộng đồng cư dân từ thực tiễn sản xuất và đời sống. Cho tới nay, thế giới đã công nhận tri thức bản địa là nguồn tri thức có tính hữu dụng cao trong cuộc sống hàng ngày của con người và được xem là cơ sở cho những sáng tạo kế tiếp của nhiều ngành hoa học mà hiện đang là mối quan tâm của toàn thế giới. Những tri thức này có thế kể đến là các tri thức về thiên nhiên, y dược học, thực phẩm, văn hóa nghệ thuật… Trong quá trình toàn cầu hóa ngày càng sâu rộng và nhờ có sự trợ giúp phát triển mạnh mẽ của công nghệ thông tin, tri thức bản địa được biết đến nhiều hơn trở thành một trong những vấn đề được pháp luật quốc gia và quốc tế quan tâm hơn. Tuy nhiên, việc tiếp cận thế nào để sử dụng nó được nhiều hơn, ai được hưởng lợi và chia sẻ những lợi ích từ việc hưởng lợi như thế nào ngày càng gây tranh cãi và bất đồng giữa các cộng đồng và các quốc gia. Nằm trong tình hình chung hội nhập, Việt Nam cũng như các quốc gia đang phát triển đang lo ngại về những tri thức truyền thống đúc rút từ kinh nghiệm của rất nhiều thế hệ cộng đồng khác nhau sẽ không được sử dụng tương xứng với giá trị của nó. Trong khi quốc tế đang có những nghiên cứu và hợp tác sâu rộng về bảo hộ tri thức truyền thống thì việc nghiên cứu bảo hộ và bảo tồn tri thức bản địa của Việt Nam càng mang tính cấp thiết, đảm bảo cho chúng ta có những kiến thức đầy đủ bảo vệ mình thông qua cơ chế chính sách pháp luật cụ thể, rõ ràng đồng thời sẵn sàng kiến thức trong quá trình đàm phán quốc tế về vấn đề này. Thực tế tận dụng thế mạnh tri thức để phát triển kinh tế, Đại hội Đảng lần thứ X Đảng Cộng sản Việt Nam khẳng định công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong bối cảnh quốc tế mới phải gắn với phát triển kinh tế tri thức: "Tranh thủ cơ hội thuận lợi do bối cảnh quốc tế tạo ra và tiềm năng, lợi thế của nước ta để rút ngắn quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa gắn với phát triển kinh tế tri thức. Phát triển mạnh các ngành và sản phẩm kinh tế có giá trị gia tăng cao dựa nhiều vào tri thức; kết hợp việc sử dụng nguồn vốn tri thức của con người Việt Nam với tri thức mới nhất của nhân loại". Nghị quyết số 41/NQ-TW ngày 15 tháng 11 năm 2004 của Bộ Chín h tri ̣về bảo vê ̣ môi trường trong thời kỳ đẩ y ma ̣nh công nghiê ̣p hóa , hiê ̣n đa ̣i hóa đấ t nước vì mu ̣c tiêu phát triể n bề n vững , bảo tồn thiên nhiên và đa dạng sinh học là một trong ba nhiệm vụ trọng tâm của công tác bảo vê ̣ môi tr ường (bên ca ̣nh các nhiê ̣m vu ̣ phòng ngừa và kiể m soát ô nhiễm , cải thiê ̣n và nâng cao chấ t lươ ̣ng môi trường ). Đây là những định hướng rất cần thiết giúp chúng ta có những quan tâm đặc biệt về việc tận dụng những tri thức truyền thống, kết hợp với tri thức bên ngoài để phát triển kinh tế. Đồng thời, những định hướng trên cũng làm cơ sở cho chúng ta xây dựng cơ chế bảo hộ vốn tri thức truyền thống, bảo vệ môi trường và phát triển bền vững. Về mặt luật pháp, mặc dù chưa có luật chuyên ngành về quản lý và khai thác tri thức truyền thống, tuy nhiên chúng ta đã bắt đầu quy định việc bảo hộ nguồn tri thức này thông qua các luật chuyên ngành như Luật Sở hữu trí tuệ năm 2005, Bộ luật Dân sự năm 2005, Luật Đa dạng sinh học năm 2007, Luật Bảo vệ môi trường năm 2005… Nhận thấy tầm quan trọng và để đóng góp cho những nghiên cứu về tri thức truyền thống, cách thức bảo hộ pháp lý trong việc sử dụng và chia sẻ lợi ích từ khai thác tri thức truyền thống, tôi đã lựa chọn đề tài: "Bảo hộ và chia sẻ lợi ích tri thức bản địa trong pháp luật quốc tế và pháp luật Việt Nam" 2. Tình hình nghiên cứu đề tài So với các đối tượng được bảo hộ pháp lý của luật sở hữu trí tuệ, bảo hộ tri thức bản địa mới được đưa ra nghiên cứu trong những năm gần đây. Các nghiên cứu xuất hiện nước ta hiện nay thể hiện ở những góc độ khác nhau và được trình bày dưới dạng các bài báo khoa học, chuyên đề, báo cáo tổng kết… Có thể kể tới các nghiên cứu này như: Mối quan hệ giữa văn hóa và môi trường, tài liệu dự án "Tri thức bản địa về môi trường" của Bùi Văn Thắng thuộc Viện Văn hóa - Thông tin Hà Nội, 2007; "Bảo hộ tri thức truyền thống tại Việt Nam, vấn đề pháp lý và thực tiễn" của Phạm Hồng Quất, Cục Sở hữu trí tuệ, 5/2008; một số tài liệu cho phép tham khảo tại dự án Việt Nam - Thụy Sĩ về sở hữu trí tuệ (SVIP) 2007 - 2010; một số bài viết của Tiến sĩ Peter- Tobias Stoll Bộ môn Luật môi trường và kinh tế thế giới, Khoa luật Đại học Geord - August, Gottingen, Đức như: Max-Planck - Tham luận về luật của Tổ chức Thương mại Thế giới, quyển 1, Martinus Nijhoff, Nhà xuất bản Leiden, Boston, 2006 - 2008; "Bảo hộ tri thức truyền thống cộng đồng bản địa", của Thanh Hương, Trung tâm Con người và Thiên nhiên, 2009; "Cách tiếp cận của Hoa Kỳ: Nguồn gen, tri thức truyền thống và văn 2 hóa dân gian", của Jeanne Holden, chuyên đề về quyền sở hữu trí tuệ, ấn phẩm của chương trình thông tin quốc tế, Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ, tháng 1/ 2006; "Về khái niệm tri thức bản địa", của Bùi Hoài Sơn, Viện Văn hóa Nghệ thuật Việt Nam, 2008; các bài viết về tri thức bản địa của thạc sĩ Nguyễn Hữu Cải, Trường Đại học Nông - Lâm Thành phố Hồ Chí Minh; "Tri thức bản địa và phát triển", của Bùi Thị Thu Hà, Ban Nghiên cứu Văn hóa sinh thái và Du lịch Viện Văn hóa Nghệ thuật Việt Nam, 2007; "Thái Lan: Luật pháp bảo vệ nguồn gen thực vật" của Surawit Wannakrairoj, Tạp chí Luật học, số 5, 2001; Báo cáo chuyên đề: "Phân tích, đánh giá thực trạng pháp luật về đa dạng sinh học tại Việt Nam", của Bộ Tài nguyên và Môi trường, 2005; Báo cáo: "Tổng quan về đa dạng sinh học ở Việt Nam", của Bộ Tài nguyên và Môi trường, 1/ 2008; … Tuy nhiên, nhìn chung chưa có một công trình nghiên cứu đầy đủ và tổng thể về bảo hộ tri thức bản địa dưới góc độ pháp lý đáp ứng những đòi hỏi và thách thức hội nhập hiện nay. 3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của luận văn Mục đích nghiên cứu: Góp phần làm rõ khái niệm và bản chất của tri thức bản địa dưới góc độ pháp luật; Cung cấp những nghiên cứu về các phương thức bảo hộ và chia sẻ lợi ích tri thức bản địa theo pháp luật quốc tế và thực trạng pháp luật Việt Nam điều chỉnh vấn đề này nhằm đưa ra những kiến nghị giải pháp cụ thể xây dựng pháp luật về bảo hộ tri thức bản địa ở nước trong thời kỳ hội nhập. Nhiệm vụ nghiên cứu: Với mục đích trên, nhiệm vụ nghiên cứu của luận văn là: - Đưa ra khái niệm, cách hiểu, đặc điểm của tri thức bản địa, những vấn đề pháp lý liên quan tới tri thức bản địa như nguyên lý pháp lý của bảo hộ tri thức bản địa, mối quan hệ giữa bảo hộ tri thức bản địa và pháp luật về sở hữu trí tuệ. - Tình hình pháp luật quốc tế về bảo hộ tri thức bản địa thông qua quy định của các định chế quốc tế lớn như WTO, WIPO, UNESCO và thực tế quy định bảo hộ tri thức bản địa của một số các quốc gia. - Thực trạng về pháp luật bảo hộ tri thức bản địa Việt Nam, những kiến nghị của học viên về giải pháp bảo hộ. 4. Phạm vi nghiên cứu Đây là một đề tài rộng nên trong luận văn học viên không thể đề cập hết những vấn đề cụ thể mà chỉ tập trung vào những phần chính mà tác giả cho là quan trọng nhất. 5. Kết cấu của luận văn Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của luận văn bao gồm 3 chương: Chương 1: Khái niệm tri thức bản địa. Chương 2: Những biện pháp bảo hộ và chia sẻ lợi ích tri thức bản địa trong pháp luật quốc tế. Chương 3: Bảo hộ và chia sẻ lợi ích tri thức bản địa trong pháp luật Việt Nam. Chương 1 KHÁI NIỆM TRI THỨC BẢN ĐỊA 3 Chương này được chia ra làm nhiều mục nhỏ khác nhau nhằm giới thiệu và làm rõ khái niệm tri thức bản địa thông qua việc đưa ra quan điểm của các tổ chức quốc tế lớn như WIPO, WHO, ILO… bao gồm cách hiểu, cách gọi;dd điểm của tri thức bản địa;b hiện của tri thức bản địa. Tiêp đó tác giả luận văn đưa ra lý luận nguyên lý pháp lý về bảo hộ tri thức bản địa, mối quan hệ giữa bảo hộ tri thức bản địa và luật sở hữu trí tuệ. 1.1. Khái niệm tri thức bản địa Khái niệm Tri thức bản địa được bóc tách làm 2 phần "tri thức" và "bản địa". Về khái niệm Bản địa, Trong Công ước số 169 của Tổ chức Lao động quốc tế (ILO Convention 169) để chỉ "người dân ở những nước độc lập được coi là những thổ dân căn cứ theo nguồn gốc của họ có từ cư dân sinh sống tại nước đó, hay tại một khu vực địa lý nhất định của nước đó, vào thời khi mà đất nước này bị xâm chiếm hay bị làm thuộc địa hay vào lúc bắt đầu hình thành biên giới hiện nay của quốc gia này, và là những người không kể địa vị pháp lý của họ thế nào, vẫn giữ lại một vài hoặc tất cả thể chế chính trị, văn hóa, kinh tế, xã hội của riêng họ" (Điều 1). Tuy nhiên, cũng có những cách hiểu khác, ví dụ, trong một quốc gia, nhiều khi những tộc người thiểu số được gọi là bản địa. Trên phạm vi toàn cầu, đôi khi người ta gọi những dân tộc có lịch sử sinh sống lâu đời trên một vùng đất là dân tộc bản địa. Như vậy, người Việt có thể được coi là dân bản địa ở phương diện thế giới, những không được coi là dân tộc bản địa trong phạm vi quốc gia. Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) khi nói về những kiến thức truyền thống về y học đã đưa ra khái niệm "y học truyền thống". Tổ chức Sở hữu Trí tuệ Thế giới (WIPO) khi đưa ra "Quy định mẫu cho luật quốc gia về bảo hộ các tác phẩm văn hóa dân gian chống lại việc khai thác trái phép và những hành động gây phương hại khác" năm 1982, dùng đồng thời những thuật ngữ "tri thức bản địa", "tri thức truyền thống", "tri thức dân gian" và "tri thức thổ dân". Tuy nhiên sau này, những khái niệm trên cũng được WIPO dùng không chỉ bao gồm đối tượng tri thức của hoạt động "biểu hiện nghệ thuật truyền thống dân gian" mà còn là cả tri thức từ những hoạt động khác như bảo tồn nguồn gen và tri thức truyền thống. Luật một số nước cũng có những cách gọi khác nhau, có thế là "tri thức truyền thống kết hợp", "tri thức bản địa" hoặc "tri thức tập thể"... Nhìn chung những khái niệm trên có thể được hiểu giống nhau đó là những kiến thức được một số cộng đồng dân cư hoàn thiện, duy trì, phát triển qua một thời gian dài, qua các thế hệ khác nhau phản ánh sự tương tác qua lại giữa con người và môi trường tự nhiên. Dựa trên điều kiện lịch sử của Việt Nam - đã từng là thuộc địa lâu dài của các nước như Trung Quốc, Nhật bản, Pháp, Mỹ; căn cứ tình hình thực tế tri thức bản địa không chỉ bị đe dọa do thiếu sự bảo tồn mà còn bị đe dọa bởi sự đánh cắp do áp lực toàn cầu hóa nên học viên cho rằng nên gọi những tri thức mà đề tài này nghiên cứu với thuật ngữ là "tri thức bản địa" từ các thuật ngữ đã nêu trên. Tuy nhiên, trong khi nghiên cứu, đề tài này cũng sẽ được sử dụng cả thuật ngữ "tri thức truyền thống" và "tri thức bản địa". 1.2. Đặc điểm tri thức bản địa Tri thức bản địa có những đặc trưng khác biệt nếu so sánh với các đối tượng bảo hộ của quyền sở hữu trí tuệ, mhững đặc trưng có thể kể đến là: Tính cộng đồn, tính khoa học và trải 4 nghiệm, tính lãnh thổ, tính không chính thức, các tri thức bản địa thường gắn với những khái niệm văn hóa tâm linh. 1.3. Biểu hiện của tri thức bản địa Việc xác định hay cố gắng đưa ra một khái niệm cụ t thức bản địa là rất khó và có thể sẽ làm hạn chế phạm vi của tri thức bản địa. Chính vì vậy rất cần thiết xác định những biểu hiện của tri thức bản địa. Tổ chức sở hữu trí tuệ thế giới phân loại tri thức bản địa bao gồm: Tri thức nông nghiệp; tri thức khoa học; tri thức kỹ thuật; tri thức sinh thái; tri thức về thuốc, bao gồm các bài thuốc và các phương pháp chữa bệnh; tri thức liên quan tới đa dạng sinh học. Dưới góc độ quyền sở hữu trí tuệ, theo Tổ chức Sở hữu trí tuệ Thế giới (WIPO), việc bảo hộ những tri thức trên được chia thành ba mảng chính: - Tiếp cận các nguồn gen và chia sẻ lợi ích; - Bảo vệ sự sáng tạo trong tri thức truyền thống; - Bảo hộ biểu hiện của văn hóa dân gian. Đây là ba biểu hiện quan trọng và có liên hệ mật thiết với nhau và với quyền sở hữu trí tuệ. Sở dĩ ba chủ đề trên ngày càng được quốc tế quan tâm, bàn thảo vì nó liên quan tới các chính sách quan trọng của thế giới cũng như mỗi quốc gia về nông nghiệp, lương thực, đa dạng sinh học, môi trường, nhân quyền, đa dạng văn hóa, sắc tộc, phát triển kinh tế và thương mại. Đây là những vấn đề quan trọng bức thiết nổi lên gần đây đòi hỏi mỗi quốc gia phải quan tâm, giải quyết. 1.3.1. Bảo vệ nguồn gen 1.3.2. Bảo hộ tri thức truyền thống 1.3.3. Bảo hộ các hình thức biểu hiện văn hóa dân gian Ba mục nhỏ này làm rõ thêm phần biểu hiện của tri thức truyền thống, đưa ra cách hiểu chung nhất theo WIPO về nguồn gen là gì, vì sao bảo vệ nguồn gen và chia sẻ lợi ích lại là một phần của tri thức truyền thống - thực chất của vấn đề là tri thức truyền thống là phần quan trọng đưa ra cách sử dụng và bảo tồn gen như thế nào; cũng như vậy, hai phần nhỏ còn lại đưa ra cách hiểu thế nào về tri thức truyền thống, các hình thức biểu hiện văn hóa dân gian… 1.4. Tri thức bản địa và chia sẻ lợi ích tri thức bản địa trong tình hình hiện nay Ở phần này, tác giả luận văn muốn nêu lên thực trạng bảo hộ tri thức bản địa trước vòng xoáy của toàn cầu hóa, những thuận lợi và khó khăn. 1.5. Bảo hộ pháp lý đối với tri thức bản địa Bảo hộ pháp lý đối với tri thức bản địa được hiểu trong luận văn này là sự bảo hộ chống lại việc sử dụng trái phép của bên thứ ba (như sao chép, phóng tác và sử dụng nhằm mục đích thương mại). Đây là một hình thức bảo vệ hơn là bảo tồn (bảo tồn là bảo vệ tránh bị mất và mai một; bảo vệ là việc tánh sử dụng trái phép hoặc sử dụng không được người khác cho phép). Hiện tại có hai hình thức bảo hộ pháp lý đối với tri thức truyền thống đó là bảo hộ "tích cực" và bảo hộ "phòng vệ". Bảo hộ "tích cực": Là việc tri thức bản địa có được các quyền bảo vệ của quyền sở hữu trí tuệ, các quyền sở hữu trí tuệ này nhằm tạo ra các sự bảo hộ tích cực chống lại một loạt các hành vi như khai thác trái phép, làm sai lệch làm giảm giá trị, trích dấn sai lệch về nguồn gốc hay không công bố nguồn gốc tri thức bản địa khi sử dụng… 5 Bảo hộ phòng vệ: Đây là việc sử dụng dữ liệu thống kê chính thức về các loại tri thức bản địa nhằm loại trừ hoặc phản đối các quyền đối với các sáng chế được yêu cầu bảo hộ mà có sử dụng trực tiếp từ tri thức bản địa này. 1.6. Nguyên lý pháp lý bảo hộ tri thức bản địa Mục này đưa ra câu hỏi và trả lời vì sao phải bảo hộ tri thức bản địa? Việc này sao bây giờ mới đặt ra mà không phải là từ trước đây. Có hai nguyên nhân mà chúng ta phải đặt ra vấn đề bảo hộ đó là giá trị mà tri thức bản địa đem lại đối với đời sống con người và tri thức bản địa thực sự là nguồn tri thức khoa học, có thử nghiệm và sửa đổi theo thời gian. Đây là thành quả sáng tạo cần phải được bảo vệ. Thực tế những giá trị tri thức bản địa đang bị mai một và đánh cắp hiện nay thể hiện ở hai giai đoạn: Thứ nhất, đó là việc tước đoạt khỏi cuộc sống của người dân bản địa những tri thức mà họ chính là chủ nhân tìm ra, duy trì và phát triển, những tri thức này quan trọng trong việc sinh sống hàng ngày của họ; thứ hai, họ bị mất đi khả năng khẳng định quyền khi bên thứ ba sử dụng những tri thức truyền thống của họ đăng ký bản quyền, và người dân bản địa khi muốn sử dụng lại phải trả tiền cho các sản phẩm đã được đăng ký bản quyền kia. 1.7. Tri thức bản địa với vấn đề quyền sở hữu trí tuệ Mục này lý giải mối quan hệ giữa quyền sở hữu trí tuệ và việc bảo hộ tri thức bản địa. Thực tế hiện nay có nhiều quan điểm về vấn đề này, có quan điểm cho rằng không thể sử dụng quyền sở hữu trí tuệ để bảo hộ tri thức bản địa. Tuy nhiên, theo quan điểm chung cũng như quan điểm của các định chế quốc tế lớn như WIPO và WTO, khi chúng ta chưa tìm được một luật riêng bảo hộ tri thức truyền thống thì việc sử dụng luật về quyền sở hữu trí tuệ để bảo hộ tri thức truyền thống là một giải pháp tối ưu giúp đảm bảo quyền của người nắm giữ tri thức truyền thống. Việc tìm kiếm bảo hộ tri thức truyền thống bằng luật sở hữu trí tuệ cũng tác động đòi hỏi thay đổi cách nhìn nhận về sáng tạo trong luật sở hữu trí tuệ trước đây về việc ghi nhận chính xác và đầy đủ ai sáng tạo, sáng tạo đến đâu một công trình. Chương 2 NHỮNG BIỆN PHÁP BẢO HỘ VÀ CHIA SẺ LỢI ÍCH TRI THỨC BẢN ĐỊA TRONG PHÁP LUẬT QUỐC TẾ VÀ THỰC TIỄN CỦA MỘT SỐ NƯỚC 2.1. Một số vấn đề cơ bản trong bảo hộ tri thức bản địa Mục này tác giả luận văn khái quát lịch sử bảo hộ tri thức bản địa của pháp luật quốc tế có từ khi nào và hiện tại còn đang bản thảo vấn đề gì. Về lịch sử bảo hộ tri thức bản địa chính thức được đặt ra do tổ chức sở hữu trí tuệ thế giới WIPO và Tổ chức Giáo dục và Văn hóa Liên hợp quốc (UNESCO) năm 1978; năm 1982 hai định chế quốc tế lớn này đã cho đời "các quy định mẫu đối với luật quốc gia về bảo hộ các hình thức thể hiện văn hóa dân gian chóng lại việc khai thác bất hợp pháp và những hành vi xâm phạm khác"; năm 2000, Ủy ban liên chính phủ về sở hữu trí tuệ và tri thức truyền thống, gen và văn hóa dân gian được thành lập trong khuôn khổ WIPO đã được thành lập. Ngoài WIPO, Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) trong các vòng đàm phán của mình cũng có 6 những hoạt động đề xuất tích cực về việc bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ trong đó có các quy định liên quan tới việc sử dụng tài nguyên là tri thức bản địa. Gần đây nhất, nằm trong khuôn khổ vòng đàm phán Doha, tại phiên họp lần thứ 45, năm 2007, Hội đồng TRIPs (Hội đồng nghiên cứu về các khía cạnh thương mại liên quan tới quyền sở hữu trí tuệ) đã đặc biệt đàm phán và thảo luận về những vấn đề như: Sáng chế dược phẩm, chỉ dẫn địa lý, mối quan hệ giữa sở hữu trí tuệ và đa dạng sinh học, bảo hộ tri thức truyền thống và văn hóa dân gian… 2.1.1. Vấn đề chủ quyền quốc gia đối với tài nguyên thiên nhiên và tri thức truyền thống 2.1.2. Vấn đề thực thi quyền ở nước ngoài - nguyên tắc đối xử quốc gia 2.1.3. Vấn đề chia sẻ lợi ích trong việc sử dụng và khai thác Tri thức bản địa Đây là những vấn đề quan trọng liên quan tới tính chủ quyền quốc gia, quyền của quốc gia có tài nguyên đối với tài sản của mình. Do tính đặc trưng của tri thức bản địa là có tính cộng đồng, dễ phát tán, nên tác giả luận văn đưa ra vấn đề là chủ quyền quốc gia có nguồn tri thức truyền thống sẽ như thế nào, thực thi quyền này như thế nào ở nước ngoài… Cũng như vậy, vấn đề chia sẻ lợi ích tri thức bản địa như thế nào, thực chất là làm rõ cụ thể quyền của người dân bản địa. Yêu cầu quan trọng của quyền chủ quyền quốc gia đối với tài nguyên thiên nhiên và tri thức truyền thống chủ yếu liên quan đến quyền của một quốc gia được tự do quy định cách thức khai thác tài nguyên thiên nhiên của mình. Việc phát triển những quy trình phát triển kinh tế, cơ chế chuyển giao sử dụng, thuế, và đặc biệt là việc kiểm soát hành động của các quốc gia khác đối với việc khai thác nguồn tài nguyên và tri thức truyền thống là nội dung chính của quyền được nêu. Chủ quyền đối với tài nguyên thiên nhiên và trách nhiệm không gây tổn hại tới môi trường của quốc gia khác hoặc các vùng nằm ngoài quyền tài phán quốc gia là một trong những nội dung quan trọng của nguyên tắc bình đẳng của luật quốc tế. 2.2. Luật quốc tế về bảo hộ và chia sẻ lợi ích từ tri thức truyền thống, gen và các hình thức thể hiện văn hóa dân gian 2.2.1. Bảo hộ và chia sẻ lợi ích từ tri thức truyền thống Theo khuyến nghị của WIPO, có thể sử dụng các công cụ bảo hộ của luật sở hữu trí tuệ để bảo hộ tri thức truyền thống nói chung khi chưa thể tìm ra giải pháp riêng như: Thứ nhất: Sử dụng hệ thống bảo hộ sở hữu trí tuệ hiện có để bảo hộ nội dung, ý tưởng của tri thức truyền thống dưới hình thức bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ đối với sáng chế; Thứ hai: Sử dụng hệ thống bảo hộ sở hữu trí tuệ hiện có để bảo hộ hình thức thể hiện của tri thức truyền thống dưới hình thức bảo hộ quyền tác giả; Thứ ba: Sử dụng hệ thống bảo hộ sở hữu trí tuệ hiện có để bảo hộ danh tiếng, uy tín và yếu tố có vai trò chỉ dẫn thương mại đối với các sản phẩm truyền thống dưới hình thức bảo hộ nhãn hiệu, tên thương mại, chỉ dẫn địa lý, bảo hộ quyền chống cạnh tranh không lành mạnh; Thứ tư: Sử dụng hệ thống bảo hộ riêng (sui generis) nhằm tạo ra cơ chế bảo hộ thực sự phù hợp và đầy đủ đối với tri thức truyền thống, dưới hình thức quy định riêng về nghĩa vụ bộc lộ, về việc nộp lưu mẫu, xin phép chủ thể nắm giữ tri thức truyền thống… 2.2.2. Bảo hộ các hình thức thể hiện văn hóa dân gian 7 Mặc dù sau này áp dụng chung cho cả việc bảo hộ các hình thức khác của tri thức bản địa nhưng khi muốn tìm hiểu về phương cách bảo hộ các hình thức thể hiện văn hóa dân gian người ta quay lại bộ luật mẫu do WIPO và UNESCO xây dựng, đây là cơ sở để cho các quốc gia tham khảo khi xây dựng luật pháp bảo hộ các tri thức truyền thống nói chung và các hình thức biểu hiện văn hóa dân gian nói riêng. 2.2.3. Bảo hộ tri thức bản địa về tiếp cận nguồn gen, bảo tồn và chia sẻ lợi ích từ gen 2.2.3.1. Bảo hộ tri thức bản địa về Gen thông qua cơ chế cấp patent 2.2.3.2. Bằng chứng về nguồn gốc hoặc về tiếp cận trong quá trình xử lý đơn yêu cầu cấp Bằng sáng chế - patent Hiện tại, tri thức về gen, cách tiếp cận và chia sẻ lợi ích từ gen đang được các quốc gia quan tâm đặc biệt là các định chế quốc tế lớn như WIPO, WTO do vai trò của gen rất quan trọng trong sự phát triển bền vững của thế giới cũng như cá nhân mỗi quốc gia. WIPO đã có hẳn một báo cáo nghiên cứu về việc sử dụng phương thức bảo hộ Paten để bảo hộ cho các tri thức về gen và chia sẻ lợi ích từ tri thức về gen. Đây là một trong những giải pháp quan trọng để bảo tồn gen và các tri thức về gen. Song song với việc tìm hiểu cơ chế cấp patent để bảo vệ gen, học viên cũng đặt một mục với nội dung bằng chứng nguồn gốc để cấp patent liên quan đến gen. Đây là phần gây tranh cãi nhiều nhất hiện nay của TRIPs trong các vòng đàm phán Doha. là liệu có bắt buộc phải đưa ra bằng chứng nguồn gốc của vật liệu sáng tạo khi nộp đơn xin cấp patent hay không. Pháp luật chuyên ngành về bảo tồn thiên nhiên như Công ước đa dạng sinh học, Hướng dẫn Bonn và luật pháp các nước, khu vực cũng đặt ra vấn đề này. 2.3. Một số mô hình bảo vệ tri thức truyền thống trên thế giới 2.3.1. Bảo vệ tri thức truyền thống theo quan điểm pháp luật Mỹ Các quy định chủ yếu tập trung tại Đạo luật về mỹ thuật và thủ công thổ dân da đỏ năm 2000 (Indian Arts and Crafts Act - IACA), dữ liệu USPTO về biểu hiện chính thức của các bộ tộc người Mỹ bản xứ - phần dữ liệu được thiết lập kèm Đạo luật thi hành Hợp đồng luật nhãn hiệu năm 1998 (USPTO Database of the Trademark Law Treaty Implementation Act). Tuy nhiên các quy định về quyền sở hữu trí tuệ (chủ yếu là xem xét việc cấp bằng sáng chế) cũng rất quan trọng giúp Hoa Kỳ giải quyết tốt vấn đề quản lý tri thức truyền thống. Hoa kỳ cũng xây dựng một cơ sở dữ liệu và khuyến khích các quốc gia khác xây dựng một cơ sở dữ liệu về tri thức truyền thống để thực hiện việc loại trừ cấp bằng bảo hộ không trung thực... 2.3.2. Bảo hộ tri thức bản địa theo pháp luật Philippines Những quy định về bảo hộ tri thức truyền thống được nêu trong Hiến pháp Philippines năm 1987, theo đó Nhà nước công nhận, tôn trọng và bảo hộ các quyền của cộng đồng văn hóa bản địa nhằm bảo tồn và phát triển các nền văn hóa, truyền thống và thiết chế của những cộng đồng này. Luật về quyền của người bản địa - Luật cộng hòa số 8371 (Indigenous Peoples Right Act of 1997 (IPRA) cũng quy định bảo hộ các quyền sở hữu trí tuệ đối với tri thức bản địa của các cộng đồng (Điều 32, Điều 34). Ngoài ra, hiện nay, Philippine còn có 3 dự luật đang trình quốc hội, quy định về việc thiết lập một hệ thống bảo hộ các quyền sở hữu trí tuệ của cộng đồng trong đó có tri thức truyền thống. 2.3.3. Bảo hộ tri thức bản địa theo pháp luật Trung Quốc 8 Trung Quốc là quốc gia đang nỗ lực xây dựng cơ chế pháp lý để bảo hộ tri thức truyền thống tích cực thông qua việc xây dựng văn bản pháp luật như: Các quy định bằng văn bản pháp luật thể hiện rõ ràng nhất trong Luật Patent năm 2000 (Patent Law 2000) và Các quy định về bảo vệ sự đa dạng của y học cổ truyền (Regulationas on the Protection of Varieties of Chinese Traditional Medicine). Bên cạnh đó, việc xây dựng một cơ sở dữ liệu về tri thức truyền thống đặc biệt là ngành y dược học đang được tích cực xây dựng. Cơ sở dữ liệu này được xem là một phần phụ lục của Luật Patent. Chương 3 BẢO HỘ VÀ CHIA SẺ LỢI ÍCH TRI THỨC BẢN ĐỊA TRONG PHÁP LUẬT VIỆT NAM 3.1. Bảo hộ và chia sẻ lợi ích tri thức bản địa ở Việt Nam Cũng như một số các quốc gia đang phát triển Việt Nam hiện đang đứng trước một thách thức lớn trong việc xây dựng một hệ thống pháp luật đầy đủ và chi tiết để bảo hộ hệ thống tri thức truyền thống của mình do có những hạn chế về lập pháp, lịch sử pháp lý còn quá mới mẻ với vấn đề tri thức bản địa, chuyên gia nghiên cứu vấn đề này hầu hết đều thuộc khoa học chuyên ngành, chuyên gia pháp lý hầu như chưa có và chưa có sự chẩn bị đầy đủ về kiến thức pháp lý để giải quyết và tham gia tư vấn cũng như tham gia đàm phán tầm quốc tế khi có sự kiện liên quan tới quyền lợi về tri thức truyền thống của mình. Tuy nhiên ý thức được tầm quan trọng của tri thức truyền thống, chúng ta bước đầu đã có những công nhận, tạo điều kiện để việc bảo hộ đối tượng này tốt hơn thông qua đường lối, chủ trương và các văn bản pháp lý mới. 3.1.1. Chính sách pháp luật về bảo vệ và chia sẻ lợi ích tri thức bản địa ở Việt Nam hiện nay Đại hội Đảng lần thứ X Đảng Cộng sản Việt Nam khẳng định công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong bối cảnh quốc tế mới phải gắn với phát triển kinh tế tri thức: "Tranh thủ cơ hội thuận lợi do bối cảnh quốc tế tạo ra và tiềm năng, lợi thế của nước ta để rút ngắn quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa gắn với phát triển kinh tế tri thức. Phát triển mạnh các ngành và sản phẩm kinh tế có giá trị gia tăng cao dựa nhiều vào tri thức; kết hợp việc sử dụng nguồn vốn tri thức của con người Việt Nam với tri thức mới nhất của nhân loại". Văn kiê ̣n của các kỳ Đa ̣i hô ̣i Đảng toàn quố c và đươ ̣c nhấ n ma ̣nh trong Nghi ̣quyế t số 41/NQ-TW ngày 15 tháng 11 năm 2004 của Bộ Chính trị về bảo vệ môi trường trong thời kỳ đẩ y ma ̣nh công nghiê ̣p hóa , hiê ̣n đa ̣i hóa đấ t nước vì mu ̣c tiêu phát triể n bề n vững , bảo tồn thiên nhiên và đa dạng sinh học là mô ̣t trong ba nhiê ̣ m vu ̣ tro ̣ng tâm của công tác bảo vê ̣ môi trường (bên ca ̣nh các nhiê ̣m vu ̣ phòng ngừa và kiể m soát ô nhiễm , cải thiện và nâng cao chất lươ ̣ng môi trường ) Cụ thể, kế hoạch tổng thể phát triển và ứng dụng công nghệ sinh học ở Việt Nam đến năm 2020 được xác định là: Nghiên cứu khoa học, phát triển và ứng dụng rộng rãi, có hiệu quả công nghệ sinh học vào sản xuất và đời sống; xây dựng công nghiệp sinh học trở thành một ngành kinh tế - kỹ thuật công nghệ cao, sản xuất được các sản phẩm chủ lực, thiết yếu và đóng góp quan trọng vào sự tăng trưởng của nền kinh tế quốc dân; tập trung nguồn lực, đa dạng hóa hình thức đầu tư và nâng cao hiệu quả đầu tư đối với công nghệ sinh 9 học, hình thành và phát triển thị trường công nghệ sinh học để đến năm 2020 công nghệ sinh học của Việt Nam đạt trình độ tiên tiến trong khu vực, một số lĩnh vực thiết yếu đạt trình độ, tiêu chuẩn quốc tế. Cụ thể về đường lối phát triển thế chế thành luật chúng ta có: Quyết định số 188/2005/QĐ-TTg ngày 22 tháng 7 năm 2005 của Thủ tướng Chính phủ về việc ban hành Chương trình hành động của Chính phủ thực hiện Chỉ thị số 50-CT/TW ngày 04 tháng 3 năm 2005 của Ban Bí thư Trung ương Đảng về việc đẩy mạnh phát triển và ứng dụng công nghệ sinh học phục vụ sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước; Quyết định số: 14/2008/QĐ-TTg Hà Nội, ngày 22 tháng 01 năm 2008 "Kế hoạch tổng thể phát triển và ứng dụng công nghệ sinh học ở Việt Nam đến năm 2020". Chúng ta cũng đã bước đầu có những nghiên cứu và quy định bảo hộ liên quan tới tri thức truyền thống như Luật Bảo tồn văn hóa 2001, Bộ luật Dân sự 2005, Luật Sở hữu trí tuệ 2005, Luật Đa dạng sinh học năm 2007, Luật Bảo vệ môi trường năm 2008... Về hợp tác quốc tế, chúng ta cũng đã ký kết được các công ước quan trọng để bảo hộ tri thức truyền thống như: - Công ước Berne về bảo hộ các tác phẩm văn học và nghệ thuật, còn được gọi ngắn gọn là Công ước Berne, được ký tại Bern (Thụy Sĩ) năm 1886, Việt Nam tham gia năm 2004; - Công ước Paris năm 1883 về bảo hộ sở hữu công nghiệp, Việt Nam tham gia năm 1949; - Thỏa ước Madrid về đăng ký quốc tế các nhãn hiệu năm 1891, trong đó quy định việc đăng ký quốc tế nhãn hiệu tại Văn phòng quốc tế của Tổ chức Sở hữu trí tuệ thế giới (WIPO) ở Geneva, Việt Nam tham gia Thỏa ước này từ ngày 08/3/1949; - Hiệp ước Hợp tác Patent (PCT) Washington 1970, Việt Nam tham gia Hiệp ước từ ngày 10/3/1993. - Hiệp định TRIPs - Hiệp định về các khía cạnh quyền sở hữu trí tuệ liên quan tới thương mại trong khuôn khổ WTO, Việt Nam tham gia ký kết năm 2006. 3.1.2. Thực trạng bảo hộ và chia sẻ lợi ích từ tri thức bản địa Do đặc điểm đối tượng sáng tạo của tri thức bản địa thường là tập thể, đa dạng về tri thức, trải nghiệm qua nhiều thế hệ và thời gian nên việc bảo hộ và chia sẻ lợi ích Tri thức bản địa gặp không ít những khó khăn về cách thức, đường lối giải quyết các vụ việc thực tế phát sinh khi chưa có những quy định hay hướng dẫn giải quyết cụ thể. Mặc dù một nhiều đối tượng tri thức bản địa đã có quy định trong luật sở hữu trí tuệ nhưng khi áp dụng thực tế lại rất khó khăn trong việc xác định cơ chế xác lập, bảo hộ và thực thi các quyền đối với tri thức bản địa, những biện pháp để quản lý các quyền, cơ chế đăng ký và bảo hộ các Tri thức bản địa, việc lập các tài liệu về tri thức bản địa, việc đưa các tri thức bản địa vào "tình trạng kỹ thuật" để tra cứu, xét nghiệm sáng chế. Muốn vậy, chúng ta phải có hướng dẫn cụ thể về hướng xác lập các phương thức bảo hộ quyền của người nắm giữ tri thức bản địa theo phương thức bảo hộ nào của Luật Sở hữu trí tuệ, phương thức bảo vệ tác giả hay quyền sở hữu công nghiệp như sáng chế, bí mật kinh doanh, nhãn hiệu, tên thương mại và chỉ dẫn địa lý... Việc thiết lập một cơ sở dữ liệu, nơi dùng để kiểm tra, đối chiếu thông tin về tình trạng của các tri thức bản địa cũng rất cần thiết khi muốn xem xét cấp một quyết định bảo hộ, tuy nhiên chúng ta vẫn chưa xây dựng được cơ sở dữ liệu này. Một số vụ việc khác được giải quyết thành công theo hướng áp dụng phương thức bảo hộ của các sản phẩm thuộc sở hữu trí tuệ như sáng chế, nhãn hiệu hàng hóa, tên gọi xuất xứ hàng hóa… Ví 10 dụ: Sáng chế "Thuốc cai nghiện ma túy từ thảo mộc", nhãn hiệu hàng hóa "Dầu gió Trường Sơn và Hình". Việt Nam cũng đã bắt đầu quan tâm bảo vệ tri thức truyền thống cũng như quyền của người nắm giữ tri thức này thông qua việc ghi nhận: Bảo vệ quyền tập thể của nhóm người, buộc dẫn chiếu xuất xứ sản phẩm, tác phẩm khi tác giả của sáng chế hay tác phẩm có yêu cầu bảo hộ theo một phương thức bảo hộ của quyền sở hữu trí tuệ, hoặc đặt ra yêu cầu tôn trọng giá trị truyền thống, di sản, văn hóa, môi trường nếu là tác phẩm hay sáng chế muốn nhận được chứng nhận bảo hộ… Tuy nhiên về tổng thể vẫn cần có những giải pháp chung, đồng bộ để có thể đưa ra hướng giải quyết cho mỗi trường hợp thuộc các mảng khác nhau của loại hình tri thức này. 3.1.3. Bảo hộ và chia sẻ lợi ích các hình thức biểu hiện văn hóa dân gian Biểu hiện của văn hóa dân gian cụ thể là: thể hiện bằng ngôn ngữ, bao gồm truyện thơ, câu đối dân gian; thể hiện bằng âm nhạc bao gồm bài hát và nhạc cụ dân gian; thể hiện bằng hành động bao gồm các điệu múa, vở kịch và nghi lễ nghệ thuật dân gian; thể hiện lồng trong một vật thể tồn tại ở dạng hữu hình bao gồm các bức tranh vẽ, tượng, tác phẩm điêu khắc, đồ gốm, khảm, mộc, tác phẩm kim loại, đá quý, dệt, thảm, trang phục, nhạc cụ và các hình mẫu kiến trúc dân gian khác được thể hiện dưới bất kỳ hình thức vật chất nào (Điều 23 khoản 1 Luật Sở hữu trí tuệ 2005). Quyền tác giả của văn học nghệ thuật dân gian Việt Nam hay các quyền tác giả của các loại hình thể hiện văn hóa dân gian được xác định thuộc bảo hộ của Nhà nước từ Hiến pháp 1992 (Điều 30 quy định Nhà nước và xã hội bảo tồn, phát triển nền văn hóa Việt Nam: dân tộc, hiện đại, nhân văn; kế thừa và phát huy những giá trị của nền văn hiến các dân tộc Việt Nam, tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh; tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại; phát huy mọi tài năng sáng tạo trong nhân dân; Điều 32 quy định về việc nhà nước tạo điều kiện để nhân dân thưởng thức, bảo trợ để phát triển tài năng phát triển văn hóa, khuyến khích phát triển đa dạng các loại hình văn hóa dân tộc. Luật Sở hữu trí tuệ 2005 quy định các tác phẩm nghệ thuật dân gian được bảo hộ theo cơ chế quyền tác giả (Điều 14); Bộ luật Dân sự Việt Nam 2005 mặc dù chưa có quy định cụ thể về đối tượng tri thức truyền thống cũng như quyền tác giả của tác phẩm văn học, nghệ thuật dân gian nhưng đã để ngỏ khi quy định: "Đối tượng quyền tác giả bao gồm mọi sản phẩm sáng tạo trong các lĩnh vực văn học, nghệ thuật, khoa học được thể hiện dưới bất kỳ hình thức và bằng bất kỳ phương tiện nào, không phân biệt nội dung, giá trị và không phụ thuộc vào bất kỳ thủ tục nào". 3.1.4. Bảo hộ và chia sẻ lợi ích từ tri thức truyền thống Tri thức truyền thống theo pháp luật Việt Nam được bảo hộ theo một số phương thức bảo hộ như của quyền tác giả, sáng chế, chỉ dẫn địa lý, bí mật kinh doanh…Các văn bản pháp luật có thể kể đến … Thông tư 01/2007/TT-BKHCN Ngày 14 tháng 2 năm 2007, hướng dẫn thi hành Nghị định số 103/2006/NĐ-CP ngày 22 tháng 9 năm 2006 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Sở hữu trí tuệ về sở hữu công nghiệp ghi nhận (Điểm 23.11); Điều 750 của Bộ luật Dân sự 2005 cũng quy định để ngỏ cho phép các luật gia có thể áp dụng bảo hộ các biểu hiện sáng tạo liên quan tới tri thức truyền thống như sáng chế, bí mật kinh doanh, nhãn hiệu, tên thương mại, chỉ dẫn địa lý... Thực tế chúng ta đã làm được việc này, theo thống kê của Cục Sở hữu trí tuệ, tới tháng 7/ 2008 đã có 13 chỉ dẫn địa lý đã được đăng ký bảo hộ - là các địa danh nổi tiếng về nông thủy hải sản và các chế 11 phẩm từ nông thủy hải sản, ví dụ: Nước mắm Phú Quốc, Cam Vinh, Hồi Lạng Sơn, Chè San Tuyết, Thanh long Bình Thuận, Gạo Hải Hậu, Vải thiều Lục Ngạn, Vải thiều Thanh Hà, Cà Phê Buôn Mê Thuột… 3.1.4. Bảo tồn nguồn gen và bản quyền tri thức truyền thống về nguồn gen Luật Đa dạng sinh học 2007 là một bước đánh dấu quan trọng trong việc bảo tồn và chia sẻ lợi ích từ gen. Luật quy định: Nhà nước khuyến khích tổ chức, cá nhân thực hiện điều tra, thu thập, đánh giá, cung cấp thông tin về nguồn gen để xây dựng cơ sở dữ liệu về nguồn gen và bảo đảm quyền được tiếp cận cơ sở dữ liệu về nguồn gen (Điều 63). Về bản quyền tri thức truyền thống về nguồn gen, Điều 64 luật này cũng quy định: "1. Nhà nước bảo hộ bản quyề n tri thức truyề n thố ng về nguồ n gen , khuyến khích và hỗ trợ tổ chức , cá nhân đăng ký bản quyền tri thức truyề n thố ng về nguồn gen " và "Bộ Khoa học và Công nghệ chủ trì phối hợp với bộ, cơ quan ngang bộ có liên quan hướng dẫn thủ tục đăng ký bản quyền tri thức truyề n thố ng về nguồn gen". Liên quan tới việc đưa ra nguồn gốc của vật liệu sáng tạo, Thông tư 01/2007/TT-BKHCN Ngày 14 tháng 2 năm 2007, hướng dẫn thi hành Nghị định số 103/2006/NĐ-CP ngày 22 tháng 9 năm 2006 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Sở hữu trí tuệ về sở hữu công nghiệp. Điểm 23.11: Đơn đăng ký sáng chế liên quan đến nguồn gen hoặc tri thức truyền thống còn phải có tài liệu thuyết minh về nguồn gốc của nguồn gen và/hoặc của tri thức truyền thống mà tác giả sáng chế hoặc người nộp đơn đã tiếp cận, nếu sáng chế trực tiếp dựa trên nguồn gen và/hoặc tri thức truyền thống đó. Về chia sẻ lợi ích từ tiếp cận nguồn gen, Luật Đa dạng sinh học cũng đưa ra chính sách phân chia lợi ích cho các đối tượng có công như : a) Nhà nước ; b) Tổ chức, hô ̣ gia điǹ h , cá nhân được giao quản lý nguồn gen; c) Tổ chức, cá nhân được cấp giấy phép tiếp cận nguồn gen và các bên có liên quan khác đươ ̣c quy đinh ̣ trong giấ y phép tiế p câ ̣n nguồn gen . 3.2. Một số kiến nghị xung quanh việc bảo hộ và chia sẻ lợi ích tri thức truyền thống bằng pháp luật ở Việt Nam Nhiệm vụ chung của các nhà làm luật nên đảm bảo một số các yêu cầu sau khi tham gia xây dựng chính sách pháp luật bảo hộ tri thức truyền thống: Các nhiệm vụ cụ thể chúng ta phải làm có thể đưa ra như sau: 1. Xây dựng một định hướng chung về nguyên tắc và quy định pháp luật về bảo hộ ti thức bản địa thông qua các quyết định quan trọng của các cơ quan chức năng liên quan 2. Thống kê, tư liệu hóa các tri thức truyền thống thành một phần trong tư liệu tham khảo, đối chiếu của quyền sở hữu trí tuệ. 3. Có những hướng dẫn cụ thể cho việc áp dụng luật sở hữu trí tuệ để áp dụng cho việc bảo hộ tri thức truyền thống 4. Đẩy mạnh việc nghiên cứu hợp tác quốc tế về trao đổi kinh nghiệm trong việc bảo hộ tri thức bản địa; cần xác định việc nghiên cứu, tham khảo kinh nghiệm trong việc bảo hộ và chia sẻ lợi ích tri thức bản địa là việc làm quan trọng để từ đây có cơ sở để tham gia đàm phán hội nhập các vấn đề liên quan tới quyền lợi của Việt Nam trong việc bảo vệ tri thức bản địa; tham gia ký kết các điều ước quốc tế có các quy định liên quan tới bảo hộ tri thức bản địa. 5. Xây dựng một đội ngũ chuyên gia trong lĩnh vực bảo hộ quyền tri thức bản địa 12 6. Tuyên truyền, tăng cường nâng cao nhận thức của người dân về giá trị của tri thức truyền thống, tầm quan trọng của việc bảo hộ khối tri thức này. Khuyến khích hợp tác từ người dân. 7. Xây dựng một cơ chế chia sẻ lợi ích cụ thể và chi tiết. KẾT LUẬN Tri thức bản địa là phần không thể thiếu được trong đời sống sinh hoạt và tâm linh của người dân bản địa. Tri thức bản địa mang đặc trưng của mỗi vùng miền và là phần quan trọng trong việc xây dựng hình ảnh của mỗi quốc gia. Trong thời kỳ toàn cầu hóa, với sự phát triển vượt bậc của khoa học kỹ thuật, tri thức bản địa ngày càng được biết đến với vai trò là cơ sở cho các sáng tạo kế tiếp mang lại những nguồn lợi khổng lồ. Công cụ pháp lý bảo hộ tri thức truyền thống mặc dù đang gặp phải những khó khăn nhất định trong việc đưa ra khái niệm chính xác về tri thức truyền thống, phương thức bảo hộ, cách thức tiến hành bảo hộ… nhưng cộng đồng quốc tế cũng như cá nhân mỗi quốc gia vẫn nỗ lực nhằm tìm kiếm sự thống nhất về biện pháp để bảo vệ, mô hình và nội dung bảo vệ thông qua các vòng đám phán của các thể chế lớn như WTO, WIPO… Nhận thức được tầm quan trọng của việc xây dựng một khung pháp lý bảo hộ tri thức truyền thống, Việt Nam bắt đầu có những nghiên cứu về nguồn trí thức này thông qua các dự án phát triển hỗ trợ và khuyến khích người dân bảo tồn và phát triển tri thức bản địa đồng thời với việc thống kê và ghi nhận những tri thức này như một phần quan trọng của cộng đồng dân cư; Xây dựng những quy định có thể áp dụng quản lý việc tiếp cận, khai thác nguồn tri thức bản địa thông qua các luật chuyên ngành. Vì chưa có luật chuyên ngành điều chỉnh riêng về đối tượng là tri thức bản địa nên luật về quyền sở hữu trí tuệ hiện nay và tiếp tục sẽ là một giải pháp phục vụ cho các cá nhân và người dân ở cộng đồng các địa phương đáp ứng được những tiêu chuẩn, yêu cầu phù hợp để được bảo vệ hợp pháp. Việc hợp tác quốc tế trong lĩnh vực sở hữu trí tuệ có liên quan tới bảo hộ tri thức bản địa rất quan trọng, nó đảm bảo cho chúng ta có thể trang bị một cách đầy đủ và khách quan những yêu cầu nghiên cứu pháp lý bảo hộ. Hiện tại những công ước về sở hữu trí tuệ mà chúng ta ký kết như Công ước Berne về bảo hộ các tác phẩm văn học và nghệ thuật 1886, Công ước Paris 1883 về bảo hộ sở hữu công nghiệp, Thỏa ước Madrid về đăng ký quốc tế các nhãn hiệu năm 1891... đã phát huy vai trò của mình trong việc điều chỉnh bảo hộ một số mảng của tri thức bản địa như văn học nghệ thuật, quyền sở hữu công nghiệp… Tuy nhiên, do đặc điểm của tri thức bản địa có những khác biệt so với các đối tượng được bảo vệ trong luật về quyền sở hữu trí tuệ, tri thức bản địa lại là đối tượng phạm trù rộng so với phạm vi điều chỉnh của luật về quyền sở hữu trí tuệ hiện nay, chính vì vậy việc tìm kiếm một giải pháp giải quyết cho từng trường hợp bảo hộ cụ thể cần phải có sự nghiên cứu kỹ lưỡng ở tầm vĩ mô cũng như rất cần có sự hợp tác hơn nữa giữa các bộ ngành liên quan. Trong giới hạn các nguồn tài liệu cũng như thông tin thu thập được, học viên mong muốn đưa ra những tập hợp phân tích, nghiên cứu và kiến nghị góp phần vào quá trình xây dựng và hoàn thiện pháp luật bảo hộ tri thức truyền thống. Tuy nhiên, với một chủ đề phức tạp và dàn trải đòi hỏi sự xem xét thấu đáo và kỹ lưỡng hơn nữa, học viên sẽ cần có quá trình nghiên cứu tiếp nối sâu sau đề tài này. 13 References 1. Lê Thanh Bình (2006), Tiếp cận nguồn gen và chia sẻ lợi ích - Những thách thức trong việc thực hiện Công ước đa dạng sinh học ở Việt Nam, Cục Bảo vệ Môi trường, Hà Nội. 2. Bộ Khoa học - Công nghệ (2007), Thông tư 01/2007/TT-BKHCN ngày 14/2 hướng dẫn thi hành Nghị định số 103/2006/NĐ-CP ngày 22 tháng 9 năm 2006 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Sở hữu trí tuệ về sở hữu công nghiệp, Hà Nội. 3. Bộ Khoa học Công nghệ và Môi trường (2003), Báo cáo tổng hợp tri thức truyền thống và bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ, Hà Nội. 4. Bộ Tài nguyên và Môi trường (2005), Báo cáo tổng hợp về sở hữu trí tuệ, Hà Nội. 5. Bộ Tài nguyên và Môi trường (2008), Phân tích, đánh giá thực trạng pháp luật về đa dạng sinh học tại Việt Nam, Báo cáo chuyên đề, Hà Nội. 6. Bộ Tài nguyên và Môi trường (2008), Tổng quan về đa dạng sinh học ở Việt Nam, Báo cáo chuyên đề, Hà Nội; 7. Hoàng Hữu Cải (2008), Tri thức bản địa là gì, Trường Đại học Nông - Lâm Thành phố Hồ Chí Minh. 8. Chính phủ (1994), Nghị định số 175/CP ngày 18/10 hướng dẫn. thi hành Luật Bảo vệ môi trường, Hà Nội. 9. Chính phủ (2003), Nghị định 103/2003/NĐ-CP ngày 12/9 quy định chi tiết thi hành một số điều của Pháp lệnh Hành nghề y, dược tư nhân, Hà Nội. 10. Chính phủ (2003), Nghị định số 222/2003/QĐ-TTg về việc phê duyệt chính sách quốc gia về y dược học cổ truyền đến năm 2010, Hà Nội. 11. Chính phủ (2006), Nghị định số 35/2006/NĐ-CP ngày 31/3 quy định chi tiết Luật Thương mại về hoạt động nhượng quyền thương mại, Hà Nội. 12. Chính phủ (2006), Nghị định số 37/2006/NĐ-CP ngày 04/4 quy định chi tiết Luật Thương mại về hoạt động xúc tiến thương mại, Hà Nội. 14 13. Chính phủ (2006), Nghị định số 59/2006/NĐ-CP ngày 12/6 quy định chi tiết Luật Thương mại về hàng hóa, dịch vụ cấm kinh doanh, hạn chế kinh doanh và kinh doanh có điều kiện, Hà Nội. 14. Chính phủ (2006), Nghị định 80/2006/NĐ-CP về việc quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều Luật Bảo vệ môi trường về tiêu chuẩn môi trường; đánh giá môi trường chiến lược, đánh giá tác động môi trường và cam kết bảo vệ môi trường; bảo vệ môi trường trong sản xuất, kinh doanh, dịch vụ; quản lý chất thải nguy hại; công khai thông tin, dữ liệu về môi trường, Hà Nội. 15. Chính phủ (2006), Nghị định số 100/2006/NĐ-CP ngày 21/9 hướng dẫn thi hành Luật Sở hữu trí tuệ về quyền tác giả và quyền liên quan, Hà Nội. 16. Chính phủ (2006), Nghị định 103/2006/NĐ-CP ngày 22/9 quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Sở hữu trí tuệ về sở hữu công nghiệp, Hà Nội. 17. Chính phủ (2006), Nghị định 105/2006/NĐ-CP ngày 22/9 quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Sở hữu trí tuệ về bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ và quản lý nhà nước về sở hữu trí tuệ, Hà Nội. 18. Chính phủ (2006), Nghị định số 108/2006/NĐ-CP hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Đầu tư 2005, Hà Nội. 19. Chính phủ (2006), Nghị định 138/2006/NĐ-CP ngày 15/11 quy định chi tiết thi hành các quy định của Bộ luật dân sự về quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài, Hà Nội. 20. Công ước Berne về bảo hộ các tác phẩm văn học và nghệ thuật (1886). 21. Công ước Geneve về bảo hộ nhà xuất bản, ghi âm chống việc sao chép không được phép (1971). 22. Công ước Paris về bảo hộ sở hữu công nghiệp (1983). 23. Công ước UPOV về bảo hộ giống cây trồng mới (1961). 24. Công ước về việc bảo vệ di sản văn hóa và tự nhiên của thế giới (1972). 25. Công ước về đa dạng sinh học (1992). 15 26. Cục Sở hữu trí tuệ (2003), Cẩm nang Sở hữu trí tuệ WIPO: Chính sách, pháp luật và áp dụng, (Chương trình Hợp tác đặc biệt Việt Nam - Thụy SIX về Sở hữu trí tuệ) Hà Nội. 27. Bùi Thị Thu Hà (2007), Tri thức bản địa và phát triển, Ban Nghiên cứu Văn hóa sinh thái và du lịch - Viện Văn hóa Nghệ thuật Việt Nam. 28. Hiệp định Việt Nam - Thụy Sĩ về sở hữu trí tuệ và hợp tác trong lĩnh vực sở hữu trí tuệ (1999). 29. Hiệp định về các khía cạnh liên quan đến thương mại của quyền sở hữu trí tuệ (TRIPS) trong khuôn khổ các văn kiện của Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) (1994). 30. Hiệp ước Cartagena về an toàn sinh học (Cartagena Protoco). 31. Hiệp ước hợp tác Patent (PCT) Washington (1970). 32. Hiệp ước hợp tác quốc tế về bằng sáng chế (PCT) (1970). 33. Hiệp ước quốc tế về các nguồn tài nguyên di truyền thực vật phục vụ cho lương thực và phát triển nông nghiệp (International Treaty on Plant Genetic Resourse for Food and Argiculture - IU). 34. Hệ thống Madrid gồm Thỏa ước Madrid năm 1891 về đăng ký quốc tế về nhãn hiệu và Nghị định thư liên quan đến thỏa ước năm 1989. 35. Hướng dẫn Bonn về khai thác các nguồn tài nguyên gen và chia sẻ công bằng và bình đẳng các lợi ích có được từ việc sử dụng các nguồn tài nguyên gen. 36. Jeanne Holden (2006), Cách tiếp cận của Hoa Kỳ: Nguồn gen, tri thức truyền thống và văn hóa dân gian, (Tài liệu dịch), Chuyên đề về quyền sở hữu trí tuệ, ấn phẩm của chương trình thông tin quốc tế, Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ. 37. John Briggs và Joanne Sharp (2004), "Tri thức bản địa và sự phát triển - Một sự cẩn trọng hậu thuộc địa", Thế giới thứ ba, (4). 38. Michael Blakeney (2007), Chương trình hợp tác EC - ASEAN về sở hữu trí tuệ (ECAP II), Tài liệu giảng dạy về sở hữu trí tuệ, (Tài liệu dịch) Viện Nghiên cứu sở hữu trí tuệ Queen mary, Đại học London. 16 39. Cao Năm (2006), "Vụ tranh chấp quyền sở hữu công nghiệp sản phẩm ngói lợp ở Tây Sơn: Diễn biến thuận lợi cho ông Tám Tha và làng nghề", Báo Bình Định, (Trang Khoa học đời sống). 40. Peter Tobibas Stoll (2007), Tài liệu hội thảo gen và tri thức truyền thống, dự án hợp tác Việt Nam - Thụy Điển về sở hữu trí tuệ và tri thức truyền thống, (Tài liệu dịch), Cục Sở hữu trí tuệ, Hà Nội 41. Phạm Hồng Quất (2008), Bảo hộ tri thức truyền thống tại Việt Nam, vấn đề pháp lý và thực tiễn, Cục Sở hữu trí tuệ, Hà Nội. 42. Quốc hội (1992), Hiến pháp, Hà Nội. 43. Quốc hội (1998), Luật Tài nguyên nước, Hà Nội. 44. Quốc hội (1999), Bộ luật hình sự, Hà Nội. 45. Quốc hội (2001), Hiến pháp (sửa đổi, bổ sung), Hà Nội. 46. Quốc hội (2001), Luật Hải quan, Hà Nội. 47. Quốc hội (2005), Bộ luật Dân sự, Hà Nội. 48. Quốc hội (2005), Luật Sở hữu trí tuệ, Hà Nội. 49. Quốc hội (2005), Luật Bảo vệ môi trường, Hà Nội. 50. Quốc hội (2005), Luật Thương mại, Hà Nội. 51. Quốc hội (2008), Luật Đa dạng sinh học, Hà Nội. 52. Bùi Hoài Sơn (2008), Về khái niệm tri thức bản địa, Viện Văn hóa Nghệ Thuật Việt Nam. 53. Phan Ngọc Tâm (2006), "Bảo hộ nhẵn hiệu nổi tiếng theo pháp luật châu Âu và Hoa Kỳ", Khoa học pháp luật, (4). 54. Bùi Quang Thắng (2007), "Mối quan hệ giữa văn hóa và môi trường", Tài liệu dự án: Tri thức bản địa về môi trường, Viện Văn hóa - Thông tin, Hà Nội. 55. Thomas L. Friedman (2005), Thế giới phẳng, Nxb Phương Nam. 56. Tổ chức Văn hóa, Giáo dục của Liên hợp quốc và Tổ chức Sở hữu Trí tuệ Quốc tế (1982), Quy định mẫu cho luật quốc gia về bảo hộ các tác phẩm văn hóa dân gian chống lại việc khai thác trái phép và những hành động gây phương hại khác, 17 (Model Provisions for National Laws on the Protection of Expressions of Folklore for Illicit Exploitation and Other Prejudicial Actions) (Tài liệu dịch), Cục Sở hữu trí tuệ, Hà Nội. TIẾNG ANH 57. Anup Shah, Guardia Unlimited Newspaper (2001) "Food Patents - Stealing Indigenous Knowledge?" England. 58. Herbert Marshall Mcluhan (1962) "The Gutenberg Galaxy: The Making of Typographic Man", Canada. 59. Indigenous Portal (2009), "WIPO Launches Publication on Indigenous Traditional Knowledge" New York. 60. International Technology Devalopment Group (6/2001), Who will own the genes in our food? England. 61. Model Provisions 1982. 62. Patent Law of the People’s Republic of China of 2000. 63. Reguilations on the Protection of Varieties of Chinese traditional Medicine. 64. Swiderska, K. (2006), "Protecting Community Rights over Traditional Knowledge: Implications of customary laws and practices". Project Folder. IIED, London. 65. Thomafried Man (2004), "The lexus and the olive tree" New York Time, New York. 66. United Nation (1960), The sovereign right of every State to dispose of its wealth and its natural resources should be respected, Resolution 1515 (XV), 67. United Nation (1962), Permanent sovereignty over natural resources, General Assembly resolution 1803 (XVII), 17 U.N. GAOR Supp. (No.17) at 15, U.N. Doc. A/5217. 68. USA Indian Arts and Crafts Act of 1990. 69. USTBO Database of Official Insignia of Native American Tribes. 70. WIPO (2002) Traditional Knowledge - Operational Terms and Definitions, Traditional Knowledge and Intellectual Property Rights. 18 71. WIPO (2002) Report on the Review of Existing Intellectual Property Protection of Traditional Knowledge. 72. WIPO (2003) Information on National Experiences with the Intellectual Property Protection of Traditional Knowledge. 73. World Health Organization. (2008-12-01. Retrieved 2009-05-02). "Fact sheet no. 134: Traditional medicine". 74. World Labor Organization (1989), "C169 Indigenous and Tribal Peoples Convention" (1989). 75. World Intellectual Property Organization (2001), Matters Concerning Intellectual Property and Gennetic Resources, Traditional Knowledge and Folklore - An Overvie, WIPO/GRTKF/IC/1/3. 76. World Intellectual Property Organization (2002), Traditional Knowledge - Operational Terms and Desfinitions, WIPO/GRTKF/IC/3/9. 77. World Intellectual Property Organization (2007), Recognition of traditional knowledge within the patent system, GItem 14, WIPO/GRTKF/IC/11/7, Geneva. 19
- Xem thêm -