Tài liệu Lựa chọn nội dung và phương pháp ôn luyện học sinh giỏi quốc gia khi giảng dạy phần lịch sử việt nam giai đoạn 1945 1954

  • Số trang: 23 |
  • Loại file: DOCX |
  • Lượt xem: 1481 |
  • Lượt tải: 0

Mô tả:

LỰA CHỌN NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP ÔN LUYỆN HỌC SINH GIỎI QUỐC GIA KHI GIẢNG DẠY PHẦN LỊCH SỬ VIỆT NAM GIAI ĐOẠN 1945 - 1954 A. PHẦN MỞ ĐẦU 1. Lý do chọn đề Theo "chiến lược phát triển con người" của Đảng và Nhà nước ta đã chỉ rõ với mục tiêu: “Nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài” đã được cụ thể hoá trong nhiều văn kiện của Đảng và Nhà nước. Đặc biệt trong xu thế hội nhập quốc tế mục tiêu “Bồi dưỡng nhân tài” càng được Đảng và Nhà nước quan tâm lớn “Hiền tài là nguyên khí quốc gia”. Đất nước muốn phồn thịnh đòi hỏi phải có những nhân tố thích kế để có hướng đi, có những người tài để giúp nước. Hiện nay, chúng ta đang trong xu thế hội nhập nền kinh tế quốc tế, gia nhập WTO thì nhân tài là một trong những yếu tố để chúng ta có thể tiếp cận với sự tiến bộ của khoa học công nghệ của các nước trong khu vực và trên thế giới. Thực hiện mục tiêu đó, ngành giáo dục của chúng ta đang cố gắng hướng đến sự phát triển tối đa những năng lực tiềm tàng trong mỗi học sinh. Ở các trường Trung học phổ thông (THPT) hiện nay, đồng thời với nhiệm vụ phổ cập giáo dục, nâng cao chất lượng đại trà, việc chăm lo bồi dưỡng học sinh giỏi đang được nhiều cấp bộ chính quyền và nhân dân địa phương quan tâm nhưng nguyên nhân sâu xa nhất đó chính là thực hiện mục tiêu giáo dục mà Đảng và Nhà nước đã đề ra. Thực tế hiện nay ở các trường THPT công tác bồi dưỡng học sinh giỏi, trong đó có việc bồi dưỡng học sinh giỏi môn Lịch sử đã được chú trọng song vẫn còn những bất cập nhất định như: cách tuyển chọn, phương pháp giảng dạy còn yếu kém, chưa tìm ra được hướng đi cụ thể cho công tác này, phần lớn chỉ làm theo kinh nghiệm. Từ những bất cập trên dẫn đến hiệu quả bồi dưỡng không đạt được như ý muốn. Mặt khác, do quan niệm sai lệch về vị trí, chức năng của môn lịch sử trong đời sống xã hội. Một số học sinh và phụ huynh có thái độ xem thường bộ môn lịch sử, coi đó là môn học phụ, môn học thuộc lòng, không cần làm bài tập, không cần đầu tư phí công vô ích. Dẫn đến hậu quả học sinh không nắm đựơc những sự kiện lịch sử cơ bản, nhớ sai, nhầm lẫn kiến thức lịch sử là hiện tượng khá phổ biến trong thực tế ở nhiều trường. Trang 1 Băn khoăn trước thực trạng đó, tôi luôn tìm tòi, nghiên cứu để nâng cao kiến thức và phương cách giảng dạy của bộ môn để gây hứng thú học tập môn lịch sử cho học sinh, nhất là công tác bồi dưỡng học sinh giỏi sao cho đạt hiệu quả. 2. Ý nghĩa và tác dụng Bồi dưỡng học sinh giỏi là công tác cực kì quan trọng giúp cho ngành giáo dục phát hiện nhân tài, lựa chọn những mầm giống tương lai cho đất nước trong sự nghiệp trồng người. Đồng thời giúp cho học sinh thực hiện được ước mơ là con ngoan, trò giỏi và có định hướng đúng về nghề nghiệp của mình trong tương lai. Đề tài này là nhằm đưa ra một số kinh nghiệm, bí quyết ôn luyện học sinh giỏi môn lịch sử (chọn đối tượng học sinh, phương pháp ôn luyện, kết quả đạt được). Góp phần tạo nguồn quan trọng cho đội tuyển học sinh giỏi môn Lịch sử của thành dự thi cấp Quốc gia đạt kết quả. B. NỘI DUNG 1. Một số yêu cầu chung về phương pháp ôn luyện Học sinh giỏi môn Lịch sử 1.1. Yêu cầu chung 1.1.1. Yêu cầu một học sinh giỏi - Nhiều người thường nghĩ Lịch sử là môn học thuộc lòng nhưng thật ra muốn học giỏi thì phải đọc và hiểu sự kiện lịch sử, nhân vật lịch sử theo kiểu “mưa dầm thấm lâu”. Nhưng quan trọng nhất, người học giỏi lịch sử phải biết hệ thống hóa các nội dung lịch sử bằng những sơ đồ nhánh, biểu đồ thống kê tư duy theo từng sự kiện, mốc thời gian. Từ đó, ta mới có thể dễ dàng ghi nhớ nội dung và dữ liệu của môn học. Bởi, môn lịch sử là một môn khoa học biện chứng. - Là học sinh giỏi Lịch sử không phải chỉ cần tính siêng học bài mà là phải có khả năng lập luận, thông minh, trí nhớ tốt. Đặc biệt là phải có niềm đam mê, yêu thích Sử học. - Học sinh giỏi Lịch sử không những phải hoàn thành các bài tập của giáo viên giao mà còn phải chuẩn bị bài trước ở nhà (theo những câu gợi mở của giáo viên). Sau khi thảo luận nhóm và được giáo viên giảng giải thêm, học sinh mới hiểu sâu được kiến thức. - Ngoài việc học tập ở lớp, học sinh phải tham khảo thêm nhiều sách vở do giáo viên gợi ý hoặc tự tìm tòi. Học sinh phải có sổ tay để ghi chép những nội dung quan trọng. Đây là tư liệu cần thiết, giúp học sinh dễ dàng tra cứu, không mất nhiều thời gian truy tìm, khi cần thiết. Trang 2 - Học sinh không những nắm được những kiến thức của giáo viên mà còn phải biết độc lập suy nghĩ, tìm tòi, biết khái quát nội dung chương trình, hay thắc mắc những gì mình còn nhận thức mơ hồ. - Nhưng nắm vững lý thuyết chưa đủ mà học sinh còn phải rèn luyện kỹ năng phân tích đề; kỹ năng viết bài và trình bày bài làm. Nhìn một bài làm hay, thì chữ đẹp bao giờ cũng dễ gây thiện cảm cho người đọc. Đây là một công việc khó khăn, học sinh cần phải được luyện tập lâu dài, thông qua các bài viết hằng tháng (có sự sửa chữa của giáo viên). Ngoài ra, học sinh giỏi môn Lịch sử phải biết sử dụng triệt để các thao tác phân tích, tổng hợp để đánh giá, nhận định về một sự kiện hay vấn đề lịch sử, biết chọn ra những chi tiết, sự kiện lịch sử nào để chứng minh, giải thích theo yêu cầu của đề bài. Hơn nữa, học sinh ấy phải biết trình bày một bài làm sử có hệ thống, logic,… 1.1.2. Cách chọn học sinh giỏi. - Trường lâu nay chọn học sinh giỏi theo quy trình: Tổ chức thi tuyển chọn đội tuyển vào cuối mỗi năm học để bồi dưỡng trong thời gian hè. Vào đầu mỗi năm học mới tiếp tục tổ chức thi chọn lần hai và tăng cường bồi dưỡng để tham gia dự thi các kì cấp thành phô. - Kết hợp với kết quả của các đợt thi học sinh giỏi, khi dạy trên lớp tôi thường ra đề kiểm tra theo hướng mở hoặc đưa ra những câu hỏi, bài tập nhận thức để khuyến khích học sinh có sự đầu tư, sáng tạo khi trả lời trước tập thể lớp hay viết trong làm bài và thưởng điểm cho những học sinh biết cách làm bài đúng theo yêu cầu và có sáng tạo. - Tôi tiến hành chọn những học sinh có khả năng phát hiện và giải quyết vấn đề nhanh, đúng bản chất sự kiện, vấn đề lịch sử. Trong bài viết, tôi đặc biệt chú ý những bài học sinh trả lời đúng yêu cầu thể hiện nắm vững kiến thức, trình bày, lập luận logic, kết hợp chữ viết rõ ràng, nếu viết đẹp càng tốt. - Trong những năm gần đây, việc lựa chọn học sinh giỏi môn Lịch sử vào đội tuyển của trường, tôi không chờ đợi đến kết quả của các kì thi cấp trường vào cuối mỗi năm học, mà ngay khi dạy ở đầu năm lớp 10, hoặc qua các bài kiểm tra trong học kì I ở lớp 10, 11 phát hiện học sinh có năng khiếu, có sự yêu thích học Lịch sử tôi trực tiếp gặp các em để tìm hiểu tâm lý, khơi dậy ở học sinh niềm đam mê, giới thiệu các em tham gia vào đội tuyển để bồi dưỡng. Phân tích cho các em niềm tự hào, hãnh diện khi đỗ đạt. Đã là học sinh giỏi cấp tỉnh, đặc biệt cấp Quốc gia có giải thì đương nhiên Trang 3 bất cứ môn học nào cũng được hưởng chế độ ưu tiên ngang nhau và vinh quang như nhau. - Bên cạnh đó, tôi còn gặp các giáo viên bộ môn, giáo viên chủ nhiệm thăm hỏi tình hình học tập của các em để chọn ra những học sinh có năng lực, có tố chất thông minh và làm siêng. Học sinh đó phải học khá các môn khác, nhất là môn Toán, Ngữ văn, vì môn lịch sử cũng cần ở học sinh khả năng phân tích, tư duy logic và kết hợp những kiến thức văn, thơ minh họa cho bài viết thêm sinh động, giảm sự khô khan nhàm chán gây được thiện cảm cho người đọc. 1.1.3. Yêu cầu một bài lịch sử đạt hiệu quả. - Phải biết suy luận. Bài làm môn lịch sử cần đi thẳng vào vấn đề, không viết dong dài, dẫn đến lạc đề. Hãy đọc kỹ đề bài, hiểu rõ câu hỏi và thiết kế những kiến thức đã học theo ý đồ của câu hỏi, đừng bắt câu hỏi phải đi theo kiến thức có sẵn của mình. Học sinh phải biết chọn ra những chi tiết, sự kiện lịch sử nào để chứng minh, giải thích theo yêu cầu của đề bài. - Không được phép làm bài theo kiểu nhớ mang máng. Môn Sử là một môn tuyệt đối kỵ với các khái niệm mù mờ. Ví dụ không được nhớ nhầm “Mặt trận dân tộc thống nhất” thành “Mặt trận thống nhất dân tộc”. Không được viết lẫn lộn giữa những chữ “đấu tranh”, "“chiến đấu”, “khởi nghĩa”… - Một bài sử hay là bài viết của học sinh đó biết thổi hồn vào những con số, phải tái hiện được sự kiện, hiện trượng, vấn đề lịch sử. 2.2. Xây dựng chương trình giảng dạy Ôn luyện học sinh giỏi không giống như tiết dạy ở lớp học bình thường. Vì ở lớp ta dạy cho học sinh phù hợp với ba đối tượng (khá giỏi, trung bình và yếu kém). Song dạy cho học sinh giỏi là ta dạy để đưa các em đi thi. Đối tượng dự thi đều ngang tầm nhau về mặt học lực, nhận thức. Vì vậy, việc xây dựng nội dung chương trình là hết sức cần thiết. Đây là công việc quan trọng đầu tiên sau khi thành lập đội tuyển. Soạn hệ thống câu hỏi và bài tập lịch sử (chú trọng bài tập nâng cao) để luyện tập cho mỗi phần dạy. 1.3. Tiến hành bồi dưỡng 1.3.1. Cung cấp kiến thức Phân phối chương trình và yêu cầu kiến thức trong chương trình lịch sử ở trường THPT chỉ dừng lại ở mức độ nhất định, nên bài giảng trong SGK đều nhằm mục đích cung cấp kiến thức cơ bản về tiến trình lịch sử thế giới và Việt Nam theo Trang 4 diện rộng, chưa đi vào chiều sâu. Đối với HSG yêu cầu phải hiểu biết sâu sắc và toàn diện. Các em phải nắm chắc bản chất các sự kiện, hiện tượng lịch sử, các vấn đề lịch sử,… để có đủ tự tin, có sự sáng tạo khi giải quyết bất kì đề thi nào. Một việc quan trọng để cung cấp kiến thức cho học sinh là chọn và giới thiệu những tài liệu đảm bảo chất lượng cho các em. Thị trường sách hiện nay khá phong phú, hay dở đan xen, nhưng quỹ thời gian của học sinh thì có hạn, nên tôi chọn và mua hoặc phô tô cho học sinh các sách như: Sách giáo khoa của Ban khoa học xã hội (chương trình cũ), Sách lịch sử Nâng cao (chương trình mới), sách giáo trình,… Trong chương trình bồi dưỡng, tôi kết hợp dạy kỹ hệ thống kiến thức cơ bản theo chuẩn kiến thức, kỹ năng bằng việc lựa chọn những sự kiện, những vấn đề lịch sử trọng tâm cho các em rồi tiến hành mở rộng kiến thức bằng các chuyên đề nâng cao. Các chuyên đề của tôi viết không giống như một tiểu luận hay luận văn lịch sử mà đi sâu làm rõ được hoàn cảnh lịch sử, nội dung bản chất của các vấn đề lịch sử, các giai đoạn lịch sử; mối quan hệ giữa quá khứ - hiện tại - tương lai. Đảm bảo cho học sinh đạt được mức độ về kiến thức lo-gíc là: nhận biết, thông hiểu, vận dụng, phân tích, đánh giá và sáng tạo, chứ không phải nhồi nhét kiến thức cho học sinh. Những kiến thức từ các chuyên đề là công cụ giúp học sinh giải quyết tốt các loại đề thi. Tôi tiến hành dạy từng chuyên đề phù hợp với khả năng và chương trình của từng khối lớp cho học sinh bồi dưỡng. Theo tôi, để một học sinh được tham gia dự thi HSG môn Lịch sử các cấp học sinh đó phải nắm vững kiến thức cơ bản của bộ môn Lịch sử – Kiến thức cơ bản ở đây không chỉ là những sự kiện đơn lẻ mà phải bao gồm hệ thống những hiểu biết cần thiết về những sự kiện, niên đại, nhân vật, địa danh, các nguyên lý, quy luật, những kết luận khái quát, phương pháp, kỹ năng. Vì vậy, khi nắm vững kiến thức học sinh mới có khả năng ứng phó được với các loại câu hỏi, bài tập. 1.3.2. Rèn luyện kỹ năng * Kỹ năng tìm hiểu tài liệu Nội dung chương trình lịch sử quá rộng, tôi không đủ thời gian để dạy từng bài trong SGK, nên việc hướng dẫn học sinh tìm hiểu trước bài trong SGK là rất quan trọng. Sách giáo khoa lịch sử THPT được biên soạn – trình bày theo bài, theo tiến trình thời gian. Tôi đã hướng dẫn học sinh nắm được mục đích – yêu cầu, những sự kiện quan trọng và trọng tâm kiến thức của từng bài học lịch sử từ lớp 10 đến lớp 12. Trên cơ sở đó các em về nhà tìm hiểu kỹ sách giáo khoa và trả lời những câu hỏi trong Trang 5 SGK yêu cầu. Với cách làm trên khi ôn luyện cho học sinh tôi chỉ tập trung phân tích chuyên sâu những nội dung lịch sử. Để tìm hiểu tài liệu đạt hiệu quả học sinh cần phải: 1.Nắm đề: Đề ở đây là tên đề bài, tên tiểu mục. Nhiều học sinh học thuộc nội dung nhưng lại không nhớ tên tiểu mục, khi làm bài có thể “râu ông nọ cắm cằm bà kia”, nghĩa là lạc đề. 2.Nắm khung: Khung là dàn ý của cả bài hoặc của từng phần. Trước khi học cả bài hay từng phần nên nắm chắc cái dàn ý của nó. Dàn ý thường theo giai đoạn hoặc theo sự kiện, bao gồm: nguyên nhân, diễn biến, kết quả, ý nghĩa. Nắm khung giúp nhớ có hệ thống và nhớ lâu, dễ trả lời những câu hỏi tổng hợp. 3.Nắm chốt: Lịch sử bao giờ cũng gắn liền sự kiện – địa danh – nhân vật lịch sử. Nên “chốt” là thời điểm gắn với một sự kiện quan trọng hoặc tương đối quan trọng. Ở lịch sử lớp 12 yêu cầu học sinh phải nhớ cả ngày, tháng, năm. Nếu chỉ là tương đối quan trọng, có thể chỉ cần nhớ tháng và năm, thậm chí chỉ nhớ năm, cũng tạm được. Nên tìm các mối quan hệ giữa các chốt về thời gian và sự kiện thì dễ nhớ và nhớ lâu. 4.Thuật ngữ: Cần phải nhớ đúng những thuật ngữ lịch sử, không được nhầm lẫn giữa một số thuật ngữ “đấu tranh”, “chiến đấu”, “khởi nghĩa”,…vì mỗi chữ có một nghĩa khác nhau. * Kỹ năng phân tích đề Về các Đề thi HSG thường có mấy loại sau đây: - Loại đề hệ thống kiến thức lịch sử, nhằm nêu một số kiến thức cơ bản nhất để qua đó phác họa bức tranh chung về một thời kỳ, một sự kiện lịch sử. Song đây không phải là liệt kê kiến thức đơn thuần mà yêu cầu học sinh biết lựa chọn một số sự kiện chủ yếu, tiêu biểu, được hệ thống hóa để làm toát lên một chủ đề nhất định. Khi lập bảng hệ thống hóa kiến thức, học sinh phải đọc kỹ đề, hiểu rõ vấn đề được đặt ra để lựa chọn những kiến thức phù hợp. Lập bảng hệ thống hóa kiến thức cần phải chia ra các cột, nội dung mỗi cột là một đề mục các cột hợp thành hệ thống, giải quyết chủ đề được đặt ra. Một số học sinh không được hướng dẫn kỹ thường viết thành bài tự luận. - Loại đề thi tự luận: Có nhiều dạng yêu cầu theo mẫu tự luận Ví dụ: Vì sao ta mở chiến dịch Biên giới thu - đông 1950? Chiến dịch này có bước tiến gì so với chiến dịch Việt Bắc thu – đông 1947? Trang 6 Các loại đề thi như trên không chỉ yêu cầu học sinh phải nhận biết chính xác sự kiện, nhận thức đúng bản chất lịch sử mà còn đòi hỏi học sinh thể hiện khả năng lập luận, trình bày, diễn đạt tốt. Ngoài ra còn có loại đề thi có câu hỏi đặt ra để lý giải một vấn đề đã được xác định, hoặc bình luận, chứng minh câu nói nổi tiếng của một nhân vật lịch sử bằng những quan điểm, bằng các sự kiện. Loại đề thi trên tương đối khó, tôi hướng dẫn, yêu cầu học sinh phải đọc kỹ và hiểu đúng câu nói của nhân vật, một nhận định, đánh giá và sử dụng những sự kiện lịch sử cụ thể, chính xác để chứng minh. Loại đề nhận thức lịch sử: Là đề theo một chủ đề hay vấn đề lịch sử nhất định được đặt dưới dạng câu hỏi yêu cầu cần giải đáp. Loại đề này thường có nội dung khó, yêu cầu học sinh phải suy nghĩ nhiều, hiểu biết kiến thức lịch sử chính xác, hệ thống; học sinh phải có năng lực độc lập suy nghĩ để giải quyết vấn đề nêu ra, học sinh phải có trình độ tư duy cao, có khả năng lập luận, lý giải vấn đề. Các dạng thường gặp như: + Đề thi xác định, phân tích tính chất của sự kiện lịch sử: Ví dụ: Cuộc Tổng khởi nghĩa cách mạng tháng Tám 1945 có phải một cuộc cách mạng bạo lực không? Vì sao? + Đề thi về xác lập mối quan hệ nhân quả giữa các sự kiện lịch sử: Ví dụ: Hãy sắp xếp theo trình tự thời gian các sự kiện chủ yếu từ khi Nguyễn Ái Quốc về nước (1941) trực tiếp lãnh đạo cách mạng Việt Nam đến khi Cách mạng tháng Tám thành công và giải thích mối quan hệ giữa các sự kiện lịch sử này? Loại đề thi này yêu cầu học sinh phải suy nghĩ kỹ, nếu không sẽ dễ nhầm lẫn với loại đề hệ thống hóa kiến thức cơ bản đã trình bày trên. Đề thi yêu cầu thí sinh không chỉ ghi nhớ các sự kiện lịch sử theo tiến trình thời gian mà điều quan trọng là thí sinh phải lý giải mối quan hệ giữa các sự kiện đã được lựa chọn. + Đề thi xác định tính kế thừa giữa các sự kiện lịch sử, giai đoạn, thời kì lịch sử: Đề yêu cầu học sinh phải hiểu rõ quá trình phát triển liên tục, thống nhất, tính phong phú, đa dạng, cụ thể của các sự kiện, giai đoạn, thời kì lịch sử. Khi làm loại đề này, học sinh phải nắm vững một vấn đề có tính quy luật trong sự phát triển của lịch sử. Sự kiện xảy ra trước tác động đến sự ra đời và phát triển của sự kiện tiếp sau, chúng có quan hệ chặt chẽ với nhau. Đề thi xác định tính kế thừa giữa các sự kiện trong quá trình lịch sử cũng như loại đề thi về mối quan hệ nhân quả giữa các sự kiện, Trang 7 song nó tập trung hơn vào một sự kiện chính; nó nâng cao hơn về mặt khái quát – lý luận. Để giải quyết được những dạng đề như trên khâu quan trọng là việc phân tích đề, bởi vì phân tích đề tốt sẽ giúp học sinh xác định, lựa chọn đúng kiến thức, lập dàn ý dễ dàng. Phân tích đề đúng sẽ tránh trường hợp lạc đề, lệch đề. Cấu tạo đề thi học sinh giỏi hiện nay rất nhiều câu, nhiều dạng đề, đòi hỏi học sinh phải tư duy và xử lý nhanh các kỹ năng phân tích đề, phân bố thời gian, xác định thời gian, không gian, nội dung lịch sử và yêu cầu của câu hỏi … sao cho phù hợp là kỹ năng cần rèn luyện thường xuyên. * Kỹ năng làm bài - Phân tích câu hỏi trong đề thi Phải đọc hết và hiểu chính xác từng từ, từng chữ trong câu hỏi. Trong đề thi, một câu hỏi chặt chẽ sẽ không có từ nào là “thừa”. Đọc kĩ câu hỏi để xác định thời gian, không gian, nội dung lịch sử và yêu cầu của câu hỏi (trình bày, so sánh, giải thích, phân tích, đánh giá...) - Phân bố thời gian cho hợp lí. Hãy căn cứ vào điểm số của từng câu mà tính thời gian, mỗi điểm khoảng 15 phút là phù hợp. - Lập dàn ý chi tiết Hãy coi mỗi câu hỏi như một bài viết ngắn, lập dàn ý, xác định những ý chính và trình tự của các ý. Sau đó hãy “mở bài”, đừng mất nhiều thời gian suy nghĩ về “mở bài”. Khi đã xác định đúng nội dung sẽ biết mở bài thế nào, và nên mở bài trực tiếp, ngắn gọn – không quá 10 dòng. Sau khi viết hết nội dung, khắc sẽ biết kết luận. Đừng nghĩ trước kết luận, và cũng chỉ nên kết luận thật ngắn gọn. Về hình thức, không phải ai cũng viết được chữ đẹp, câu hay, nhưng hãy cố gắng viết cho rõ ràng, đúng câu, đúng chính tả, đừng dùng từ sáo rỗng, dài dòng, đừng viết tắt. Hãy luôn nhớ: Đúng, đủ, rõ ràng, lời văn giản dị, trình bày khoa học. Tuyệt đối không được viết tùy tiện, rườm rà. Khuyến khích học sinh có thể dẫn chứng thơ, văn, những nhận định, đánh giá, … để minh họa trong quá trình làm bài thi. *Lưu ý: Để làm một bài thi lịch sử đạt hiệu quả cao học sinh phải: 1. Hiểu đề: Đọc thật kĩ từng chữ trong câu hỏi để hiểu rõ người ta hỏi vấn đề gì? Phạm vi thời gian của câu hỏi là từ năm nào đến năm nào? Như vậy tránh được lạc đề hoặc thiếu ý. Trang 8 2.Dựng khung: Dù thuộc đến mấy cũng không viết ngay vào giấy thi. Hãy viết dàn ý vào giấy nháp sao cho thật đầy đủ và có hệ thống, đáp ứng yêu cầu của câu hỏi. 3.Cắm chốt: Ở mỗi phần của dàn ý ấy, ghi những chốt, nghĩa là sự kiện quan trọng cùng với thời điểm của nó. Như vậy bài làm sẽ không bỏ sót những sự kiện quan trọng. 4.Viết sạch: Viết vào giấy thi một cách sáng sủa, dễ đọc. Hết mỗi ý chính, mỗi sự kiện nên xuống dòng. Thấy cần thiết để làm nổi bật từng giai đoạn, từng sự kiện, từng ý nghĩa có thể ghi 1, 2, 3 hoặc a, b, c hoặc gạch đầu dòng, vì Lịch sử là một môn khoa học xã hội, có thể trình bày một cách có hệ thống. Như vậy cũng dễ cho người chấm. Bài thi lịch sử trong những năm gần đây nhiều câu nên học sinh không được chủ quan, viết quá dài - rườm rà. Chữ nào sai thì gạch đè lên, không nên xoá lem nhem, không đưa vào ngoặc đơn. Nếu trót thiếu cả một đoạn dài, có thể ghi bổ sung xuống cuối bài. Phải chia thời gian để trả lời đủ các câu hỏi, tránh đầu voi đuôi chuột. 5.Đọc lại: Phải tính toán thời gian, để khi viết bài xong, vẫn còn độ 10, 15 phút. Nhất thiết phải đọc lại bài để sửa chữa những chỗ sai sót nhầm lẫn rồi mới nộp bài. Đọc lại là khâu rất quan trọng để bài thi được điểm cao hơn. * Chấm và sửa bài Một học sinh giỏi không chỉ nắm vững kiến thức lịch sử, vững kỹ năng mà còn có sự sáng tạo. Vì vậy, trong quá trình bồi dưỡng cho học sinh tôi thường xuyên quan tâm đến việc chấm và sửa bài cho học sinh. Bài viết cần phải được sửa chữa, chỉ bảo cụ thể, để phát huy những cái hay, sửa sai kịp thời những cái dở, để có sự nhìn nhận đánh giá một cách công bằng, khách quan mỗi khi tuyển lựa đội tuyển chính thức đi dự thi. Sau khi dạy một chuyên đề, hay một giai đoạn lịch sử tôi thường tổ chức kiểm tra để chấm và sửa bài cho học sinh. Kiểm tra có thể cho bài tập các em về nhà làm, quy định thời gian nộp bài, nhưng theo tôi tốt nhất là cho học sinh làm bài kiểm tra ngay trên lớp bồi dưỡng. Ngoài ra tôi còn khuyến khích học sinh có thể tự tìm đề để viết rồi đưa cho thầy cô sửa giúp, sau đó viết lại nhuần nhuyễn. Cách này giúp học sinh tăng khả năng trình bày, diễn đạt của bạn và tạo thêm kỹ năng ứng phó tốt với mọi loại đề. Trang 9 2. Lựa chọn nội dung và phương pháp ôn luyện cho Học sinh giỏi Quốc gia phần Lịch sử Việt Nam giai đoạn 1945 – 1954 2.1. Một số dạng câu hỏi ôn tập LSVN giai đoạn 1945 – 1954 Câu 1: Hãy nhận diện các thế lực đé quốc có mặt trên đất nước ta sau ngày cách mạng tháng Tám thành công. Đế quốc nào là kẻ thù chính? Vì sao? - Chỉ 10 ngày sau cuộc Tổng khởi nghĩa tháng Tám 1945 thành công, quân đội các nước Dồng minh, với danh nghĩa vào giải giáp quân đội Nhật, đã kéo vào nước ta. Ngoài Pháp, Nhật vẫn chưa rút quân thì quân Trung Hoa Dân quốc, quân Anh đã kéo vào nước ta. Họ có danh nghĩa hợp pháp, là quân Đồng minh giải giáp quân đội Nhật Bản, nhưng bản chất chung là chống phá cách mạng Việt Nam. Chưa bao giờ nước ta lại có nhiều kẻ thù cùng một lúc đến vậy. Đây là khó khăn lớn nhất, nghiêm trọng nhất của cách mạng Việt Nam. - Quân Trung Hoa Dân quốc: Ngay sau khi nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà thành lập, 20 vạn quân Trung Hoa Dân quốc ồ ạt vào Hà Nội và hầu khắp các tỉnh miền Bắc. Âm mưu của chúng nhằm tiêu diệt Đảng Cộng sản, phá tan Mặt trận Việt Minh, lật đổ chính quyền cách mạng còn non trẻ của nhân dân ta. Trung Hoa Dân quốc sử dụng những phần tử tay sai nằm trong các tổ chức phản ộng như Việt Nam Quốc dân Đảng (Việt Quốc), Việt Nam Cách mạng đồng minh hội (Việt Cách) với âm mưu xúc tiến thành lập một chính phủ bù nhìn. Tuy nhiên, sau khi chiến tranh chống Nhật kết thúc, lực lượng của cách mạng Trung Quốc phát triển mạnh, trực tiếp đe doạ lợi ích chiến lược của Trung Hoa Dân quốc. Vì thế, sớm muộn họ cũng phải rút quân về nước để đối phó với lực lượng cách mạng Trung Quốc. Mặt khác, nội bộ phía Trung Hoa Dân quốc đang có mâu thuẫn tranh giành quyền lực. Đay là những khó khăn của quân Trung Hoa Dân quốc mà Việt Nam có thể lợi dụng để hoà hoãn, hạn chế những hoạt động chống phá của chúng. Như vậy, quân Trung Hoa Dân quốc không phải là kẻ thù nguy hiẻm nhất của Cách mạng Việt Nam. - Đế quốc Mĩ: Lúc này, Mĩ đang hậu thuẫn cho Trung Hoa Dân quốc để chiếm nước ta. Tuy nhiên, sau Chiến tranh thế giới thứ hai, Mĩ đang tập trung dối phó ở khu vực châu Âu và Trung Quốc nên chưa có đièu kiện can thiệp sâu vào Đông Dương. Trang 10 - Thực dân Ah: Hơn 1 vạn quân Anh vào miền Nam Việt Nam, dưới danh nghĩa là quân Đồng minh vào giải gíap quân Nhật, nhưng thực chất là để dọn đường cho quân Pháp quay trở lại th trị Đông Dương. Saốngu Chiến tranh thế giới thứ hai, phong trào giải phóng dân tộc bùng nổ mạnh mẽ. Cuộc đấu tranh đòi độc lập đang phát triển ở các thuộc địa của Anh. Chính vì vậy, Anh phải tập trung lực lượng để đối phó. Trong hoàn cảnh đó, thực dân Anh không có khả năng ở lại Đông Dương lâu dài. Do bản chất đế quốc, thực dân Anh lo ngại ảnh hưởng của Trung Hoa Dân quốc ở khu vực này nên đã hậu thuẫn cho quân Pháp quay trở lại xâm lược nước ta. Như vậy, quân Anh cũng không phải là kẻ thù nguy hiểm nhất cảu c mạng Đông Dương. - Quân Nhật áchBản: Sau chiến tranh, 6 vạn quân Nhật đang chờ để giải giáp, trong đó có một bộ phận theo lệnh đế quốc Anh đánh lại lực lượng vũ trang của ta, tạo điều kiện cho quân Pháp mở rộng chiếm đóng. Nhật Bản là nước bại trận trong Chiến tranh thế giới thứ hai. Quân Nhật ở Đông Dương đang chờ để về nước nên cũng không phải là kẻ thù chính của các mạng Việt Nam lúc đó. - Thực dân Pháp: Thực dân Pháp có âm mưu quay lại xâm lược Việt Nam. Ngay sau khi Chiến tranh thế giới thứ hai kết thúc, Chính phủ Pháp đã thành lập một đội quân viễn chinh do tướng Lơcơlec chỉ huy nhằm chiếm lại Đông Dương. Được sự ủng hộ của quân Anh, ngày 23/9/1945, Pháp tấn công Sài Gòn, mở đầu cuộc xâm lược tr lại nước ta. Lợi dụng tình hình trên, các lực lượng phản cách mạng miền Nam như ởĐại Việt, Tơ rốt kít, bọn phản động trong các giáo phái ngóc đầu dậy làm tay sai cho Pháp. Như vậy, với ý chí thực dân, cả trong tư duy và hành động, thực dân Pháp đã bộc lộ rõ dã tâm xâm lược Việt Nam. Phân tích về âm mưu của các nước đế quốc đối với Đông Dương, Trung ương Đảng nêu rõ: “kẻ thù chính của ta lúc này là thực dân Pháp xâm lược, phải tập trung ngọn lửa đâu tranh vào chúng”. Trang 11 Câu 2: Phân tích nguyên nhân dẫn đến sự bùng nổ cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp  Về phía Chính phủ và nhân dân Việt Nam Sau khi Cách mạng Tháng Tám 1945 thành công, Chính phủ Việt Nam mong muốn được cấc nước công nhận nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà và cũng mong muốn có hoà bình để xây dựng đất nước. Trước những hành động xâm lược của thực dân Pháp, Chính phủ Việt Nm đã nỗ lực cứu vãn một nền hoà bình dù rất mong manh, nên đã chủ động đàm phaán và kí kết với Pháp Hiệp định Sơ bộ (6/3/1946) và Tạm ước (14/9/1946), nhân nhượng cho Pháp một số quyền lợi để đổi lấy hoà bình. Mặt khác, trong khi nỗ lực duy trì hoà bình, Chính phủ Việt Nam vẫn tích cực chuẩn bị mọi lực lượng đề phòng tình huống bất trắc xảy ra. Thnags 5/ 1946, Vệ quốc đoàn đổi thành Quân đội Quốc gia Việt Nam và ngày 12/12/1946, Ban Thường vụ Trung ương Đảng ra chỉ thị “Toàn dân kháng chiến”  Về phía thực dân Pháp Trái ngược với thiện chí h bình của Việt Nam, thực dân Pháp vẫn ngoan cố bám giữ lập trường thực dân, nuoàôi hi vọng giành thắng lợi bằng quân sự. Với dã tâm cướp nước ta một lần nữa, chúng đã trắng trợn xé bỏ những điều đã cam kết với ta trong Hiệp định Sơ bộ ngày 6/3 và Tạm ước ngày 14/9/1946. Ở Nam Bộ và Nam Trung Bộ, thực dân Pháp đã tập trung tiến quân vào các phòng tuyến của quân ta, đánh chiếm các vùng tự do còn lại. Ở Bắc Bộ, hạ tuần tháng 11/1946, Pháp cho quân khiêu khích quân ta ở Hải Phòng, Lạng Sơn. Tháng 12/1946, chúng chiếm đóng trái phép ở Đà Nẵng, Hải Dương, đưa thêm viện binh đến Hải Phòng. Ở Hà Nội, từ 15 đến 16/12/1946, Phpá đã liên tiếp gây xung đột ở nhiều nơi: đốt cháy nhà Thông tin ở phố Tràng Tiền, chiếm đóng cơ quan Bộ Tài Chính, Bộ Giao thông công chính, gây vụ thảm sát đồng bào ta ở phố Hàng Bún, Yên Ninh, cầu Long Biên… Trăng trợn hơn, ngày 18, 19/12/1946, Pháp còn gửi tối hậu thư buộc chúng ta phải giải tán lực lượng tự vệ chiến đấu, giao quyền kiểm soát thủ đô cho Pháp, chúng đe doạ nếu yêu cầu đ không được chấp nhận thì chậm nhất quân Pháp sx hành động vào sáng 20/12/1946. Trang 12 Những hành động khiêu khích, xâm lược của Pháp đã làm cho nền độc lập chủ quyền của nước ta bị đe doạ nghiêm trọng. Chính những hành động gây chiến đó của thực dân Pháp là nguyên nhân dẫn tới cuộc kháng chiến toàn quốc của nhân dân ta. Tuy nhiên, hành động dung túng, hỗ trợ của quân Anh và quân Trung Hoa Dân quóc cũng góp phần giúp thực dân Pháp đẩy mạnh hành động chiến tranh xâm lược. thủ phạm gây ra cuộc chiến tranh Đông Dương từ năm 1945 đếns năm 1954 chính là thực dân Pháp, song phía Anh và Trung Hoa Dân quốc cũng phải chịu một phần trách nhiệm trong việc tiếp tay cho Pháp xâm lược Việt Nam. + Giúp Pháp trở lại VN sau Chiến tranh thế giới thứ hai kết thúc + Khi cần rút lực lượng Trung Hoa Dân quốc về nước, Mĩ đã dàn xếp nội bộ phe đế quốc, tạo điều kiện cho Pháp đưa quân ra Bắc (Hiệp ước Trùng Khánh 28/2/1946) + Sau này, Mĩ và Anh cũng giúp Pháp rất nhiều về mặt tài chính, quân sự để tiến hành chiến tranh xâm luọc Việt Nam và Đông Dương. Câu 3: Đại hội Đại biểu lần thứ II của Đảng (tháng 2/1951) diễn ra trong hoàn cảnh lịch sử như thế nào. Nêu những quyết định quan trọng và ý nghĩa lịch sử của Đại hội đối với cuộc kháng chiến chống thực dn Pháp xâm lược a. Hoàn cảnhâ - Pháp gặp khó khăn trong cuộc chiến tranh ở Đông Dương, phải dựa vào Mĩ để tiếp tục duy trì chiến tranh. Mĩ cũng muốn nhân cơ hội này, từng bước gạt Pháp, độc chiếm Đông Dương. Kế hoạch Đờ Lát Đờ tát xi nhi ra đời chính là sản phẩm và âm mưu mới của Pháp – Mĩ. - Sau chiến thắng Biên giói Thu – đông 1950, cuộc kháng chiến của nhân dân ta bước sang giai đoạn mới. Ta giành được quyền chủ động chiến lược trên chiến trường chính Bắc Bộ. - Kể từ năm 1950, cuộc kháng chiến của nhâ dân ta có những thuận lợi cơ bản: Cách mạng Trung Quốc thành công, nhiều nước trên thế giới đã công nhận và đặt quan hệ ngoại giao với ta. - Cuộc cách mạng của ba nước Đông Dương đang có những bước phát triển mới khác nhau, đòi hỏi phải tăng cường hơn nữa sự lãnh đạo của Đảng. Trong đó, trước Trang 13 mắt phải vạch ra đường lối đánh thắng thực dân Pháp và can thiệp Mĩ, đòi hỏi phải nêu rõ mục đích, nhiệm vụ của cuộc cách mạng dân tộc, dân chủ nhân dân của ta. - Từ ngày 11 đến ngày 19/2/1951, Đại hội Đại biểu lần thứ II của Đảng cộng sản Đông Dương được tến hành tại xã Vinh Quang, huyện chiêm Hoá, tỉnh Tuyên Quang. Dự Đại hội có 158 đại biểu chính thức và 53 đại biểu dự khuyết, thay mặt cho 76 vạn đảng viên trong toàn Đảng. b, Quyết định của Đại hội - Đại hội thông qua hai báo cáo quan trọng: “Báo cáo chính trị” do chủ tịch Hồ Chí Minh trình bày đã tổng k kinh nghiệm của Đảng qua các chặng đường lịch sử đấu tranh cách mạng, khẳng định đường lối kháng chiến chống thực dân Pháp. Báo cáo “Bàn về cách mạng Việt Nam” của Tổng Bí thư Trường Chinh trình bày: + Xác định nhiệm vụ cơ bản của cách mạng Việt Nam trong giai đoạn hiện tại là: tiêu diệt thực dân Pháp và đánh bại bọn can thiệp Mĩ, giành độc lập, thống nhất toàn vẹn cho dân tộc. + oá bỏ những tàn tích phong kiến và nửa phong kiến, làm cho người cày có ruộng, phát triển chế độ dân chủ nhân dân, gây cơ sở cho chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam. - Đại hội đã thảo luận và quyết định nhiều chính sách cơ bản trên mọi lĩnh vực như: củng cố chính quyền, xây dựng quân đội, củng cố mặt trận, phát triển kinh tế, tài chính, văn hoá…nhằm đẩy mạnh cuộc kháng chiến về mọi mặt. - Đại hội quyết định tách Đảng Cộng sản Đông Dương để thành lập ở VN, Lào, Campuchia mỗi nước một Đảng Mac Lenin riêng. Ở VN, Đại hội quyết định đưa Đảng ra hoạt động công khai với tên Đảng Lao động Việt Nam. - Đại hội thông qua Tuyên ngôn, Chính cương, Điều lệ mới của Đảng và quyết định xuất bản báo Nhân dân làm co quan ngôn luận của Đảng - Đại hội bầu ra Ban Chấp hành Trung ương và Bộ Chính trị c, Ý nghĩa - Đại hội Đại biểu lần thứ II của Đảng là mốc đánh dấu bước phát triển mới trong quá trình lãnh đạo, trưởng thành và lớn mạnh của Đảng ta. Trang 14 - Tăng cường hơn nữa mối quan hệ giữa Đảng với quần chúng, củng cố nièm tin tất thắng vào cuộc kháng chiến, kiến quốc. Câu 4: Trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp từ 1946 dến 1954, chiến thắng nào cảu quân và dân ta đã làm phá sản ý đồ “đánh nhanh, thắng nhanh” của Pháp. Trình bày hoàn cảnh, kết quả, ý nghĩa của chiến thắng đó. a, Trong cuộc kháng chiến chống Pháp 1946 – 1954, chiến thắng của quân và dân ta làm phá sản ý đồ “đánh nhanh thắng nhanh” của quân Pháp là chiến dịch Việt Bắc thu đông 1947 b, Hoàn cảnh lịch sử, kết quả, ý nghĩa của chiến dịch  Hoàn cảnh Về phía Pháp - Sau gần một năm kể từ khi cuộc kháng chiến toàn quốc bùng nổ, thực dân Pháp tuy đã chiếm được các đô thị và các đường giao thông chiến lược, song phạm vi chiếm đóng càng mở rộng, Pháp càng gặp khó khăn do phải dàn ỏng lực lượng. - Bước sang năm 1947, nước Pháp gặp nhiều khó khăn về kinh tế, tài chính, chính trị - xã hội. Để giải quyết những khó khăn đó và thực hiện âm mưu “đánh nhanh, thắng nhanh”, tháng 3 năm 1947, Chính phủ Pháp đã cử Bolae sang làm cao uỷ Pháp ở Đông Dương, thay cho Đácgiănglio. Bôlae đã vạch ra kế hoạch tiến quân lên Việt Bắc, nhằm đánh phá căn cứ địa, tiêu diệt cơ quan đầu n kháng chiến và quân chủ lực, triệt đường liên lạc quốc tế của ta. Chúng âm mưu giành thắng lợi quân sự, tién tới thành lập chính phủ bù nhìn, nhanh chóng kết thúc chiến tranh. - Thực hiện kế hoạch trên, Pháp đã huy động một lực lượng quân đội lớn với 12.000 quân tinh nhuệ gồm cả không quân, lục quân, thuỷ quân và hầu hết máy bay có ở Đông Dương, chia thành ba cánh quân mở cuộc tấn công lên Việt Bắc. Về phía ta: - Sau một năm kháng chiến chống thực dân Pháp, các cơ quan trung ương của ta đã rút về căn cứ Việt Băc để kháng chiến lâu dài. - Lực lượng kháng chiẽn của ta lúc này còn non yếu. Trung ương Đảng chủ trương tiến hành cuộc chiến tranh nhân dân, kháng chiến toàn dân, toàn diện, trường kì, tự lực cánh sinh. Trang 15 Kết quả, ý nghĩa: - Thực hiện chỉ thị của Dảng, trên khắp các mặt trận, nhân dân ta đã anh dũng chiến đấu, tiêu diệt nhiều sinh lực địch, từng bước phá vỡ vòng vây của địch ở nhiều nơi. Cuộc chiến đấu hơn hai tháng giữa ta và địch đã kết thúc bằng cuộc rút chạy của đại bộ phận quâ Pháp khỏi Việt Bắc ngày 19/12/1947. Cơ quan đầu não kháng chiến được bảo toàn. Bộ đội chủ lực của ta đã trưởng thành. - Sau 75 ngày đêm chiến đấu, quân dân ta đã loại khỏi vòng chiến đấu hơn 6.000 địch, bắn rơi 16 máy bay, bắn chìm và bắ cháy 11 tàu chiến, cano, phá huỷ nhiều xe quân sự và pháo các laoij, thu nhiều vũ khí và hàng chục tấn quân trang, quân dụng - Chiến dịch Việt Bắc thu đông 1947 là chiến dịch phản công lớn đầu tiên của ta trong cuộc kháng chiến chống Pháp giành thắng lợi. - Chiến thắng Việt Bắc thu đông 1947 đã giáng một đò quyết định vào chiến lược “đánh nhanh, thắng nhanh” của Pháp, buộc chúng phải chuyển sang đánh lâu dài với ta, đưa cuộc kháng chiến của nhân dân ta bước sang một giai đoạn mới. Đây là mốc kh đầu sự thay đổi tương quan so sánh lực lượng giữa ta và địch có lợi cho cuộc kháng chiến của ta. Câu 5: Chiến dịch chủ động tiến công lớn đầu tiên của bộ đội chủ lực ta trong cuộc kháng chiến chống Pháp (1945 – 1954) là chiến dịch nào? Hoàn cảnh lịch sử, chủ trương của ta và ý nghĩa chiến dịch dó? a, Chiến dịch chủ động tiến công đầu tiên của bộ đội chủ lực ta trong cuộc kháng chiến chống Pháp (1945 – 1054) là chiến dịch Biên giới thu đông 1950 b, Hoàn cảnh lịch sử - Về phía ta: + Bước vào năm 1950, tình hình thé giới và Đông Dương có nhiều sự kiện ảnh hưởng tới cuộc kháng chiến chống Pháp của nhân dân ta. + Ngày 1/10/1949, cách mạng Trung Quốc giành thắng lợi, nước Cộng hoà Nhân dân Trung Hoa được thành lập, ánh dấu sự ra đời của hệ thống XHCN trên thế giới, là cầu nối quan trọng giữa nước ta với các nước XHCN anh em. + Đầu năm 1950, Chủ tịch Hồ Chí Minh tuyên bố sẵn sàng đặt quan hệ ngoại giao với các nước. Ngày 18/1/1950, Trung Quốc, ngày 30/1/1950 Liên Xô và tiếp đó là các nước DCND Đông Âu lần lượt đặt quan hệ ngoại giao với nước ta. Như vậy, Trang 16 nước ta thoát khỏi thế bị cô lập, cách mạng nhận được sự ủng hộ của các nước XHCN, đứng đầu là Liên Xô. + Phong trào giải phóng dân tộc ở các nước thcj địa và phụ thuộc trên thế giới lúc này đang phát triển mạnh. Trong khi đó ở Pháp, phong trào phản đối cuộc chiến tranh xâm lược VN của thực dân Pháp ngày càng lên cao. - Về phía Pháp: + Sau thất bại ở Việt Bắc thu đông 1947, cùng với những khó khăn về kinh tế, tài chính, Pháp càng lệ thuộc vào Mĩ. Được sự đồng ý của Mĩ, tháng 5/1949, Pháp đề ra kế hoạch Rơve. + Mĩ từng bước can thiệp sâu và “dính líu” trực tiếp vào cuộc chiến tranh Đông Dương. Ngày 7/2/1950, Mĩ công nhận chính phủ bù nhìn Bảo Đại. Ngày 8/5/1950, Mĩ đồng ý viện trợ tài chính và quân sự cho Pháp ở Đông Dương với âm mưu năm quyền điều khiển trực tiếp cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam. + Thực hiện kế hoạch Rơve, từ tháng 6/1949, Pháp đưa nhiều vũ khí mới vào VN, tập trung quân ở Nam Bộ, Trung Bộ, tăng cường hệ thống phòng ngự trên đường số 4 từ Lạng Sơn đi Cao Bằng, thiết lập “Hành lang Đông Tây” (Hải Phòng – Hà Nội – Hoà Bình – Sơn La). Trên cơ sở đó, Pháp chuẩn bị một kế h quy mô lớn tiến công Việt Bắc lần thứ hai, mong giành thắng lợi để nhanh chóng kết thúc chiến tranh. c, Chủ trương của ta Để tranh thủ những điều kiện thuận lợi, khắc phục tình trạng bị bao vây từ bên trong, đẩy mạnh cuộc kháng chiến lên một giai đoạn mới, tháng 6/1950, Trung ương Đảng, Chính phủ quyết định mở chiến dịch Biên giới nhằm ba mục tiêu: + Tiêu diệt một bộ phận quan trọng sinh lực địch + Khai thông biên giới Việt Trung, mở rộng đường liên lạc quốc tế + Củng cố và mở rộng căn cứ địa Việc Bắc, tạo điều kiện đẩy mạnh cuộc kháng chiến tiến lên d, Kêt quả, ý nghĩa - Chiến dịch Biên giới diễn ra từ ngày 16/9/1950 và kết thúc thắng lợi ngày 22/10/1950, ta đã lại khỏi vòng chiến đấu hơn 8000 địch, giải phóng tuyến biên giới Việt – Trung từ Cao Bằng đến Đình Lập với 35 vạn dân, chọc thủng “hành lang Đông Tây” của Pháp. Thế bao vây của địch cả trong và ngo đối với căn cứ Việt Bắc bị phá vỡ. Kế hoạch Rơve bị phá sản. Trang 17 - Với chiến thắng Biên giới thu dông 1950, con đường liên lạc của ta với các nước XHCN được khai thông, quân đội chủ lực của ta đã trưởng thành về mọi mặt, cơ quan đầu não kháng chiến của ta được bảo vệ. - Thắng lợi của chién dịch đánh dấu bước trưởng thành vượt bậc của quân đội ta, mở ra bước phát triển mới của cuộc kháng chiến chống Pháp. Sau chiến dịch, so sánh lực lượng giữa ta và thực dân Pháp có thay đổi căn bản. Quân ta giành thế chủ động chiến lược tên chién trường chính Bắc Bộ, ngược lại thực dân Pháp bị đẩy vào thế bị động, dối phó với các cuộc tiến công của ta. Câu 6: Nêu nội dung cơ bản của kế hoạch Nava. Âm mưu của Pháp – Mĩ trong việc xây dựng tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ như thế nào? a, Kế hoạch Nava Qua 8 năm tranh, thực dân Pháp ngày càng suy yếu và gặp khó khăn về mọi mặt. Trước tình hình đó, Mĩ ra sức can thiệp sâu vào cuộc chiến tranh ở Đông Dương. Ngày 7/5/1953, được sự thoả thuận của Mĩ, chính phủ Pháp đã cử tướng Nava làm Tổng chỉ huy quân đội viễn chinh Pháp ở Đông Dương. Sau khi sang Đông Dương, Nava đã đề ra một kế hoạch quân sự mới với hi vọng trong 18 tháng giành lấy một thắng lợi quyết định để “kết thúc chiến tranh trong danh dự” Kê hoạch chia thành 2 bước: - Bước 1: từ thu đông 1953 – xuân 1954, giữ thế phòng ngự chiến lược ở Bắc Bộ, tấn công chiến lược để bình định ở Trung bộ và Nam Đông Dương, đồng thời mở rộng nguỵ quân, tập trung binh lực xây dựng lực lượng cơ động chiến lược mạnh. - Bước 2: từ thu đông 1954, chuyển lực lượng ra chiến trường Băc Bộ, thực hiện cuộc tiến công chiến lược, cố giành thắng lợi quân sự quyết định buộc ta phải đàm phán theo những điều kiện có lợi cho chúng, nhằm kết thúc chiến tranh. Thực hiện kế hoạch: Từ thu đông 1953, Nava tập trung lực lượng quân cơ động ở đồng bằng Bắc Bộ là 44 tiểu đoàn (trên tổng số 84 tiểu đoàn toàn Đông Dương), mở rộng hoạt động thổ phỉ, biệt kích ở vùng rừng núi biên giới, mở những cuộc tấn công lớn vào vùng giáp giới Nnh Bình, Thanh Hoá. Nhận xét: Trang 18 - Kế hoạch Nava thể hiện sự kết cấu chặt chẽ của Pháp – Mĩ. Đây là kế hoạch toàn diện, có qui mô lớn, nên nó sẽ làm cuộc kháng chiến của ta gặp nhiều khó khăn mới. - Tuy nhiên, ngay từ đàu kế hoạch này đã bộc lộ những nhược điẻm không thể khắc phục được, đó là: mâu thuẫn giữa tập trung với phân tán, giữa thế và lực của quân Pháp với mục tiêu chiến lược mà chúng đặt ra. b, Âm mưu của Pháp – Mĩ trong việc xây dựng tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ - Khi kế hoạch Nava bước đầu bị phá sản, phát hiện quân chủ lực của ta tiến quân lên Tây Bắc, Nava quyết định xây dựng Điện Biên Phủ trở thành một tập đoàn cứ điểm mạnh nhất Đông Dương. - Ngày 3/12/1953, Nava quyết định xây dựng Điện Biên Phủ thành một tập đoàn cứ điểm mạnh, tiếp nhận một cuộc quyết chiến chiến lược tại đây và sẵn sàng “nghiền nát” bộ đội chủ lực của ta. Đối với dân Pháp, Điện Biên Phủ có vị trí chiến lược quan trọng ở Đông Dương. Pháp và Mĩ cho rằng Điện Biên Phủ có thể trở thành căn cứ lục quân và không quân trong âm mưu xâm lược Đông Dương của chúng. Trước mắt, Điện Biên Phủ có tác dụng thu hút lực lượng của ta, tạo cho chúng bình định ở đồng bằng Bắc Bộ, chiếm liên khu V. - Để thực hiện mưu đồ trên, Nava tập trung mọi cố gắng xây dựng Điện Biên Phủ trở thành căn cứ quân sự lớn nhất Đông Dương với lực lượng lúc cao nhất lên đến 16.200 tên, được bố trí thành một hệ thống phòng thủ chặt chẽ gồm 49 cứ điểm, chia thành 3 phân khu với các loại vũ khi và phương tiện chiến tranh hiện đại. Chính vì thế, cả Pháp và Mĩ đều coi Điện Biên Phủ là pháo đài “bất khả xâm phạm”. Như vậy, từ chỗ không có trong kế hoạch ban đầu, Điện Biên Phủ lại trở thành trung tâm của kế hoạch Nava. Câu 7: Vì sao đầu tháng 12/1953, Bộ chính trị Trung ương Đảng quyết định mở chiến dịch Điện Biên Phủ? - Địch xây dựng tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ với am mưu hết sức nguy hiểm: nhằm thu hút chủ lực của Việt Minh đến đó để tiêu diệt. Trong tính toán của địch, ta không có khả năng tiến hành một chién dịch quân sự lớn ở Điện Biên Phủ vì trong trường hợp đó, ta không đảm bảo được khả năng tiếp tế h cần cho một chiến trường cách xa hậu phương của ta, nếu ta cố tình đánh thì sẽ gặp rất nhiều khó khăn và Trang 19 sẽ bị tiêu diệt. Địch không thấy được khả năng khắc phục của ta và không thấy được chỗ yếu của bản thân mình. - Nếu địch giữ được Điện Biên Phủ chúng sec khống chế toàn bộ vùng rừg núi phía Bắc Đông Dương và do vậy chúng chưa thể thua trong chiến tranh. Để làm thất bại hoàn toàn kế hoạch Nava, làm tiêu tan ý chí thực dn của đế quốc Pháp, làm sụp đổ hi vọng giành thắng lợi quân sự của họ, chúng ta phải tiêu diệt tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ. Có như vậy, ta mới giành thắng lợi quyết định, làm xoay chuyển cục diện chiến tranh, tạo cơ sở thực lực về mặt quân sự cho cuộc đấu tranh ngoại giao nhằm kết thúc thắng lợi cuộc kháng chiến. - Trên cơ sở phân tích am mưu nguy hiểm của Pháp – Mĩ trong việc chiếm đóng Điện Biên Phủ, ta thấy được bên cạnh mặt mạnh, địch có chỗ yếu cơ bản, Đây là sản phẩm của thế bị động về chiến lược, Điện Biên Phủ lại nằm sâu trng rừng núi Tây Bắc hiểm trở, chúng chỉ có đường tiếp tế duy nhất là đường hàng không nên rất dễ bị bao vây, cô lập. Ta có thể khoét sâu chỗ yếu của địch đẻ giành thắng lợi. - Về phía ta, ta có đủ tinh thần và lực lượng của cả quân đội và nhân dân, đồng thời còn có sự giúp đỡ của quốc tế để đảm bảo cho việc giành thắng lợi ở Điện Biên Phủ. - Trên cơ sở phân tích toàn diện, tháng 12/1953, Bộ Chính trị đã quyết định tiêu diệt tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ. Việc thay đổi phương hướng tiến công chiến lược trong đông xuân 1953 – 1954 và chiến dịch Điện Biên Phủ thẻ hiện sự quán triệt và thực hiện phương châm chiến lược tích cực, chủ động, cơ động, linh hoạt và chắc thắng. Câu 8: Phân tích sự kết hợp đấu tranh quân sự và ngoại giao của Đảng ta trong việc kết thúc cuộc kháng chiến chống Pháp (1945 – 1954)? - Đấu tranh quân sự và ngoại giao có quan hệ mật thiết với nhau. Thắng lợi quân sự là cơ sở để đấu tranh ngoại giao. Tuy nhiên, đấu tranh ngoại giao có thể chủ động phát huy thắng lợi trên chiến trường và yếu tố chíh nghĩa của cuộc chiến tranh để tiến công địch, tranh thủ dư luận quốc tế. - Bước vào đông xuân 1953 – 1954, thực dân Pháp chuẩn bị thực hiện kế hoạch Nava, ta chủ trương mở cuộc tiến công chiến lược nhằm phá tan kế hoach Nava của Pháp – Mĩ. Mặt khác, ta cũng chủ trương kết hợp với một giải pháp ng giao để kêt thúc cuộc chiến. Trang 20
- Xem thêm -