Tài liệu Quan hệ quốc tế (1919 1939) một số vấn đề khi ôn tập bồi dưỡng học sinh giỏi

  • Số trang: 12 |
  • Loại file: DOC |
  • Lượt xem: 2852 |
  • Lượt tải: 0

Mô tả:

QUAN HỆ QUỐC TẾ (1919-1939): MỘT SỐ VẤN ĐỀ KHI ÔN TẬP BỒI DƯỠNG HỌC SINH GIỎI Hà Trọng Thái – Chuyên Lào Cai Quan hệ quốc tế từ năm 1919 đến năm 1939 là một trong số các vấn đề nổi bật nhất của lịch sử thế giới hiện đại. Điều đó thể hiện qua mối quan hệ giữa các nước lớn; những quan hệ chủ đạo đã chi phối đến toàn bộ các quan hệ khác. Trong khoảng 20 năm giữa hai cuộc Đại chiến Thế giới, quan hệ quốc tế đã diễn biến phức tạp, và có thể nói đầy biến động, chi phối đến toàn bộ tình hình thế giới. Trong bài viết này, chúng tôi không có tham vọng làm nổi bật toàn bộ quan hệ quốc tế, mà chỉ đưa ra một số vấn đề, câu hỏi nhằm nâng cao hơn việc ôn tập, bồi dưỡng học sinh. 1. Những cơ sở hình thành quan hệ quốc tế 1.1. Hệ thống hoà ước Vécxai Sau Thế chiến lần thứ nhất kết thúc (1914-1918), các nước thắng trận đã họp Hội nghị hoà bình ở Vécxai (Pháp) để phân chia thành quả chiến thắng; đồng thời thiết lập một trật tự hoà bình, an ninh mới sau chiến tranh. Tham dự Hội nghị có 27 nước thắng trận, nhưng trong thực tế Mĩ , Anh, Pháp đã nắm quyền quyết định mọi việc. Các cường quốc thắng trận đều có những tham vọng trong việc phân chia thành quả, thiết lập một trật tự thế giới mới: Thứ nhất, Mĩ muốn xác lập địa vị bá chủ thế giới bằng chương trình 14 điểm của Tổng thống Uynxơn. Chương trình này dần trở thành nguyên tắc để thảo luận trong Hội nghị. Thứ hai, Pháp có lực lượng lục quân mạnh nhất châu Âu, vì thế muốn làm suy yếu lâu dài nước Đức để từ đó có thể bá chủ châu Âu lục địa. Thứ ba, nước Anh muốn làm suy yếu nước Đức về mặt hải quân, tước bỏ hệ thống thuộc địa của Đức, thực thi chính sách cân bằng quyền lực, duy trì một nước Đức tương đối mạnh ở châu Âu để phá bỏ âm mưu làm bá chủ lục địa của nước Pháp. Thứ tư, Nhật Bản muốn củng cố quyền lực ở Trung Quốc, đồng thời muốn mở rộng thế lực ra toàn bộ khu vực châu Á - Thái Bình Dương. Thứ năm, Italia muốn mở rộng vị trí, lãnh thổ của mình ra toàn bộ vùng Địa Trung Hải, Ban Căng… Vì lẽ đó, Hội nghị Vécxai diễn ra hết sức căng thẳng. Lênin từng khẳng định: “…Chúng không còn kìm chế mình và bầy thú dữ đó cắn nhau loạn xạ…”. Hội nghị kết thúc với các văn kiện được kí kết: Hoà ước Vécxai với Đức, Hoà ước Xanh Giécmanh kí với Áo, hoà ước Nơiy kí với Bungari, hoà uớc Triannông kí với Hunggari và hoà ước Xevrơ kí với Thỗ nhĩ kì. 1 Điểm chung của toàn bộ các hoà ước đó là nước Đức và đồng minh của Đức phải đền bù chiến phí, bị tước đoạt thuộc địa, phải bồi thường bằng chính lãnh thổ của nước mình, hoặc bị chia cắt quốc gia. 1. 2. Hội nghị ở Oasinhtơn Hệ thống Vécxai được kí kết nhưng nó đã không thoả mãn cả những nước thắng và bại trận, trong đó có nước Mĩ. Tháng 11 năm 1921, với những nổ lực ngoại giao Mĩ đã mời 8 nước bao gồm: Anh, Pháp, Iatalia, Bỉ, Hà Lan, Bồ Đào Nha, Nhật Bản và Trung Quốc họp hội nghị ở Oasinhtơn (Thủ đô của nước Mĩ). Hội nghị đã quyết định nhiều vấn đề quan trọng, trong đó thể hiện rõ nhất là ba bản Hiệp ước: “Hiệp ước cùng đảm bảo không xâm phạm đến các đảo thuộc địa ở Thái Bình Dương” (Hiệp ước 4 nước Mĩ, Anh, Nhật, Pháp); Hiệp ước “Hoàn chỉnh về lãnh thổ và tôn trọng chủ quyền của Trung Quốc”; “Hiệp ước hạn chế vũ trang và hải quân” (Quy định tỉ lệ hải quân cho mỗi nước, theo đó, Mĩ và Anh có tỉ lệ hải quân ngang nhau…) Như vậy, từ năm 1919 đến 1922, trên cơ sở hoà ước Vécxai - Oasinh tơn một trật tự thế giới (V-O) đã hình thành. Hoà ước Vécxai- Oasinh tơn đã không giải quyết dứt điểm các mâu thuẫn của chủ nghĩa đế quốc, của các dân tộc, mà trái lại đã làm tăng thêm những mâu thuẫn, bất đồng đó. Đúng như nguyên soái Phốc- Tổng tư lệnh quân đội Đồng minh ở châu Âu đã nhận định: “Đây không phải là hoà bình. Đây là một cuộc hưu chiến trong 20 năm”. 1.3. Thắng lợi của cách mạng tháng Mười Nga năm 1917 Năm 1917, cách mạng tháng Mười Nga bùng nổ và nhanh chóng giành được thắng lợi. Cuộc cách mạng đã làm thay đổi đất nước và số phận hàng triệu con người Nga. Một kỉ nguyên mới đã mở ra trong lịch sử nước Nga. Thắng lợi của của cách mạng Nga còn làm thay đổi cục diện thế giới, đã làm cho chủ nghĩa tư bản không còn là một hệ thống duy nhất trên toàn thế giới. Có thể nói sự xuất hiện nhà nước Xô viết đầu tiên trên thế giới đã đe doạ đến sự tồn tại của chủ nghĩa tư bản. Đó là căn nguyên lí giải vì sao mặc dù mâu thuẫn gay gắt với nhau, nhưng tất cả các nước đế quốc đều thống nhất mục tiêu chung trong việc tiêu diệt nước Nga Xô viết. Sự lớn mạnh của Nước Nga Xô viết, cộng với những toan tính, những âm mưu và thủ đoạn của các nước đế quốc đã tạo nên một trong những yếu tố chi phối đến quan hệ quốc tế (1919-1939). 2. Khái quát quan hệ quốc tế (1919-1939) 2.1. Quan hệ quốc tế trong những năm 1919-1929 Điểm nổi bật trong giai đoạn này là quan hệ quốc tế phát triển theo hoà ước Vécxai- Oasinh tơn. Quan hệ quốc tế nói riêng, tình hình thế giới nói chung vẫn trong giai đoạn hoà bình tạm thời. Thế nhưng, một số nguyên tắc, thoả thuận trong quan hệ quốc tế đã bị phá vỡ. Điều đó thể hiện rõ nét nhất trong vấn đề nước Đức (việc giải trừ quân 2 bị của Đức không hoàn toàn triệt để đã dẫn tới phát triển nước Đức theo đường lối hoà bình không thực hiện được). Đó chính là căn nguyên, mầm mống, hiểm hoạ đã dẫn tới con đường của Thế chiến thứ hai. 2.2. Quan hệ quốc tế (1929-1939) Quan hệ quốc tế trong năm cuối của thập kỉ 20 và trong suốt thập kỉ 30 diễn biến hết sức phức tạp. Sự hình thành và phát triển nhanh chóng của chủ nghĩa phát xít, quá trình hình thành hai khối đế quốc đối lập, một bên là khối phát xít Đức- Italia- Nhật bản (Phe trục), với một bên là Mĩ, Anh, Pháp, với cuộc chạy đua vũ trang giữa hai khối đã phá vỡ hệ thống Véc xai - Oa sinhtơn. Tất cả những điều đó sớm báo hiệu thế chiến thứ hai ngày càng đến gần. 3. Hệ thống câu hỏi ôn tập Câu 1. Hãy lập bảng so sánh để thấy giống nhau (về đặc điểm kinh tế, bản chất, mưu đồ, thái độ trong quan hệ quốc tế) và sự khác nhau (quá trình xác lập chủ nghĩa phát xít, tiềm lực kinh tế) giữa ba nước phát xít Đức, Italia, Nhật trong những năm 20 và 30 của thế kỉ XX. (Xem Tài liệu Hội thảo khoa học lần thứ VII, năm 2014, Hội các trường chuyên khu vực Duyên hải và Đồng bằng Bắc bộ) Câu 2. Quan hệ quốc tế từ năm 1918 đến năm 1939 có thể chia ra làm mấy giai đoạn ? Nêu nhận xét chung về các giai đoạn của quan hệ quốc tế. Câu 3. Thế nào là trật tự thế giới ? Trật tự thế giới theo hệ thống Véc xaiOa sinh tơn được hình thành như thế nào? Tác động của nó ? Câu 4. Hãy chỉ ra và lí giải những nhân tố chi phối đến quan hệ quốc tế trong giai đoạn 1919-1939. Câu 5. Ba lò lửa chiến tranh thế giới đã hình thành như thế nào ? Vì sao các hoạt động xâm lược của Đức, Italia và Nhật không bị ngăn chặn ? Câu 6. Bằng những sự kiện lịch sử có chọn lọc, hãy phân tích con đường dẫn đến chiến tranh thế giới thứ hai (1939 – 1945). Câu 7. Trên cơ sở trình bày những nét chính về quan hệ quốc tế trong thời kì (1919-1939) hãy giải thích vì sao trong suốt 20 quan hệ quốc tế luôn trong tình trạng căng thẳng và chứa đựng nhiều mâu thuẫn. Câu 8. Quan hệ quốc tế trong thời kì từ 1919 – 1939 đã tác động như thế nào đến Việt Nam ? Câu 9. Hệ thống Vécxai- Oasinh tơn đã từng bước sụp đổ như thế nào trong thập kỉ 30 (thế kỉ XX) ? Câu 10. Có đúng không khi cho rằng cuộc khủng hoảng kinh tế thế giới 1929-1933, quá trình xuất hiện chủ nghĩa phát xít là tác nhân dẫn tới sự sụp đổ của trật tự theo Hệ thống Vécxai- Oasinh tơn ? 3 Câu 11. Trật tự thế giới mới được thiết lập sau Chiến tranh thế giới lần thứ nhất (1914 – 1918) như thế nào ? (Đề thi HSG Quốc gia , bảng B, năm 1999) Câu 12. Đánh giá về nền hoà bình do Hội nghị Véc-xai đem lại, Nguyên soái Phéc-đi-năng Phốc (Foch) – nguyên Tổng tư lệnh quân đội Đồng minh ở châu Âu đã nói : “Đây không phải là hoà bình. Đây là một cuộc hưu chiến trong 20 năm”. Tại sao nói như vậy ? (Đề thi Olympic Truyền thống 30/4, khối 11, năm 2006) Câu 13. Nêu đặc điểm của cuộc khủng hoảng kinh tế thế giới (1929 – 1933). Giải thích vì sao trong bối cảnh khủng hoảng đó, các nước Anh – Pháp – Mĩ vẫn giữ nguyên nền dân chủ tư sản, còn Đức – Italia – Nhật Bản lại thiết lập chế độ độc tài phát xít ? Điều đó đã tác động như thế nào đến quan hệ quốc tế? 4. Hướng dẫn tiếp cận một số câu hỏi bài tập Câu 5. Ba lò lửa chiến tranh thế giới đã hình thành như thế nào ? Vì sao các hoạt động xâm lược của Đức, Italia và Nhật không bị ngăn chặn ? 1. Ba lò lửa chiến tranh a) Lò lửa chiến tranh ở Viễn Đông Nhật Bản là nước đầu tiên có tham vọng phá vỡ hệ thống Vécxai – Oasinhtơn bằng sức mạnh quân sự. Từ năm 1927, Thủ tướng Nhật Tanaca đã vạch một kế hoạch chiến tranh toàn cầu đệ trình lên Thiên hoàng dưới hình thức bản “tấu thỉnh”', trong đó khẳng định phải dùng chiến tranh để xoá bỏ những “bất công mà Nhật phải chấp nhận” trong các Hiệp ước Oasinhtơn (1921 – 1922) và đề ra kế hoạch cụ thể xâm lược Trung Quốc, từ đó mở rộng xâm lược toàn thế giới. Năm 1931, Nhật Bản tạo ra “Sự kiện đường sắt Nam Mãn Châu” để lấy cớ đánh chiếm vùng Đông Bắc Trung Quốc. Đây là bước đầu tiên trong kế hoạch xâm lược đại qui mô của Nhật. Sau khi chiếm vùng này, quân Nhật dựng lên cái gọi là “Nhà nước Mãn Châu độc lập” với chính phủ bù nhìn do Phổ Nghi đứng đầu. Như vậy, sự kiện Mãn Châu chính là ngòi lửa của cuộc chiến tranh xâm lược Trung Quốc với quy mô ngày càng lớn, đánh dấu việc hình thành lò lửa chiến tranh ở châu Á và trên thế giới. Sau đó, Nhật Bản tiếp tục mở rộng xâm lược Trung Quốc, chiếm đóng hai tỉnh Nhiệt Hà và Hà Bắc. Để có thể tự do hành động, ngày 24/3/1933 Nhật Bản tuyên bố rút khỏi Hội Quốc liên. Hành động của Nhật đã phá tan nguyên trạng ở Đông Á do Hiệp ước Oa-sinh-tơn năm 1922 qui định, đánh dấu sự tan vỡ bước đầu của Hệ thống Vécxai - Oasinhtơn. Không dừng lại ở đó, năm 1937 Nhật bắt đầu mở rộng chiến tranh trên toàn lãnh thổ Trung Quốc. b) Sự hình thành lò lửa chiến tranh nguy hiểm nhất ở châu Âu 4 Trong lúc đó, lò lửa chiến tranh thế giới nguy hiểm nhất đã xuất hiện ở châu Âu với việc Hít-le lên cầm quyền ở Đức tháng 1/1933. Có thể nói, lực lượng quân phiệt Đức đã nuôi chí phục thù ngay từ sau khi nước Đức bại trận và phải chấp nhận hoà ước Véc-xai. Đảng Quốc xã được coi là lực lượng thực tế có thể đáp ứng được nhu cầu thành lập một chính quyền ''mạnh'', một nền chuyên chính dân tộc chủ nghĩa cực đoan đã trở thành nhu cầu cấp thiết của giới quân phiệt ở Đức và Hít-le được coi là “người hùng” có thể ngăn chặn được “tình trạng hỗn loạn và chủ nghĩa bônsêvích”. Ngày 30/1/1933 Tổng thống Hin-đen-bua đã cử Hít-le, lãnh tụ của Đảng Quốc xã làm Thủ tướng, mở đầu một thời kỳ đen tối trong lịch sử nước Đức. Việc Hít-le lên cầm quyền không chỉ là một sự kiện thuần tuý của nước Đức, mà còn “đánh dấu một bước ngoặt quyết định trong lịch sử quan hệ quốc tế”. Bởi lẽ, “đối mặt với Hít-le , chủ nghĩa “xoa dịu” của Anh, sự trì trệ của Pháp và chủ nghĩa trung lập của Mỹ là những hiện tượng tiêu biểu nhất của thời kỳ tiếp theo”. Từ đây Hít-le thực hiện dần từng bước việc thanh toán hệ thống Véc-xai và chuẩn bị chiến tranh thế giới mới nhằm thiết lập quyền thống trị thế giới. Bước đầu tiên trong kế hoạch của Hít-le là chinh phục châu Âu, trong đó chủ yếu là chiếm đoạt các vùng lãnh thổ ở phía đông châu Âu, trước hết là Nga và các vùng phụ cận Nga. Tuy nhiên, Hít-le cũng không loại trừ một cuộc chiến tranh với phương Tây để xâm chiếm lãnh thổ phía tây mà trong đó nước Pháp được coi là “kẻ thù truyền thống”. Hít-le còn đề ra kế hoạch Âu - Á (Eurasia) và Âu - Phi nhằm xâm chiếm lãnh thổ của các nước châu Phi, châu á và châu Mĩ. Việc làm đầu tiên của Hít-le sau khi lên nắm quyền là tái vũ trang nước Đức và thoát khỏi những ràng buộc quốc tế để chuẩn bị cho những hành động xâm lược. Tháng 10/1933 Chính phủ Đức quốc xã đã rời bỏ Hội nghị giải trừ quân bị ở Giơ-ne-47vơ và sau đó tuyên bố rút khỏi Hội Quốc liên. Ngày 16/3/1935, Hítle công khai vi phạm Hoà ước Véc-xai, công bố đạo luật cưỡng bức tòng quân, thành lập 36 sư đoàn. Ngày 18/6/1935 Đức kí với Anh Hiệp định về hải quân, hiệp định này trực tiếp vi phạm Hiệp ước Véc-xai và tăng cường sức mạnh quân sự của nước Đức. Đồng thời, Hít-le tìm cách bí mật thủ tiêu các chính khách phương Tây cản trở kế hoạch xâm lược của mình. Không dừng lại ở đó, ngày 7/3/1936 Hít-le ra lệnh tái chiếm vùng Rê-na-ni, công khai xé bỏ Hoà ước Vécxai, Hiệp ước Lô-các-nô và tiến sát biên giới nước Pháp. Lò lửa chiến tranh nguy hiểm nhất đã xuất hiện ở châu Âu. c) Lò lửa chiến tranh thứ hai ở châu âu Mặc dù là nước thắng trận nhưng Italia không thoả mãn với việc phân chia thế giới theo Hoà ước Véc-xai. Tham vọng của nước này là muốn mở rộng ảnh 5 hưởng ở vùng Ban căng, chiếm đoạt các thuộc địa ở châu Phi, làm chủ vùng biển Địa Trung Hải... Để thoát ra khỏi cuộc đại khủng hoảng kinh tế 1929 – 1933 và xem xét lại Hệ thống Vécxai - Oasinhtơn có lợi cho mình, giới cầm quyền phát xít ở Italia chủ trương quân sự hoá nền kinh tế, tăng cường chạy đua vũ trang và thực hiện chính sách bành trướng xâm lược ra bên ngoài. Thất bại trong việc ký kết Hiệp ước tay tư (Italia - Anh - Đức - Pháp) nhằm xem xét lại đường biên giới đã qui định ở châu Âu trong khuôn khổ Hệ thống hoà ước Véc-xai tháng 6/1933, từ năm 1934 Mutxôlini ráo riết chuẩn bị kế hoạch xâm lược, thi hành đạo luật quân sự hoá đất nước. Do mẫu thuẫn với Hội Quốc liên (đứng đầu là Anh, Pháp) đã khiến Mútxô-li-ni rời bỏ liên minh Anh, Pháp, xích lại gần hơn với nước Đức phát xít. Trong khi đó, sự bất lực của Hội Quốc liên cùng với thái độ và hành động thoả hiệp của các nước Anh, Pháp, Mỹ đã khuyến khích hành động xâm lược của phát xít Italia. Sau khi chiếm được Êtiôpia, Italia đã ký với Đức Nghị định thư tháng 10/1936, đánh dấu sự hình thành trục Beclin - Rôma. Bắt đầu từ đây, Đức và Italia tìm cách phối hợp và củng cố liên minh trong cuộc đối đầu với Liên Xô cũng như các đối thủ khác ở châu Âu. Cả hai nước đều đưa quân đội can thiệp trực tiếp và công nhận chính quyền phát xít Phrancô trong cuộc nội chiến ở Tây Ban Nha (1936 – 1939). Hai lò lửa chiến tranh hình thành ở châu Âu bắt đầu có mối liên hệ với lò lửa chiến tranh ở Viễn Đông. Ngày 25/11/1936, Đức và Nhật đã kí kết “Hiệp ước chống Quốc tế cộng sản” với những cam kết phối hợp các hoạt động chính trị đối ngoại và các biện pháp cần thiết để chống Liên Xô và Quốc tế cộng sản, đồng thời còn nhằm chống cả Anh, Pháp và Mĩ. Italia tham gia Hiệp ước này ngày 6/10/ 1937. Sự kiện đó đánh dấu Trục phát xít Béclin - Rôma - Tôkiô chính thức hình thành. Việc Italia rút ra khỏi Hội Quốc Liên ngày 3/12/1937 đã hoàn tất quá trình chuẩn bị để các nước khối Trục được tự do hành động, thực hiện kế hoạch gây chiến tranh bành trướng lãnh thổ của mình. 2. Vì sao các hoạt động xâm lược của Đức, Italia và Nhật không bị ngăn chặn? + Hoa Kì là một nước giàu mạnh nhất, song lại theo “chủ nghĩa biệt lập” ở Tây bán cầu không tham gia Hội Quốc liên và không can thiệp vào các sự kiện bên ngoài. + Liên Xô coi chủ nghĩa phát xít là kẻ thù nguye hiểm nhất, nên đã chủ trương hợp tác với các nước tư bản dân chủ để chống lại phát xít và nguy cơ chiến tranh. + Anh và Pháp cũng lo sợ sự bành trướng của chủ nghĩa phát xít, đồng thời vẫn căm ghét chủ nghĩa cộng sản. Vì thế, họ không liên kết chặt chẽ với Liên Xô để cùng chống phát xít, mà thực hiện “chính sách nhượng phát xít” để đổi lấy hoà bình. 6 Câu 6. Bằng những sự kiện lịch sử có chọn lọc, hãy phân tích con đường dẫn đến chiến tranh thế giới thứ hai (1939 – 1945). - Vào cuối những năm 30 quan hệ quốc tế trở nên vô cùng phức tạp và căng thẳng. Sự chuyển hoá mâu thuẫn giữa các cường quốc tư bản chủ nghĩa đã dẫn tới sự hình thành hai khối đế quốc đối địch nhau: một là, khối Trục phát xít do Đức, Italia, Nhật Bản cầm đầu ; hai là, khối đế quốc do Anh, Pháp, Mĩ cầm đầu. Trong khi khối Trục phát xít đã ráo riết chuẩn bị cho kế hoạch chiến tranh từ đầu những năm 30 thì khối đế quốc Anh, Pháp, Mĩ bắt đầu quá trình này vào những năm cuối của thập niên 30. - Hai khối đế quốc mâu thuẫn gay gắt với nhau về vấn đề thị trường và quyền lợi nhưng đều thống nhất với nhau trong mục đích chống Liên Xô. Điều đó được thể hiện trong chính sách thoả hiệp, dung túng của các cường quốc tư bản với chủ nghĩa phát xít nhằm chống Liên Xô và đè bẹp phong trào cách mạng thế giới, thông qua cuộc chiến tranh Tây Ban Nha (1936 – 1939) và Hội nghị Muy-ních (1938). a) Cuộc chiến tranh Tây Ban Nha + Cuộc chiến tranh Tây Ban Nha, bùng nổ ngày 17/7/1936, về hình thức là cuộc nội chiến giữa Chính phủ cộng hoà Tây Ban Nha với lực lượng phát xít Phrancô, nhưng về thực chất là một cuộc khủng hoảng mang tính quốc tế. Vấn đề không chỉ giới hạn trong nội bộ nền chính trị Tây Ban Nha. Đức và Italia đã trực tiếp can thiệp, đứng về phía phát xít Phrancô chống lại Chính phủ Cộng hoà với mưu đồ biến Tây Ban Nha thành một bàn đạp chiến lược cho kế hoạch bành trướng của mình ở châu Âu, châu Phi, châu Á và Đại Tây Dương. + Các nước Anh, Pháp, Mĩ thực hiện chính sách “không can thiệp”, về thực chất là hành động thoả hiệp với các lực lượng phát xít chống nước Cộng hoà Tây Ban Nha, đến cuối cùng công khai ủng hộ quân phiến loạn Phrancô, lực lượng đã chiếm ưu thế rõ rệt ở Tây Ban Nha vào năm 1939. + Ngày 28/3/1939, lực lượng Phrancô với sự hỗ trợ của quân đội Italia đã chiếm thủ đô Mađrít. Sự sụp đổ của nền Cộng hoà Tây Ban Nha cho thấy mối đe doạ đối với nền hoà bình ở châu Âu ngày càng trở nên trầm trọng hơn. b) Hội nghị Muy-ních (9/1938) - Hoàn cảnh triệu tập: + Đến năm 1938 nước Đức phát xít về căn bản đã hoàn tất việc chuẩn bị chiến tranh. Lúc này nước Đức không chỉ phục hồi mà đã trở thành một cường quốc công nghiệp đứng đầu châu Âu, đồng thời còn là một cường quốc quân sự. + Tháng 3/1938, Đức thôn tính Áo. Sau đó Hít-le gây ra vụ Xuy-đét nhằm thôn tính Tiệp Khắc. + Liên Xô kiên quyết giúp Tiệp Khắc chống xâm lược. 7 + Anh - Pháp tiếp tục thoả hiệp, yêu cầu chính phủ Tiệp Khắc nhượng bộ Đức., Hội nghị Muy-ních được triệu tập gồm đại diện 4 nước Anh, Pháp, Đức , I-ta-li-a. - Do đó, Ngày 29/9/1938, những người đứng đầu các chính phủ Anh, Pháp, Đức và Italia đã tham dự Hội nghị Muy-ních (Đức) để quyết định số phận của Tiệp Khắc. Đại biểu Tiệp Khắc không được mời tham dự, chỉ được triệu tập đến để nghe kết quả.  Hiệp ước Muy-ních qui định Tiệp Khắc phải cắt toàn bộ vùng Xuy-đét (trong vòng 10 ngày) cho Đức và phải cắt cho Ba Lan, Hunggari những vùng lãnh thổ đã được xác định trước đó (trong thời hạn 3 tháng).  Trước áp lực của Anh và Pháp, chính phủ Tiệp Khắc chấp nhận Hiệp ước Muy-ních, theo đó, Tiệp Khắc mất đi khoảng 1/4 dân số, 1/5 lãnh thổ với nhiều công trình quân sự quan trọng. Để đổi lại, Hít-le đã kí với Anh bản Tuyên bố không xâm lược lẫn nhau giữa Đức và Anh. - Sau đó, ngày 6/12/1938, Hiệp định không xâm lược Pháp – Đức cũng được kí kết tại Pa-ri. - Ý nghĩa: + Hội nghị Muy-ních là đỉnh cao của chính sách dung túng nhượng bộ khối phát xít của Mĩ-Anh-Pháp. + Thể hiện âm mưu thống nhất của chủ nghĩa đế quốc (kể cả Anh - Pháp Mĩ và Đức - Italia - Nhật Bản) trong việc tiêu diệt Liên Xô “Chính sách Muy-ních” đã dẫn đến những hậu quả rất nặng nề đối với chính bản thân hai nước Anh và Pháp. Sự thoả hiệp đầu hàng của các nước này chỉ càng làm cho nước Đức phát xít đi xa hơn nữa trong chính sách mở rộng chiến tranh. + Ngày 15/3/1939, Hít-le công khai xé bỏ Hiệp ước Muy-ních chiếm đóng toàn bộ lãnh thổ Tiệp Khắc. Sau đó một tuần, Hít-le đưa ra yêu sách đòi Ba Lan phải trao thành phố cảng Đăng dích cho Đức. Một ngày sau quân đội Đức tràn vào chiếm vùng lãnh thổ Mê-men của Litva. Đồng thời, kế hoạch xâm lược Ba Lan cũng được chuẩn bị ráo riết. Trong lúc này phát xít Italia cũng tăng cường hành động. Tháng 4/1939 Mút-xô-li-ni cho quân xâm lược Anbani. Như vậy trong quan hệ quốc tế đã diễn ra cuộc đấu tranh ngày càng căng thẳng và chằng chéo giữa ba lực lượng : Liên Xô, Khối Trục phát xít và Khối đế quốc Anh, Pháp, Mĩ. Các cuộc chiến tranh cục bộ đã lan tràn khắp từ Âu sang á, từ Thượng Hải đến Gibranta. Chiến tranh thế giới ngày càng trở nên khó tránh khỏi. 8 Câu 11. Trật tự thế giới mới được thiết lập sau Chiến tranh thế giới lần thứ nhất (1914 – 1918) như thế nào ? Trật tự thế giới mới sau Chiến tranh thế giới thứ nhất (1914 – 1918) là trật tự được hình thành sau Hoà ước Vécxai – Oasinhtơn. a. Hội nghị Véc-xai. - Sau khi chiến tranh thế giới thứ nhất kết thúc, để lập lại hoà bình và trật tự thế giới mới, các nước thắng trận đã triệu tập tập “Hội nghị hoà bình” ở Vécxai (Pháp) vào ngày 18/1/1919; với sự tham dự của 27 nước, dưới sự chủ trì của Mĩ, Anh, Pháp. Thực chất của Hội nghị Véc-xai là sự phân chia thành quả của các nước thắng trận trong Chiến tranh thế giới thứ nhất, ngoài ra Hội nghị còn mục đích khác, đó là tập lực lượng để chống lại cách mạng Nga, Hungari và nhiều nước khác. Hội nghị đã quyết định các vấn đề sau :  Nhanh chóng kết thúc chiến tranh ở châu Âu, châu Á – Thái Bình Dương.  Thành lập một trật tự thế giới mới sau chiến tranh.  Ký Hoà ước với các nước bại trận. - Nội dung của Hội nghị Véc-xai bao gồm một loạt hoà ước ký với Đức và đồng minh của Đức, nghị quyết thành lập Hội Quốc liên. Hoà ước với Đức là quan trọng nhất, ký vào ngày 26/8/1919, tại “Phòng Gương” trong cung điện Véc-xai. Pháp được nhận lại hai vùng Andát, Loren và vùng than Xarơ. Đức thừa nhận Ba Lan độc lập, trả lại Ba Lan vùng đất bị Phổ chiếm đóng trước đây. Ba Lan có đường ra biển Ban Tích. Đức bị tước bỏ các thuộc địa và bồi thường 132 tỷ Mác vàng tiền chiến phí, luật nghĩa vụ quân sự bị loại bỏ, cấm Đức phát triển tàu ngầm, tuầu chiến, xe tăng và không quân. Vùng sông Ranh và khu vực rộng 50 km bên phải sông Ranh được tuyên bố là vùng phi quân sự. - Tuy nhiên, Hoà ước Véc-xai lại không đụng chạm đến cơ sở trọng yếu của chủ nghĩa đế quốc Đức, công nghiệp quân sự Đức không bị phá huỷ mà chỉ bị hạn chế. Trong khi thảo luận các điều khoản quân sự của hoà ước, Tổng thống Mỹ Uyn-xtơn đã tuyên bố lực lượng quân sự cần thiết để “duy trì trật tự trong nước và đàn áp chủ nghĩa Bônsêvích”. Số quân Đức 100 nghìn được tuyển lựa dựa trên cơ sở tự nguyện. Như vật các nhà hoạch định Hoà ước Vécxai đã tạo ra những điều kiện thuận lợi để phục hồi chủ nghĩa quân phiệt Đức nhằm chống lại Liên Xô và phong trào cách mạng thế giới. - Có thế thấy, nền hoà bình tuy được lập lại, thế nhưng mang trong lòng nó mầm mống một cuộc chiến tranh mới, vì mâu thuẫn giữa các nước thắng trận với nhau, nổi bật là mâu thuẫn giữa Đức với Mĩ, Anh, Pháp. Như vậy, sau Hoà ước Véc-xai, các nước Anh – Pháp được quá nhiều quyền lợi. Trong khi đó, Hoà ước Véc-xai đẩy nước Đức vào “cảnh nô lệ mà 9 người ta chưa từng nghe, chưa từng thấy” (Lê-nin). Các thế lực quân phiệt là giai cấp tư sản Đức coi Hoà ước Véc-xai là một “quốc sĩ”, một hoà ước “Vécxai nhục nhã”, cần phải phục thù. Do đó, sau Hoà ước Véc-xai, mâu thuẫn được hình thành với các nước Anh, Pháp và Đức. Sự ra đời của Hội Quốc liên là công cụ bảo vệ quyền lợi của các nước thắng trận. b. Hội nghị Oa-sinh-tơn và các Hiệp ước Oa-sinh-tơn (1921 – 1922). - Hội nghị Véc-xai không thoả mãn yêu cần của Mĩ, mong muốn đứng đầu thế giới. Do đó Mỹ kí hiệp ước riêng với Đức (8 – 1921) và tổ chức hội nghị quốc tế ở thủ đô Oa-sinh-tơn (từ 11 – 1921 đến 2 – 1922) với sự tham gia của các nước : Mỹ, Anh, Pháp, Italia, Bỉ, Hà Lan, Bồ Đào Nha, Nhật Bản , Trung Quốc, Hội nghị đã kí kết các hiệp ước tôn trọng quyền của nước Mỹ, Anh, Pháp, Nhật về thuộc địa của nhau, hạn chế lực lượng hải quân, Mỹ có quyền phát triển hải quân ngang Anh, cam kết tôn trọng độc lập chủ quyền của Trung Quốc và Trung Quốc “mở của cho các nước. - Hội nghị Oa-sinh-tơn là thắng lợi ngoại giao của Mỹ, tạo điều kiện cho Mỹ đứng đầu thế giới tư bản và xâm nhập vào Trung Quốc mạnh hơn. Tóm lại, các Hiệp ước Oa-sinh-tơn cùng với hệ thống Hoà ước Véc-xai hình thành “Hệ thống Vécxai – Oasinhtơn”, hoàn thành việc phân chia thế giới mới, thiết lập một trật tự thế giới sau chiến tranh. Trật tự thế giới nàu hoàn toàn phục vụ quyền lợi của giai cấp thống trị các nước đế quốc và cũng gây nên mâu thuẫn giữa các nước đế quốc thắng trận và bại trận, nhằm tập hợp lực lượng chống chủ nghĩa xã hội. + Nhật Bản, Italia là hai nước thắng trận nhưng cũng bất mãn với hệ thống Véc-xai. Những tham vọng về về quyền lợi của Nhật ở Viễn Đông, ở Trung Hoa; của Ý ở Địa Trung Hải, ở bán đảo Ban-căng không được thoả mãn. Say khi Trật tự Oa-sinh-tơn ra đời, bổ sung cho hệ thống Véc-xai, sự bất mãn của Nhật, Ý càng tăng lên. + Hậu quả của khủng hoảng kinh tế thế giới làm cho 3 nước Đức, Italia , Nhật là những nước bất mãn với hệ thống Véc-xai, nhanh chóng đi vào con đường phát xít hoá, gây chiến tranh, chia lại thế giới. Ngày 1/9/1939, Đức tấn công Ba Lan. Ngày 3/9, Pháp tuyên chiến với Đức. Chiến tranh thế giới thứ hai bùng nổ. + Như vậy, từ năm 1919 nền hoà bình được lập lại, thế nhưng thực chất đó là thời kì hưu chiến, đủ để các nước Đức – Italia – Nhật chuẩn bị lực lượng, đưa loài người vào cuộc chiến tranh mới. Câu 12. Đánh giá về nền hoà bình do Hội nghị Véc-xai đem lại, Nguyên soái Phéc-đi-năng Phốc (Foch) – nguyên Tổng tư lệnh quân đội Đồng minh ở châu Âu đã nói : “Đây không phải là hoà bình. Đây là một cuộc hưu chiến trong 20 năm”. Tại sao nói như vậy ? 10 (Đề thi Olympic Truyền thống 30/4, khối 11, năm 2006) - Sau khi chiến tranh thế giới thứ nhất kết thúc, để lập lại hoà bình và trật tự thế giới mới, các nước thắng trận đã triệu tập Hội nghị Véc-xai vào ngày 18/1/1919; với sự tham dự của 27 nước, dưới sự chủ trì của Mĩ, Anh, Pháp. - Tại hội nghị, các hoà ước đã được kí kết, tạo ra hệ thống Hoà ước Vécxai, trong đó quan trọng nhất là Hoà ước Véc-xai được kí với Đức. Ngoài ra còn các hoà ước kí với Áo, Hung, Thổ Nhĩ Kì... - Hoà bình được lập lại, mang trong lòng nó mầm mống một cuộc chiến tranh mới, vì mâu thuẫn giữa các nước thắng trận với nhau, nổi bật là mâu thuẫn giữa Đức với Mĩ, Anh, Pháp. - Với Hoà ước Véc-xai, Đức phải chịu tổn thất rất lớn : mất 1/8 đất đai, trong đó trả Andát, Loren cho Pháp, cắt đất cho Ba Lan, Bỉ, Đan Mạch...bồi thường chiến phí chiến tranh nặng nề... - Hoà ước Véc-xai đẩy nước Đức vào “cảnh nô lệ mà người ta chưa từng nghe, chưa từng thấy” (Lênin). Các thế lực quân phiệt là giai cấp tư sản Đức coi Hoà ước Véc-xai là một “quốc sĩ”, một hoà ước “Véc-xai nhục nhã”, cần phải phục thù. Mầm mống một cuộc chiến tranh mới vẫn còn tồn tại. - Nhật Bản, Italia là hai nước thắng trận nhưng cũng bất mãn với hệ thống Véc-xai. Những tham vọng về về quyền lợi của Nhật ở Viễn Đông, ở Trung Hoa; của Italia ở Địa Trung Hải, ở bán đảo Bancăng không được thoả mãn. Sau khi Trật tự Oa-sinh-tơn ra đời, bổ sung cho hệ thống Véc-xai, sự bất mãn của Nhật, Italia càng tăng lên. - Hậu quả của khủng hoảng kinh tế thế giới làm cho 3 nước Đức, Italia, Nhật là những nước bất mãn với hệ thống Véc-xai, nhanh chóng đi vào con đường phát xít hoá, gây chiến tranh, chia lại thế giới. - Ngày 1/9/1939, Đức tấn công Ba Lan. Ngày 3/9, Pháp tuyên chiến với Đức. Chiến tranh thế giới thứ hai bùng nổ. - Như vậy, từ năm 1919 nền hoà bình được lập lại, thế nhưng thực chất đó là thời kì hưu chiến, đủ để các nước Đức – Italia – Nhật chuẩn bị lực lượng, đưa loài người vào cuộc chiến tranh mới. Câu 13. Nêu đặc điểm của cuộc khủng hoảng kinh tế thế giới (1929 – 1933). Giải thích vì sao trong bối cảnh khủng hoảng đó, các nước Anh – Pháp – Mĩ vẫn giữ nguyên nền dân chủ tư sản, còn Đức – Italia – Nhật Bản lại thiết lập chế độ độc tài phát xít ? Điều đó đã tác động như thế nào đến quan hệ quốc tế? 1) Đặc điểm của cuộc khủng hoảng kinh tế thế giới (1929 – 1933) : - Kéo dài nhất (từ 1929 – 1933). - Tàn phá nặng nề nhất (có thể nêu một vài dẫn chứng cho thấy sự thiệt hại ở Mĩ, ở Bra-xin). 11 - Toàn diện nhất (diễn ra ở tất cả ngành kinh tế). - Phạm vi rộng lớn : ở hầu hết các nước tư bản. - Gây nên những hậu quả chính trị - xã hội tai hại nhất. 2) Vì sao trong bối cảnh khủng hoảng đó, các nước Anh – Pháp – Mĩ vẫn giữ nguyên nền dân chủ tư sản, còn Đức – Italia – Nhật Bản lại thiết lập chế độ độc tài phát xít ? * Để đối phó lại cuộc khủng hoảng kinh tế và đàn áp phong trào cách mạng, ngoài những chính sách và biện pháp về kinh tế thông thường ra, giai cấp tư sản cầm quyền ở các nước tư bản đã lựa chọn 2 lối thoát : Đức – Italia – Nhật Bản - Ít thuộc địa, nghèo tài nguyên, thị trường tiêu thụ hẹp Khả năng chống đỡ khủng hoảng kém. - Không thoả mãn với hệ thống VécxaiOasinhtơn. - Truyền thống quân phiệt nặng nề. Do vậy, Đức – Italia – Nhật Bản chọn con đường phá vỡ nền dân chủ tư sản, thiết lập nền độc tài phát xít. Anh – Pháp – Mĩ - Nhiều thuộc địa, giàu tài nguyên, thị trường tiêu thụ lớn. Khả năng chống đỡ khủng hoảng cao. - Thoả mãn với hệ thống VécxaiOasinhtơn. - Truyền thống dân chủ tư sản sâu sắc. Do vậy, Anh – Pháp – Mĩ chọn con đường giữ nguyên nền dân chủ tư sản, tiến hành cải cách kinh tế - xã hội, ôn hoà để thoát khỏi khủng hoảng. 5. Tài liệu tham khảo 1. Nguyễn Anh Thái (chủ biên) (2005), Lịch sử thế giới cận đại, Nxb Giáo dục. 2. Hội các trường THPT chuyên khu vực Duyên hải và đồng bằng Bắc bộ (2010), Kỉ yếu khoa học lần thứ 3 môn Lịch sử. 3. Hội các trường THPT chuyên khu vực Duyên hải và đồng bằng Bắc bộ (2014), Tài liệu hội thảo khoa học môn Lịch sử lần thứ VII. 12
- Xem thêm -