Tài liệu “quan hệ quốc tế giữa hai cuộc chiến tranh thế giới (1919 – 1939)”

  • Số trang: 24 |
  • Loại file: DOC |
  • Lượt xem: 1995 |
  • Lượt tải: 0

Mô tả:

“Quan hệ quốc tế giữa hai cuộc chiến tranh thế giới (1919 – 1939)” MỞ ĐẦU 1. Lí do chọn đề tài Dạy học theo chuyên đề chuyên sâu là một cách thức hữu hiệu trong việc giảng dạy cácmôn chuyên, nhất là với bộ môn Lịch sử. Bởi vì việc dạy học theo chuyên đề không chỉ giúp học sinh củng cố vững chắc những nội dung kiến thức theo chuẩnmà còn thông hiểu những nội dung đó theo vấn đề chuyên sâu, đồng thời rèn luyện các kĩ năng cần thiết khi giải quyết các vấn đề khó, các bài tập đòi hỏi tư duy sâu trong chương trình. Từ đó, quá trình học tập của học sinh sẽ trở thành quá trình chủ động, tích cực học tập, tiến dần lên quá trình tự nghiên cứu khoa học. Hệ thống chuyên đề trong giảng dạy chuyên môn Lịch sử thường được các giáo viên xây dựng thành hai mảng: Chuyên đề Lịch sử thế giới và Chuyên đề Lịch sử Việt Nam. Song số lượng, nội dung các chuyên đề như thế nào, chất lượng ra sao đều chưa được xây dựng hay quy định theo những tiêu chuẩn chung nhất định mà hầu hết đều do các giáo viên hoặc tổ bộ môn tại các trường THPT Chuyên của các tỉnh trực tiếp và tự lực xây dựng theo vốn kiến thức cũng như kinh nghiệm đứng lớp, lãnh đội của mình. Đồng thời, theo nhậnđịnh của tôi, do cấu trúc đề thi, tỉ lệ điểm trong đề thi cũng như do quỹ thời gian, nguồn tư liệu hạn chế, nội dung phức tạp mà hầu hết các chuyên đề Lịch sử thế giới chưa được đầu tư kĩ lưỡng và xứng tầm. “Quan hệ quốc tế giữa hai cuộc chiến tranh thế giới (1919 – 1939)” là một chuyên đề trong phần Lịch sử thế giới. Đây cũng là một nội dung quan trọng trong tiến trình Lịch sử thế giới nhưng lại bao gồm nhiều kiến thức khó và có mối liên quan chặt chẽ, logic, có tác động tới các sựkiện, vấn đề lịch sử khác trong chương trình Lịch sử thế giới cũng như Lịch sử Việt Nam. Hơn thế nữa, nội dung chuyên đề được sách giáo khoa phản ánh ở chương trình lớp 11 nên khi quay lại nội dung Lịch sử thế giới lớp 12 học sinh khó có sự tiếp nhận kiến thức được liền mạch nếu không có phương pháp học tập tốt. Và trong các đề thi đại học cũng như thi “Quan hệ quốc tế giữa hai cuộc chiến tranh thế giới (1919 – 1939)” Olimpic, thi học sinh giỏi các cấp của các tỉnh thành cũng như ở cấp quốc gia, tần suất xuất hiện của các câu hỏi trong phạm vi nội dung lịch sử này cũngkhá thường xuyên. Từ thực trạng trên, tôi nhận thấy việc tổ chức các kì hội thảo của các trường THPT Chuyên khu vực Duyên hải và Đồng bằng Bắc Bộ là hết sức thiết thực nhằm thảo luận, trao đổi kinh nghiệm dạy và học để có được những phương thức tối ưu nhất, hiệu quả nhất trong công tác đào tạo nhân tài đáp ứng yêu cầu phát triển của đất nước. Vì vậy, tôi mạnh dạn trình bày một vài suy nghĩ của mình khigiảng dạy chuyên đề “Quan hệ quốc tế giữa hai cuộc chiến tranh thế giới (1919 – 1939)” để tham gia Hội thảo. 2. Mục đích của đề tài - Góp phần giúp học sinh ôn tập, củng cố vững chắc mảng kiến thức quan hệ quốc tế giai đoạn 1919 – 1939 trong chương trình Lịch sử thế giới. Từ đó, thông hiểu và vận dụng để nắm một số nội dung chuyên sâu mang tính bổ dọc, khái quát vấn đề; đồng thời có được cách đánh giá, nhìn nhận tác động trở lại đối với một số vấn đề lịch sử liên quan trong cùng giai đoạn hay các giai đoạn trước đó và kế tiếp. Do đó, học sinh sẽ nắm vững, hiểu sâu, nhớ lâu cũng như có thể vận dụng linh hoạt hệ thống kiến thức đã học để thực hành các dạng bài tập nâng cao. - Rèn luyện một số kĩ năng học và làm bài thi học sinh giỏi để đạt kết quả cao như kĩ năng hệ thống hóa kiến thức theo sơ đồ, bảng biểu; kĩ năng so sánh, phân tích, tổng hợp các sự kiện, hiện tượng lịch sử… - Trao đổi và chia sẻ với các đồng nghiệp ở các trường bạn chút kinh nghiệm ít ỏi của tổ Lịch sử trường chúng tôi về việc lựa chọn nội dung và phương pháp bồi dưỡng đội tuyển học sinh giỏi khi giảng dạy chuyên đề lịch sử này. “Quan hệ quốc tế giữa hai cuộc chiến tranh thế giới (1919 – 1939)” NỘI DUNG PHẦN I: LỰA CHỌN NỘI DUNG DẠY Căn cứ lựa chọn: - Đối tượng học là các học sinh của đội tuyển HSG các cấp đã vượt qua các vòng thi tuyển lựa, đã được cung cấp hệ thống kiến thức nền cơ bản theo chuẩn kiến thức khá vững chắc và có ít nhiều kĩ năng học tập, làm bài tập lịch sử vững vàng. - Nội dung chuyên đề bao gồm nhiều vấn đề phức tạp nhưng lại được phản ánh qua một giai đoạn lịch sử tương đối ngắn (hai thập kỉ) và chương trình học chính khóa được phản ánh trong sách giáo khoa chỉ đề cập những vấn đề cơ bản nhất. - Tần suất xuất hiện các câu hỏi yêu cầu huy động nội dung kiến thức trong chuyên đề để giải quyết. - Trong phạm vi và yêu cầu của một chuyên đề tham dự Hội thảo Tôi lựa chọn ba nội dung dạy chuyên sâu như sau: Vấn đề 1: Sự hình thành trật tự thế giới Vécxai – Oasinhtơn I. Bối cảnh lịch sử - Sự ra đời của nước Nga Xô Viết 1917 - nhà nước XHCN đầu tiên trên thế giới - đánh dấu CNTB không còn là hệ thống duy nhất trên thế giới, đồng thời làm xuất hiện mâu thuẫn mới giữa CNTB và CNXH. - Sự phát triển của phong trào cách mạng thế giới 1918 – 1923, đặc biệt ở châu Âu khiến cho CNTB tìm mọi cách đàn áp phong trào. “Quan hệ quốc tế giữa hai cuộc chiến tranh thế giới (1919 – 1939)” - Sự thay đổi tương quan lực lượng giữa các nước đế quốc sau khi chiến tranh thế giới thứ nhất kết thúc: Do bị tàn phá nghiêm trọng sau chiến tranh, châu Âu bị mất đi vị trí trung tâm, bá chủ thế giới của châu Âu và chia thành 2 khối: + Khối các nước thắng trận (Anh - Pháp - Ý) cũng bị suy yếu. + Khối các nước bại trận ( Đức- Áo - Hung) suy sụp nghiêm trọng. Nhật, Mỹ là 2 nước ngoài châu Âu phát triển mạnh II. Sự thiết lập:Trật tự Véc xai –Oasinhtơn là trật tự có qui mô toàn thế giới đầu tiên, được thiết lập từ sau Chiến tranh I đến trước Chiến tranh II trên cơ sở các văn kiện được các nước kí kết tại hai hội nghị Véc-xai 1919-1920 và Oasinhtơn 1921-1922. 1.Hội nghị Véc-xai (1919 – 1920):Tham gia có 27 nước: 5 nước lớn chi phối hội nghị (Anh, Pháp, Mĩ, Ý, Nhật), nhưng quyền quyết định nằm trong tay Mĩ, Anh, Pháp. Hội nghị tiến tới thành lập Hội Quốc Liên và kí một số hoà ước, lập lại trật tự ở châu Âu. Thường được gọi là Hệ thống hoà ước Vecxai, gồm có: + Hoà ước Vécxai với Đức (28.6.1919):Với hoà ước này Đức phải bồi thường 132 tỉ mác vàng, bị mất 1/8 đất đai, gần 1/2 dân số, gần 1/3 mỏ sắt, gần 1/3 mỏ than, 2/5 sản lượng gang, gần 1/3 sản lượng thép, gần 1/7 diện tích trồng trọt. =>Đặt nước Đức vào "cảnh nô lệ mà người ta chưa từng nghe thấy, chưa từng trông thấy" (Lênin) + Hoà ước Xanhgiécmanh với Áo (10.9.1919)vàhoà ước Trianông với Hunggari (4.6.1920): Đế quốc Áo – Hung tan rã thành lập 2 nước nhỏ Áo và Hungari đồng thời trên lãnh thổ của đế quốc Áo - Hung cũ thành lập 2 quốc gia mới là Tiệp Khắc và Nam Tư. Một số nước được mở rộng thêm đất đai từ lãnh thổ của đế quốc Áo Hung như Rumani, Italia, Ba Lan. + Hoà ước Nơiy với Bungari (27.11.1919): Lãnh thổ Bungari bị thu hẹp lại so với trước kia: . Phải cắt một số đất đai ở biên giới phía Tây cho Nam Tư. “Quan hệ quốc tế giữa hai cuộc chiến tranh thế giới (1919 – 1939)” . Cắt cho Hi Lạp vùng Thơrakia nên mất đường ra biển Êgiê. . Cắt cho Rumani tỉnh Đôbơrutgia . Bồi thường chiến phí: 2,25 tỷ Phrăng. + Hoà ước Xevơrơ với Thổ Nhĩ Kì (10.8.1920): xoá bỏ sự tồn tại của đế quốc Ốttôman. Xiri, Li băng, Palextin, Irắc tách khỏi Thổ Nhĩ Kì và đặt dưới chế độ uỷ trị của Hội Quốc Liên (thực tế thuộc quyền bảo hộ của Anh, Pháp). Ai Cập trở thành vương quốc riêng đặt dưới sự kiểm soát của một uỷ ban quốc tế của Đồng minh. Bán đảo Arập được coi là phạm vi thế lực của Anh. Các eo biển của Thổ Nhĩ Kì đặt dưới sự kiểm soát của uỷ ban: Anh - Pháp– Ý Hệ thống hòa ước Vécxai đã tạo ra một trật tự mới ở châu Âu như Lênin ð bình luận: “Đấy là một thứ hòa ước kì quái, một thứ hòa ước ăn cướp, nó đẩy hàng chục triệu con người, trong đó có những con người văn minh nhất, rơi vào tình cảnh bị nô dịch. Đấy là điều kiện mà bọn ăn cướp tay cầm dao, buộc một nạn nhân không có gì tự vệ phải chấp nhận". 2.Hội nghị Oasinhtơn (1921 – 1922): Sau khi Hội nghị Vécxai kết thúc, Mĩ triệu tập Hội nghị Oasinhtơn do không thoả mãn với những điều khoản của Hệ thống Vécxai. Mĩ mâu thuẫn với một số nước đế quốc lớn như Anh, Nhật, Pháp về quyền lợi. Ngoài ra, mục đích của Mĩ còn nhằm củng cố vị trí của mình trên thế giới và khu vực Thái Bình Dương trên cơ sở làm thiệt hại những quyền lợi của các địch thủ khác, trước hết là của Anh và Nhật. Những quyết định của Hội nghị Oasinhtơnthể hiện trong 3 bản hiệp ước. + Hiệp ước 4 nước: Mĩ- Anh - Pháp– Nhật: Là sự xác nhận trật tự thế giới đã được phân chia ở Hội nghị Vécxai. Các nước đế quốc phải công nhận thực trạng ở châu Âu. + Hiệp ước 9 nước: Mĩ + 8 nước trong Hội nghị Oasinhtơn.Nội dung xoay quanh vấn đề Trung Quốc, thực chất là tìm cách mở rộng thế lực của mình vào quốc gia này bằng chính sách mở cửa.. “Quan hệ quốc tế giữa hai cuộc chiến tranh thế giới (1919 – 1939)” +Hiệp ước 5 nước: Mĩ - Anh– Nhật - Pháp – Ý. Nội dung chủ yếu xoay quanh vấn đề hạn chế lục quân và Hải quân, quy định tỷ lệ Hải quân 5 nước: M - A: 5; Nhật: 3; P - Y: 1,75 Mĩ được quyền công khai hợp pháp mở rộng lực lượng hải quân của mình, đạt được mức cân bằng với nước Anh; đồng thời Mĩ cũng kiềm chế được một đối thủ của mình ở châu Á – Thái Bình Dương là Nhật Bản, kìm chế được 2 nước châu Âu là Pháp - Ý về lực lượng Hải quân. Hệ thống hoà ước Oasinhtơn đem lại cho Mĩ quyền lợi lớn nhất: trở ð thành lực lượng đứng đầu thế giới về hải quân, có quyền tham gia vào hệ thống thuộc địa ở châu Á - TBD, làm thay đổi các điều khoản bất lợi cho Mĩ trong hệ thống hoà ước Véc xai. 3. Hội Quốc Liên:Chính thức thiết lập 10.1.1920 -Mục đích: Về danh nghĩa thành lập tổ chức nhằm "phát triển sự hợp tác, bảo đảm hoà bình và an ninh cho các dân tộc" =>Đánh dấu lần đầu tiên trong lịch sử xuất hiện một tổ chức quốc tế nhằm giữ gìn nền hoà bình thế giới và dung hoà quyền lợi của các nước đé quốc với nhau. -Tổ chức: +Gồm những nước sáng lập, những nước kí vào quy ước sáng lập, những nước hội viên được kết nạp nếu tán thành quy ước và được 2/3 Hội viên đồng ý. +Cơ quan lãnh đạo: Cơ quan chung: Đại hội đồng (đại biểu của tất cả các hội viên họp 1 lần vào tháng 9/ năm. Hội đồng thường trực (5 uỷ viên các cường quốc, một số hội viên do Đại hội đồng bầu 1 năm họp 3 lần . Ban thư kí thường trực: Hành chính. Cơ quan chuyên môn: Toà án quốc tế (Lahay) “Quan hệ quốc tế giữa hai cuộc chiến tranh thế giới (1919 – 1939)” Các cục quốc tế (cục Lao động ILO), tổ chức bảo vệ sức khoẻ (HO), tổ chức uỷ ban người tị nạn(HCR) + Nội dung hoạt động: Giám sát về việc tái giảm quân bị, tôn trọng và bảo vệ sự toàn vẹn lãnh thổ, độc lập chính trị hiện thời. Giải quyết những vấn đề tranh chấp quốc tế Tổ chức việc quản trị đỡ đầu cho những dân tộc mới được giải phóng bằng hình thức "uỷ nhiệm quyền" của Hội Quốc Liên.Nước nào vi phạm thì trừng phạt bằng những biện pháp tài chính và kinh tế hay bằng biện pháp quân sự. Hội Quốc Liên là tổ chức chính trị mang tính quốc tế đầu tiên, là bước ð phát triển mới của quan hệ quốc tế, có vai trò giám sát trật tự quốc tế mới, ngăn ngừa chiến tranh, bảo vệ hoà bình. Hạn chế: + Đây là tổ chức của các nước đế quốc chứ không phải của tất cả các dân tộc trên thế giới. Nó là công cụ của CNĐQ trong việc phân chia lại thế giới. + Nó không ngăn ngừa được chiến tranh và không bảo vệ được nền hoà bình thế giới + Không giải phóng được các dân tộc mà chỉ duy trì ách thực dân cũ bằng những hình thức mới như: "uỷ nhiệm quyền" hay "uỷ trị" + Những biện pháp trừng phạt chỉ có tính chất hình thức, không thực tế (vì quyền lợi của đế quốc xung đột, chồng chéo nhau) + Chính Mỹ đề ra Hội Quốc Liên nhưng lại không tham gia, quốc hội Mỹ không phê chuẩn cho Mỹ vì không đem lại lợi lộc gì cho Mỹ. “Quan hệ quốc tế giữa hai cuộc chiến tranh thế giới (1919 – 1939)” IV. Nhận xét chung: - Trật tự V-O đã đem lại nhiều quyền lợi về kinh tế cho các nước thắng trận, chủ yếu là Mĩ, Anh, Pháp…, đồng thời tạo điều kiện cho các nước thắng trận áp đặt sự nô dịch của mình đối với các nước bại trận. - Trật tự V-O tồn tại nhiều hạn chế: Không tiêu diệt được hoàn toàn mầm mống chiến tranh, không chạm được tới cơ sở của CNĐQ Đức, không giải quyết được các mâu thuẫn cũ (trong nội bộ các nước ĐQ), đồng thời lại đẻ thêm nhiều mâu thuẫn mới (giữa các nước thắng và bại trận, mâu thuẫn giữa các quốc gia mới ra đời ở châu Âu…) => trật tự V-O chỉ tạo ra một nền hòa bình, ổn định tạm thời, đó là “nền hòa bình trên miệng núi lửa”. - Trật tự V-O đơn thuần là trật tự của các nước đế quốc.Một khía cạnh khác của Hội nghị V – O là quan hệ của nước Nga Xô Viết và phong trào đấu tranh giải phóng của các dân tộc thuộc địa. Nếu như các cường quốc đế quốc mâu thuẫn về quyền lợi với nhau thì họ lại thống nhất trong việc tổ chức cuộc can thiệp vũ trang chống nước Nga cách mạng và cam kết cùng nhau tôn trọng, duy trì các thuộc dịa của nhau. Vấn đề 2: Sự sụp đổ của trật tự Vécxai - Oasinhtơn và con đường dẫn tới chiến tranh thế giới thứ hai I.Hoàn cảnh lịch sử - Cuối thập niên 20, đầu thập niên 30 của thế kỉ XX, cuộc đại khủng hoảng kinh tế thế giới (1929 - 1933) bùng nổ đã chấm dứt thời kì ổn định của chủ nghĩa tư bản cùng với ảo tưởng về một kỷ nguyên hoà bình của thế giới. Cuộc khủng hoảng bắt đầu từ nước Mĩ ngày 24.10.1929, đã nhanh chóng tràn sang châu Âu, bao trùm toàn bộ thế giới tư bản chủ nghĩa, để lại những hậu quả nghiêm trọng về kinh tế, chính trị, xã hội. - Ở các nước thuộc địa và phụ thuộc, cuộc đấu tranh giành độc lập dân tộc cũng bùng lên mạnh mẽ. “Quan hệ quốc tế giữa hai cuộc chiến tranh thế giới (1919 – 1939)” - Những mâu thuẫn của chủ nghĩa tư bản trở nên cực kì gay gắt. Trong bối cảnh đó đã hình thành những xu hướng khác biệt nhau trong việc tìm kiếm con đường phát triển giữa các nước tư bản chủ nghĩa: + Các nước không có hoặc có ít thuộc địa gặp nhiều khó khăn về vốn, nguyên liệu và thị trường đã đi theo con đường phát xít hoá chế độ chính trị, thiết lập nền chuyên chính khủng bố công khai nhằm cứu vãn tình trạng khủng hoảng nghiêm trọng của mình. Các nước Italia, Đức, Nhật Bản là điển hình cho xu hướng này. + Trong khi đó các nước Mỹ, Anh, Pháp... đã tìm cách thoát ra khỏi khủng hoảng bằng những cải cách kinh tế - xã hội, duy trì nền dân chủ tư sản đại nghị, đồng thời chủ trương duy trì nguyên trạng hệ thống Vécxai - Oasinhtơn. Quan hệ giữa các cường quốc tư bản trong thập niên 30 chuyển biến ð ngàycàng phức tạp. Sự hình thành hai khối đối lập - một bên là Đức, Italia, Nhật Bản với một bên là Mĩ, Anh, Pháp và cuộc chạy đua vũ trang giữa hai khối đã phá vỡ hệ thống thoả hiệp tạm thời Vécxai - Oasinhtơn dẫn tới sự hình thành các lò lửa chiến tranh, báo hiệu một cuộc chiến tranh thế giới mới. II. Sự sụp đổ của trật tự Vécxai - Oasinhtơn: Hệ thống Vecxai - Oasinhtơn là một trật tự thế giới mới mà các nước thắng trận áp đặt đối với các nước bại trận. Các nước chiến bại (nước Đức) bị thiệt thòi nhất nên muốn thanh toán nó bằng vũ lực, chuẩn bị chiến tranh chia lại thế giới. Bản thân các nước thắng trận cũng mâu thuẫn với nhau. Trong những năm 1924 1929 xét về góc độ quan hệ quốc tế là tạm thời ổn định vì các nước thắng trận chưa đi đến chia rẽ triệt để, các nước bại trận chưa kịp khôi phục lực lượng quân sự. Nhưng khi Đức mạnh lên, mâu thuẫn giữa các nước đế quốc phát triển tới mức không điều hoà được (vấn đề khả năng sản xuất và thị trường tiêu thụ). Các nước Nhật – Đức -Ý từng bước thanh toán hệ thống Vécxai - Oasinhtơn. “Quan hệ quốc tế giữa hai cuộc chiến tranh thế giới (1919 – 1939)” + ĐQ Nhật: kẻ đầu tiên dùng vũ lực phá tan nguyên trạng ở Đông Á bằng cách xâm lược Đông Bắc Trung Quốc. + ĐQ Ý: Xâm lược Êtiôpia, nhòm ngó Địa Trung Hải. + ĐQ Đức: huỷ bỏ quy chế Vécxai về bồi thường, hạn chế vũ trang, rút ra ð khỏi Hội Quốc liên…mưu toan thôn tính các nước láng giềng. Sự tan vỡ của hệ thống Vécxai - Oasinhtơn được đánh dấu bằng sự hình thành 3 lò lửa chiến tranh trên thế giới. 1. Lò lửa chiến tranh ở Viễn Đông: Nhật xâm lược Trung Quốc. - Lò lửa chiến tranh bùng nổ sớm nhất ở châu Á bằng việc Nhật phát xít hoá bộ máy chính quyền, chuẩn bị xâm lược Trung Quốc. - 1927, Tanaca đưa lên Nhật hoàng bản ''tấu thỉnh" dự kiến quá trình bành trướng của ĐQ Nhật => Hệ thống Vécxai - Oasinhtơn có dấu hiệu bị phá vỡ. - 1931 Nhật xâm chiếm được Đông Bắc Trung Quốc, lập nên nhà nước Mãn Châu =>Mắt xích đầu tiên của của hệ thông Vécxai - Oasinhtơn bị phá vỡ. - 1931 Nhật xâm chiếm được Đông Bắc TQ lập nên nhà nước Mãn Châu, mắt xích đầu tiên của Hệ thống Véc xai - Oasinhtơn bị phá vỡ. -Nhật xâm lược Trung Quốc động chạm tới quyền lợi của các nước tư bản Âu - Mỹ. Song các nước này không phản ứng vì cònbận giải quyết khủng hoảng kinh tế đồng thời muốnmượn tay Nhật tiêu diệt cách mạng Trung Quốc và Liên Xô (Nhật tung ra màn khói báo chí là chống cộng sản quốc tế và chống Liên Xô). - Trung Quốc gửi đơn khiếu nại tới Hội Quốc Liên song phản ứng của Hội rất yếu ớt và bất lực: chỉ lên án Nhật "kẻ xâm lược" khuyến cáo Nhật phải rút quân khỏi khu vực dọc theo đường xe lửa. - Nhật tuyên bố chính thức rút ra khỏi Hội Quốc Liên để tự do hành động và mở rộng việc xâm lược ra toàn lãnh thổ Trung Quốc. =>Hệ thống Vécxai - Oasinhtơn ở Viễn Đông tan vỡ. 2. Lò lửa chiến tranh thứ hai: Phát xít Đức. - Hành động đầu tiên phá vỡ Hệ thống Vécxai - Oasinhtơn của Đức là nước này tự xoá bỏ việc bồi thường chiến tranh. - Đức tiến hành quân sự hoá bộ máy nhà nước, đòi tái thiết lập lực lượng vũ trang bằng lực lượng vũ trang của nước Pháp. Hítle cũng vạch ra một kế hoạch xâm lược: đầu tiên của là chiếm châu Âu rồi đề ra kế hoạch Âu - Phi, Âu - Á để xâm chiếm các nước châu Phi và châu Á và các nước Mĩ la tinh. - 1933 Đức rút ra khỏi Hội Quốc Liên để tự do hành động. - Hitle từng bước tiến hành kế hoạch bành trướng của Đức, đòi sát nhập những vùng đất ở châu Âu mà thiểu số người Đức sinh sống : Áo, Xarơ, một phần Ba Lan, Tiệp Khắc… “Quan hệ quốc tế giữa hai cuộc chiến tranh thế giới (1919 – 1939)” => Các nước phương Tây không có phản ứng kiên quyết và thống nhất: Anh - Pháp - Ý kí hiệp ước phản đối Đức nhưng chỉ trên giấy tờ.Anh thừa nhận Hải quân Đức = 35% của Anh => Giáng đòn mạnh vào hệ thống Vécxai - Oasinhtơn đồng thời nâng cao vị thế quốc tế cuả Đức - 3.1936 Đức công khai chiếm đóng khu phi quân sự ở sông Ranh. -Đức kí hiệp ước không xâm lược nhaugiữa Pháp - Bỉ - Đức (trừ Liên Xô).Như vậy với sự khôn khéo của Đức đã khiến nhiều nước châu Âu đi tìm chỗ dựa vào Đức quốc xã. =>Như vậy Hoà ước Vécxai đã bị Đức xoá bỏ. 3. Lò lửa chiến tranh thứ ba: Phát xít Ý - Ý là nước thắng trận nhưng không được mấy quyền lợi trong Hội nghị Vécxai nên thuộc loại nước bất mãn. Ý có tham vọng: Khôi phục lại nước La Mã xưa, chiếm Anbani, Nam Tư, Hi Lạp…; muốn thu một số thuộc địa ở châu Phi và biến Địa Trung Hảo thành ao nhà. =>Hướng tấn công của Ý chủ yếu là vùng Bắc Phi, Nam Âu, Địa Trung Hải. - 1934 phát xít Ý xâm lược Êtiôpia. Nước này khiếu nại lên Hội Quốc Liên nhưng do Anh, Pháp khống chế nên khiếu nại này không có kết quả. Êtiôpia cầu cứu Mỹ nhưng Mỹ từ chối với lý do "không can thiệp" - 5.1936, Êtiôpi trở thành thuộc địa của Ý. Hội Quốc Liên quyết định trừng phạt Ý bằng biện pháp cấm vận kinh tế. Nhưng Mỹ, Đức không tham gia cấm vận nên biện pháp này kém hiệu quả. - 12.1937 Ý rút ra khỏi HQL để tự do hành động. => Hệ thống Vécxai - Oasinhtơn lại một lần nữa bị phá vỡ. =>Như vậy: Trong những năm 1932 - 1935 nguyên trạng của hệ thống Vécxai Oasinhtơn bị phá vỡ ở nhiều khu vực trên thế giới; đẩy các thế lực phát xít đến gần nhau và liên minh đến với nhau: hình thành trục phát xít Béclin - Rôma – Tôkyô (11.1937) Vấnđề 3: Con đường dẫn đến Chiến tranh thế giới thứ hai I.Chính sách đối ngoại của ba lực lượng quốc tế: Anh –Pháp -Mĩ; Đức -ÝNhật; Liên Xô. Đây chính là nội dung của quan hệ quốc tế giai đoạn 1929 - 1939. 1.Anh,Pháp,Mĩ: - Anh, Pháp: Thực hiện chính sách hai mặt + Một mặt hợp tách với Liên Xô để tăng sức mạnh cho mình. + Mặt khác thoả hiệp và nhượng bộ phát xít để tránh chiến tranh về phía mình, đẩy chiến tranh về phía Liên Xô. “Quan hệ quốc tế giữa hai cuộc chiến tranh thế giới (1919 – 1939)” - Riêng Mỹ: đưa ra "Đạo luật trung lập" (1935) cấm bán vũ khí cho các bên tham chiến. 2. Đức, Ý, Nhật: - Gây ra ba lò lửa chiến tranh - Phá vỡ hệ thống Vécxai – Oasinhtơn - Hình thành phe Trục Béclin – Tôkiô – Rôma 3. Liên Xô: - Liên Xô là nước duy nhất đứng ra đấu tranh để bảo vệ nền hoà bình thế giới có lợi cho các dân tộc và thuộc địa, cho các lực lượng yêu chuộng hoà bình và tiến bộ của thế giới. - Coi CNPX là kẻ thù nghuy hiểm nhất, chủ trương liên kết các nước tư bản dân chủ để chống phát xít và nghuy cơ chiến tranh. - Liên Xô gia nhập tổ chức Hội Quốc Liên (9.1934) với tư cách là hội viên thường trực, tích cực đề ra các các hành động chống CNPX nhưng đều bị các nước tư bản từ chối hành động. II. Đức, Nhật bành trướng từ Hội nghị Muyních đến Chiến tranh thế giới (1937 - 1939) 1.Đức: - 1938 Đức trở thành nước mạnh nhất châu Âu về kinh tế, quân sự. Đức có trên 3 vạn xe tăng, 300 phi đội và 3700 máy bay chiến đấu. Công nghiệp Hàng không Đức mỗi năm có thể đảm bảo sản xuất 6000 máy bay. =>Hítle quyết định đẩy mạnh bành trướng để xác lập quyền thống trị của " Đại Đức" - 3.1938 Đức sát nhập Áo vào Đức. - Đức gây vụ Xuyđét để thôn tính Tiệp Khắc (3.1938 – 3.1939).Ý, Nhật tuyên bố ủng hộ Đức.Liên Xô tuyên bố sẵn sàng giúp đỡ Tiệp Khắc.Pháp yêu cầu Tiệp Khắc nhượng bộ để tránh 1 cuộc thập tự chinh mà Anh, Pháp không thể tham gia). =>Như vậy P đã nhượng bộ, trở ngại cho Đức đã bị dỡ bỏ. - Chính phủ Tiệp buộc phải chấp nhận cho Xuyđét quyền tự trị. Nhưng Đức đòi đóng chiếm Xuyđét trước 1.10.1938, quá thời hạn là chiến tranh. => Tình hình trở nên căng thẳng. Hội nghị Muyních được triệu tập đểgiải quyết vấn đề vào 30.9.1938: Trao toàn bộ vùng Xuyđét của Tiệp cho Đức. Đổi lại: Hítle cam kết chấm dứt mọi cuộc thôn tính và kí với Sămbéclanh một bản tuyên bố Anh– Đức không xâm lược lẫn nhau, với Pháp cũng vậy. Đại biểu Tiệp Khắc được mời đến chỉ để tiếp nhận và thi hành hiệp định. Liên xô bị gạt ra ngoài. Mĩ là quan sát viên. =>Hội nghị Muyních thể hiện đỉnh cao của sự phản bội của Anh, Pháp, Mĩ đối với vận mệnh của châu Âu và thế giới. -Tháng 3.1939 Đức thôn tính toàn bộ Tiệp Khắc. - Cuối tháng 3.1939 Đ bắt đầu gây hấn với Ba Lan và kế hoạch đánh chiếm Ba Lan đã được soạn thảo kỹ lưỡng. “Quan hệ quốc tế giữa hai cuộc chiến tranh thế giới (1919 – 1939)” - Liên minh Liên Xô - Anh - Pháp thất bại trong việc giúp Ba Lan => Phát xít Đức có điều kiện phát triển. 2. Nhật Bản: - Sau cuộc đảo chính của phái sỹ quan trẻ (1936) thì đến tháng 7.1937 Nhật bắt đầu chiến tranh đại quy mô ở Trung Quốc. Chính phủ Tưởng Giới Thạch buộc phải đình chỉ nội chiến hợp tác với ĐCS để chống Nhật. => Như vậy Nhật đã làm một việc xưa nay chưa từng có nước đế quốc phương Tây nào dám làm là độc chiếm Trung Quốc,làm tổn hại đến quyền lợi các nước đế quốc nhưng các nước này không giúp gì cho Trung Quốc vì thực hiện chính sách 2 mặt, chỉ có Liên Xô giúp Trung Quốc. - Cuộc xâm lược Trung Quốc của Nhật Bản vấp phải sức kháng cự mãnh liệt của nhân dân Trung Quốc nên chiến tranh tiếp tục kéo dài. - 1938 -1939 Nhật 2 lần tấn công vào lãnh thổ Liên Xô và Mông Cổ (Khankhingôn và Khaxan) nhưng tất bại trước quân đội Liên xô. =>Mặc dù bị thất bại trong cuộc đọ sức với Liên Xô nhưng phương Tây vẫn hy vọng vào Nhật là tên lính xung kích chống Liên Xô ở phía đông.Mĩ đề nghị các nước phương Tây và Nhật triệu tập hội nghị Thái Bình Dương để chẩun bị cho Trung Quốc có số phận giống Tiệp khắc. Nhưng vì mâu thuẫn Mĩ - Nhật nên hội nghị không thành. Anh ký "hiệp định Arita - Cơrâygi".Đây gọi là vụ Muyních phương Đông: vì nó đã giao Trung Quốc cho Nhật để đổi lấy cuộc chiến tranh của Nhật chống Liên Xô. III. Hành động của Liên Xô: - Thất bại trong việc liên minh với Anh, Pháp làm cho Liên Xô bị cô lập và bị chiến tranh đe doạ từ hai phía: + Phía Viễn Đông: tuy quân Nhật bị thất bại trong những lần thử sức 1938 - 1939 nhưng nguy cơ xâm lược vẫn còn. + Phía Tây: quân Đức có khả năng tràn qua Ba Lan để tiến đánh Liên Xô. ð Liên Xô buộc phải kí Hiệp ước không xâm phạm Xô - Đức (8/1939) có hiệu lực trong 10 năm Lý do: + Đức e ngại khả năng thắng Liên Xô và cho rằng Anh, Pháp chưa chuẩn bị kỹ cho chiến tranh. Hítle quyết định đánh Tây Âu trước, chủ động ký với Liên Xô hiệp định không xâm phạm để rảnh tay mặt trận phía Đông. Đức sẽ tạm thời loại một đối thủ hùng mạnh và một đòn bất ngờ làm phá sản chính sách 2 mặt của Anh, Pháp. + Liên Xô: Đây là giải pháp tốt nhất để bảo vệ quyền lợi quốc gia trong tình thế bị cô lập đồng thời việc kí hiệp ước này còn nhằm mục đích phân hoá kẻ thù và có thời gian để chuẩn bị lực lượng cho cuộc chiến sắp tới. - Cuối 1938 quan hệ quốc tế hoàn toàn căng thẳng: Đức tích cực chuẩn bị kế hoạch xâm lược Ba Lan: Yêu cầu Ba Lan phải trao trả vùng Đăngzích của mình, “Quan hệ quốc tế giữa hai cuộc chiến tranh thế giới (1919 – 1939)” đưa lực lượng quân đội áp sát biên giới Ba Lan, chuẩn bị thực hiện "Kế hoạch trắng" - 1.9.1939: Đức tấn công Ba Lan, chiến tranh thế giới thứ hai bùng nổ. Phần II: LỰA CHỌN PHƯƠNG PHÁP Căn cứ lựa chọn: - Đối tượng học là các học sinh giỏi của đội tuyển Lịch sử, đã được cung cấp hệ thống kiến thức nền cơ bản theo chuẩn kiến thức khá vững chắc và có ít nhiều kĩ năng học tập, làm bài tập lịch sử vững vàng. - Cấu trúc đề thi HSG các cấp - Tần suất xuất hiện các câu hỏi yêu cầu huy động nội dung kiến thức trong chuyên đề để giải quyết. - Trong phạm vi và yêu cầu của một chuyên đề tham dự Hội thảo Tôi lựa chọn một số phương pháp dạy học như sau như sau: I.Giải thích một số thuật ngữ, khái niệm lịch sử cho học sinh “Quan hệ quốc tế giữa hai cuộc chiến tranh 1919 – 1939” là một chuyên đề khó trong phần Lịch sử thế giới, đề cập một số thuật ngữ bộ môn mang tính khái quát, có liên quan tới lĩnh vực chính trị. Vì vậy, trước khi học, cần giải thích cho học sinh hiểu rõ những nội hàm của các khái niệm chuyên môn này nhằm giúp các em hiểu rõ, hiểu sâu hơn nội dung kiến thức cần nắm. Căn cứ vào cuốn “Sổ tay kiến thức lịch sử (phần Lịch sử thế giới)” và “Từ điển tri thức lịch sử phổ thông thế kỉ XX”, tôi hướng dẫn cho học sinh nắm một số thuật ngữ sau: - Quan hệ quốc tế:là tổng thể những mối quan hệ về kinh tế, chính trị, tư tưởng, luật pháp, ngoại giao, quân sự…giữa những quốc gia và hệ thống quốc gia với nhau, giữa các giai cấp chính, các lực lượng tổ chức xã hội, kinh tế và chính trị chủ yếu hoạt động trên trường quốc tế. “Quan hệ quốc tế giữa hai cuộc chiến tranh thế giới (1919 – 1939)” -Trật tự thế giới:là một thiết chế chính trị - xã hội đặc biệt được thiết lập nhằm phân chia phạm vi thế lực, khu vực ảnh hưởng cho phù hợp với thực trạng so sánh lực lượng giữa các cường quốc trên thế giới. Nó thường được xuất hiện sau các cuộc chiến tranh có quy mô và tầm cỡ quốc tế. -Trật tự Vecxai – Oasinhtơn:Trật tự thế giới được thiết lập sau chiến tranh thế giới thứ nhất khi các nước tư bản thắng trận (Anh,Pháp, Mĩ) tổ chức hội nghị Véc xai (1919-1920) và Oa-sinh-tơn (1921-1922) để phân chia quyền lợi và buộc các nước đế quốc thua trận phải chấp nhận không điều kiện và chịu nhiều thiệt thòi. - Chủ nghĩa phát xít: Là nền chuyên chính khủng bố công khai của những phần tử phản động nhất, sô vanh nhất, đế quốc chủ nghĩa nhất của tư bản tài chính; tiêu biểu là chủ nghĩa phát xít Đức, Italia, Nhật. II.Ôn tập, hệ thống hóa kiến thức thông qua các vấn đề lịch sử Để đạt được tầm nhận thức cao hơn, từ đó vận dụng vào giải quyết các yêu cầu của bài tập lịch sử đòi hỏi học sinh phải nắm vững, nhớ lâu một khối lượng không nhỏ nền kiến thức cơ bản. Do đó, việc ôn tập, củng cốqua việc bổ dọc nội dung thành các vấn đề lịch sử có ý nghĩa đặc biệt để đạt được tính bền vững của kiến thức vàsẽ giúp học sinh hiểu sâu, nhớ lâu hơn các sự kiện, các vấn đề lịch sử. Đồng thời, dạy học theo vấn đề sẽ giúp học sinh có được cái nhìn tổng thể về một vấn đề lịch sử, nắm được mối tương quan logic của các vấn đề lịch sử cùng đặc điểm. Từ đó có phương pháp phân kì lịch sử, tái hiện lại được bức tranh lịch sử gồm nhiều giai đoạn với tên gọi và đặc điểm riêng của từng giai đoạn. Với mỗi giai đoạn, học sinh lại đi sâu nắm những nội dung và sự kiện chính, có ý nghĩa quan trọng. Theo đó tôi lựa chọn ba vấn đề nội dung trong chuyên đề “Quan hệ quốc tế giữa hai cuộc chiến tranh thế giới (1919 – 1939)” để giảng dạy cho học sinh: -Vấn đề 1: Sự hình thành trật tự thế giới Vécxai – Oasinhtơn “Quan hệ quốc tế giữa hai cuộc chiến tranh thế giới (1919 – 1939)” -Vấn đề 2:Sự sụp đổ của trật tự Vécxai - Oasinhtơn và con đường dẫn tới chiến tranh thế giới thứ hai - Vấnđề 3: Con đường dẫn đến Chiến tranh thế giới thứ hai Sau khi xác định nội dung để xây dựng các vấn đề chuyên sâu, tôi sẽ hướng dẫn học sinh chuẩn bị trước một tuần trước mỗi vấn đề. Học sinh được cung cấp hệ thống sách tham khảo, hệ thống câu hỏi, đọc và tìm hiểu trước nội dung trong sách giáo khoa cũng như trong tài liệu tham khảo để buổi dạy đạt kết quả tốt. III. Luyện tập các bài tập lịch sử nâng cao nhằm phát triển kĩ năng tư duy và năng lực thực hành Phát triển kĩ năng tư duy và năng lực thực hành chính là giai đoạn sau khi học sinh biết, thông hiểu kiến thức mới thì vận dụng kiến thức đã học để giải quyết các yêu cầu, các vấn đề mới nảy sinh để từ đó biết rút ra kinh nghiệm và bài học lịch sử. Trên cơ sở học sinh đội tuyển đã nám được nền kiến thức cơ bản tôi xây dựng một số bài tập thực hành: Bài tập 1: So sánh sự khác nhau của hai trật tự thế giới trong thế kỉ XX: Vecsxai-Oasinhtơn (V-O) và Ianta Gợi ý trả lời: Thời gian tồn tại Cơ sở pháp lí Chủ thể V-O HAI CỰC IANTA Thiết lập sau Chiến tranh I, tồn tại Thiết lập sau Chiến tranh II, tồn đến trước Chiến tranh II tại đến năm 1991 Những thỏa thuận của các cường Những thỏa thuận của các cường quốc thắng trận tại các Hội nghị V quốc thắng trận tại Hội nghị I -O - Quyết định bởi Mĩ, Anh, Pháp – - Quyết định bởi Liên Xô XHCN đều là các nước TBCN. và Mĩ TBCN.  Là trật tự đa chủ thế, đồng nhất  Là trật tự của hai chủ thể đối lập “Quan hệ quốc tế giữa hai cuộc chiến tranh thế giới (1919 – 1939)” về bản chất ĐQCN. nhau. - Có một chủ thế là Mĩ có ưu thế - Cả hai chủ thể có vai trò chi nổi trội hơn nhưng chưa đủ sức phối cả hai phe của mình. chi phối và điều khiển các nước lớn khác.  Có một chủ thể LX là chỗ dựa  Đây là trật tự của các nước cho phong trào GPDT, dẫn tới ĐQCN, trở thành trở ngại cho phong trào cách mạng thế giới phong trào GPDT. phát triển. - Là một trật tự bất công khi - Quyền lợi cân bằng giữa hai quyền lợi chỉ cho nội bộ các nước bên chủ thể chính Xô - Mĩ và các thắng trận. Tính chất đồng minh. - Các điều khoản nặng nề đối với - Các điều khoản bồi thường các nước bại trận. chiến tranh với các nước bại trận - Quyền dân tộc của các nước nhỏ - Quyền của các dân tộc nhỏ không được coi trọng. được tôn trọng một cách tương đối. Do không thủ tiêu hoàn toàn Trên cơ sở cân bằng lực lượng, nguồn gốc của chiến tranh như kiềm chế lẫn nhau nên đã không các mâu thuẫn, chủ nghĩa quân dẫn tới bùng nổ các cuộc chiến Hệ quả phiệt, tư tưởng phục thù… nên tranh thế giới, thủ tiêu mầm trật tự V-O là một trong những mống đại chiến song lại đặt thế nguyên nhân gây nên Chiến tranh giới trong tình trạng căng thẳng II. do chạy đua vũ trang… “Quan hệ quốc tế giữa hai cuộc chiến tranh thế giới (1919 – 1939)” - Duy trì trật tự V-O là Hội quốc - Duy trì trật tự I là Liên hợp liên, có qui mô nhỏ (tối đa 60 quốc, có qui mô toàn, có sự tham thành viên), thiếu sự tham gia của gia của tất cả các nước lớn. các cường quốc có tầm chi phối - Hoạt động của Liên hợp quốc như Mĩ. Tổ chức có hiệu quả trong việc giữ gìn - Hoạt động của Hội quốc liên ít hòa bình và an ninh thế giới, giải hiệu quả, gắn hoạt động của mình quyết các vấn đề mang tính toàn với CNĐQ, ủng hộ chế độ thực cầu. dân, không ngăn chặn được Chiến - Tiếp tục vai trò trong trật tự tranh II. mới. - Tan rã khi trật tự V-O sụp đổ. Bài tập 2: Vì sao mối quan hệ quốc tế sau chiến tranh thứ hai lại gay gắt hơn so với quan hệ quốc tế sau chiến tranh thế giới thứ nhất, còn quan hệ quốc tế trong những năm gần đây có xu hướng chuyển dần từ đối đầu sang đối thoại ? Gợi ý trả lời: - Mối quan hệ quốc tế sau chiến tranh thế giới thứ hai gay gắt hơn so với quan hệ quốc tế sau chiến tranh thế giới thứ nhất vì: + Sau chiến tranh thế giới thứ nhất, quan hệ quốc tế là sự đối đầu giữa các nước đề quốc với nhau, Đức mâu thuẫn gay gắt với Anh, Pháp, Mĩ. Song mâu thuẫn giữa các nước đế quốc chỉ là mâu thuẫn giữa các nước trong khối đế quốc với nhau và vì quyền lợi kinh tế. + Sau chiến tranh thế giới thứ hai, mối quan hệ quốc tế chủ yếu xoay quanh mâu thuẫn giữa chủ nghĩa đế quốc với chủ nghĩa xã hội, đây là sự đối đầu về hai phương thức sản xuất khác nhau, về hệ tư tư tưởng chính trị khác nhau nên gay gắt và quyết liệt hơn nhiều. “Quan hệ quốc tế giữa hai cuộc chiến tranh thế giới (1919 – 1939)” - Quan hệ quốc tế từ nửa sau những năm 80 của thế kỷ XX đến nay có xu hướng chuyển dần sang đối thoại. Đối đầu căng thẳng sẽ dẫn đến một cuộc chiến tranh hạt nhân, sẽ không có người chiến thắng. - Trong thời đai ngày nay, nhiều vấn đề có tính chất toàn cầu được đặt ra như : môi trường, bệnh tật, xung đột, chiến tranh....những vấn đề này không có một quốc gia riêng lẽ nào có thể giải quyết được, mà các quốc gia cần phải hợp tác để cùng nhau giải quyết. - Nền kinh tế thế giới ngày càng có xu hướng quốc tế hóa cao... Xu hướng hợp tác cùng có lợi phát triển, các quốc gia có những quan hệ chặt chẽ hơn, trong khi đó xu hướng đối đầu đó giảm đi. Vì vậy mối quan hệ quốc tế từ những năm 80 của thế kỷ XX đến nay có xu hướng chuyển dần sang đối thoại và hợp tác. Xu thế đối thoại hợp tác cùng tồn tại hòa bình đang dần dần trở thành xu thế chủ đạo trong các mối quan hệ quốc tế tuy nhiên chưa phải chấm dứt tình trạng gay gắt, đối đầu và xung đột trong quan hệ quốc tế. Sự nghiệp bảo vệ hoà bình, mối quan tâm hàng đầu của toàn nhân loại, đang ngày càng tiến triển, mặc dù nguy cơ chiến tranh chưa phải là đã chấm dứt, nhưng xuất hiện những khả năng hiện thực để ngăn chặn cuộc chiến tranh huỷ diệt, bảo vệ sự sống của con người và nền văn minh của nhân loại. IV.Xây dựng hệ thống câu hỏi ôn tập và bài tập luyện tập Việc ôn tập, luyện tập thường xuyên có ý nghĩa đặc biệt để đạt được tính bền vững của kiến thức. Do vậy, sau khi học xong chuyên đề, tôi thường cung cấp cho học sinh một hệ thống câu hỏi ôn tập để củng cố kiến thức và bài tập luyện tập để rèn luyện thêm các kĩ năng làm bài tập nâng cao. Nguyên tắc xây dựng câu hỏi ôn tập và bài tập nhận thức của tôi dựa trên đặc điểm và cấu trúc đề thi HSG Quốc gia nên các câu hỏi thường có tỉ lệ 30 – 40 % yêu cầu trình bày kiến thức cơ bản, phần tram còn lại là yêu cầu buộc học sinh phải biết phân tích, khái quát, so sánh, tổng “Quan hệ quốc tế giữa hai cuộc chiến tranh thế giới (1919 – 1939)” hợp kiến thức để giải quyết vấn đề. Đặc biệt tôi lưu ý cập nhật xu hướng ra câu hỏi mở hiện nay để học sinh có thể thể hiện vốn hiểu biết kiến thức xã hội tổng hợp, sự cập nhật thông tin thời sự cũng như ý kiến cá nhân của mình. Trong khuôn khổ của chuyên đề, tôi xin giới thiệu một vài câu hỏi: Câu 1:So sánh sự giống và khác nhau của hai trật tự thế giới trong thế kỉ XX: Vecsxai-Oasinhtơn (V-O) và Ianta Câu 2:Trật tự thế giới mới được thiết lập sau chiến tranh thế giới thứ hai như thế nào ? Trật tự đó có những nét khác biệt gì so với các trật tự Vecxai –Oasinhtơn ? Câu 4: So sánh hai tổ chức Hội Quốc liên và Liên Hợp Quốc theo các tiêu chí sau: Mục đích thành lập, Các cơ quan chính, vai trò? …
- Xem thêm -