Tài liệu Giải pháp chủ yếu nhằm phát triển nông nghiệp theo hướng sản xuất hàng hóa ở huyện đồng hỷ tỉnh thái nguyên

  • Số trang: 114 |
  • Loại file: PDF |
  • Lượt xem: 453 |
  • Lượt tải: 0

Mô tả:

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN TRƢỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ VÀ QUẢN TRỊ KINH DOANH ---------------------------------------------------- Triệu Thị Minh Hồng GIẢI PHÁP CHỦ YẾU NHẰM PHÁT TRIỂN NÔNG NGHIỆP THEO HƢỚNG SẢN XUẤT HÀNG HÓA Ở HUYỆN ĐỒNG HỶ TỈNH THÁI NGUYÊN LUẬN VĂN THẠC SỸ KINH TẾ Thái nguyên, năm 2009 Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.Lrc-tnu.edu.vn 1 ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN TRƢỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ VÀ QUẢN TRỊ KINH DOANH ------------------------------------------ Triệu Thị Minh Hồng GIẢI PHÁP CHỦ YẾU NHẰM PHÁT TRIỂN NÔNG NGHIỆP THEO HƢỚNG SẢN XUẤT HÀNG HÓA Ở HUYỆN ĐỒNG HỶ TỈNH THÁI NGUYÊN Chuyên ngành: Kinh tế nông nghiệp Mã số: 60- 31- 10 LUẬN VĂN THẠC SỸ KINH TẾ Người hướng dẫn khoa học TS. Đoàn Quang Thiệu Thái nguyên, năm 2009 Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.Lrc-tnu.edu.vn 2 LỜI CAM ĐOAN Tôi xin cam đoan rằng, số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận án này là trung thực và chưa hề được sử dụng để bảo vệ một học vị nào. Tôi xin cam đoan rằng, mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện Luận văn này đã được cảm ơn và các thông tin trích dẫn trong luận án đều đã được chỉ rõ nguồn gốc. Thái Nguyên, tháng 10 năm 2009 Tác giả Triệu Thị Minh Hồng Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.Lrc-tnu.edu.vn 3 LỜI CẢM ƠN Để hoàn thành bản luận văn, tôi đã nhận được sự giúp đỡ nhiệt tình của các cơ quan, các cấp lãnh đạo và cá nhân. Tôi xin bày tỏ lời cảm ơn và kính trọng tới tất cả tập thể và cá nhân đã tạo điều kiện giúp đỡ tôi trong quá trình học tập và nghiên cứu. Trước hết tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới TS. Đoàn Quang Thiệu người đã hướng dẫn tôi trong suốt quá trình nghiên cứu và hoàn thành luận văn. Tôi xin trân trọng cảm ơn Ban Giám hiệu, Khoa sau đại học, Khoa Kinh tế, các đơn vị liên quan của Trường Đại học Kinh tế và Quản trị kinh doanh Thái Nguyên. Tôi xin trân trọng cảm ơn các giáo sư, tiến sĩ của Trường Đại học Kinh tế và Quản trị kinh doanh- những người đã trang bị cho tôi những kiến thức quý báu để giúp tôi hoàn thành công trình này. Tôi xin chân thành cảm ơn sự giúp đỡ của Sở Nông nghiệp và phát triển nông thôn, Sở Kế hoạch và Đầu tư, UBND tỉnh Thái Nguyên, UBND huyện Đồng Hỷ, Phòng Nông nghiệp và phát triển nông thôn huyện Đồng Hỷ, các xã và các hộ nông dân huyện Đồng Hỷ đã giúp tôi trong quá trình điều tra số liệu. Tôi xin chân thành cảm ơn gia đình, bạn bè đồng nghiệp đã động viên chia sẻ, giúp đỡ nhiệt tình và đóng góp nhiều ý kiến quý báu để tôi hoàn thành luận án. Thái Nguyên, tháng 10 năm 2009 Tác giả Triệu Thị Minh Hồng Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.Lrc-tnu.edu.vn 4 MỤC LỤC Trang Lời cam đoan Lời cảm ơn Mục lục Danh mục các bảng Mở đầu 1. Tính cấp thiết của đề tài 1 2. Mục tiêu nghiên cứu 2 2.1. Mục tiêu chung 2 2.2. Mục tiêu cụ thể 2 3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 3 4. Ý nghĩa khoa học của Luận văn 3 5. Bố cục của Luận văn 3 Chƣơng 1: Tổng quan tài liệu nghiên cứu và phƣơng pháp nghiên cứu 4 1.1. Cơ sở lý luận và thực tiễn về phát triển nông nghiệp theo hướng sản xuất hàng hoá 4 1.1.1. Cơ sở lý luận nông nghiệp và phát triển nông nghiệp theo hướng sản xuất hàng hoá 4 1.1.2. Kinh nghiệm phát triển nông nghiệp ở một số nước trên thế giới và ở Việt Nam 20 1.2. Phương pháp nghiên cứu 33 1.2.1. Các câu hỏi đặt ra mà đề tài cần giải quyết 33 1.2.2. Phương pháp nghiên cứu cụ thể 34 1.2.3. Hệ thống chỉ tiêu phân tích 38 Chƣơng 2: Thực trạng phát triển nông nghiệp theo hƣớng sản xuất hàng hoá ở huyện Đồng Hỷ 41 2.1. Đặc điểm của huyện Đồng Hỷ tỉnh Thái Nguyên 41 2.1.1. Đặc điểm tự nhiên 41 2.1.2. Điều kiện về kinh tế xã hội 47 Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.Lrc-tnu.edu.vn 5 2.1.3. Đánh giá chung về những thuận lợi và khó khăn về điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội ảnh hưởng đến sự phát triển sản xuất nông nghiệp theo hướng sản xuất hàng hoá ở Đồng Hỷ tỉnh Thái Nguyên 54 2.2. Thực trạng phát triển nông nghiệp theo hướng sản xuất hàng hoá ở huyện Đồng Hỷ tỉnh Thái Nguyên 55 2.2.1. Một số kết quả phát triển nông nghiệp của huyện Đồng Hỷ 2.2.2. Thực trạng phát triển nông nghiệp theo hướng sản xuất hàng hóa ở huyện Đồng Hỷ 2.2.3. Thực trạng và các loại hình tổ chức sản xuất 55 69 69 2.2.4. Đánh giá chung về thực trạng sản xuất nông nghiệp theo hướng sản xuất hàng hoá ở huyện Đồng Hỷ 84 Chƣơng 3 : Một số giải pháp chủ yếu nhằm phát triển nông nghiệp theo hƣớng sản xuất hàng hoá huyện Đồng Hỷ tỉnh Thái Nguyên 87 3.1. Một số quan điểm chủ yếu 87 3.2. Định hướng và giải pháp chủ yếu nhằm phát triển nông nghiệp theo hướng sản xuất hàng hoá ở huyện Đồng Hỷ đến năm 2010 và 2015 91 3.2.1. Định hướng chung 91 3.2.2. Các giải pháp chủ yếu 92 Kết luận và kiến nghị 102 Tài liệu tham khảo 105 Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.Lrc-tnu.edu.vn 6 DANH MỤC CÁC BẢNG Trang Bảng 2.1. Tình hình sử dụng đất đai của huyện Đồng Hỷ năm 2008 44 Bảng 2.2. Tình hình nhân khẩu và lao động của huyện Đồng Hỷ 49 Bảng 2.3. Kết quả sản xuất các ngành kinh tế huyện Đồng Hỷ giai đoạn (2004 – 2008) 53 Bảng 2.4. Giá trị sản xuất, cơ cấu giá trị sản xuất, giá trị gia tăng ngành nông lâm thủy sản huyện Đồng Hỷ giai đoạn 2004 - 2008 55 Bảng 2.5. Cơ cấu diện tích gieo trồng cây hàng năm huyện Đồng Hỷ 57 giai đoạn 2004 – 2008 Bảng 2.6. Diện tích, năng suất và sản lượng cây lương thực huyện Đồng Hỷ giai đoạn 2004 - 2008 59 Bảng 2.7.Diện tích, năng suất và sản lượng cây thực phẩm huyện Đồng Hỷ giai đoạn 2004 – 2008 61 Bảng 2.8.Diện tích, năng suất và sản lượng cây công nghiệp hàng năm huyện Đồng Hỷ giai đoạn 2004 – 2008 62 Bảng 2.9. Diện tích, năng suất và sản lượng cây chè, cây ăn quả huyện Đồng Hỷ giai đoạn 2004 – 2008 63 Bảng 2.10. Kết quả ngành chăn nuôi huyện Đồng Hỷ giai đoạn 2004 2008 66 Bảng 2.11. Một số chỉ tiêu của trang trại huyện Đồng Hỷ năm 2008 74 Bảng 2.12. Tình hình chế biến và tiêu thụ sản phẩm của trang trại 75 Bảng 2.13. Cơ cấu hộ nông dân theo quy mô hàng hoá ở các xã điều tra năm 2008 Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên 78 http://www.Lrc-tnu.edu.vn 7 Bảng 2.14. Quy mô và cơ cấu giá trị sản phẩm hàng hoá bình quân ở hộ nông dân điều tra năm 2008 80 Bảng 2.15. Mức thu nhập bình quân theo lao động và nhân khẩu của hộ nông dân điều tra 82 Bảng 2.16. Tổng hợp một số chỉ tiêu về các loại hì nh tổ chức sản xuất 83 Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.Lrc-tnu.edu.vn 8 MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài Phát triển nền kinh tế thị trường theo định hướng XHCN ở nước ta thu được những thắng lợi đáng khích lệ. Nông nghiệp là một trong những ngành kinh tế chủ yếu của nền kinh tế quốc dân cũng đã đạt được kết quả bước đầu trong chuyển dịch cơ cấu sản xuất theo hướng sản xuất hàng hoá, công nghiệp hoá và hiện đại hoá. Song, kết quả đạt được còn nhiều hạn chế, sản xuất hàng hoá với quy mô hiệu quả chưa cao. Đảng và nhà nước ta đã có nhiều chủ trương và giải pháp nhằm thúc đẩy chuyển dịch kinh tế nông nghiệp và nông thôn theo hướng đưa từ nền kinh tế hàng hoá nhỏ lên nền kinh tế thị trường hiện đại, đáp ứng yêu cầu hội nhập nền kinh tế khu vực và thế giới, đặc biệt khi chúng ta đã tham gia thực hiện AFTA, tham gia APEC và ra nhập WTO. Đây là thuận lợi nhưng cũng là vấn đề rất khó khăn, thách thức cho phát triển nông nghiệp của nước ta. Nông nghiệp nước ta có thế mạnh về đất đại, lao động và có khả năng đa dạng hóa sản phẩm, nhưng chúng ta có nhiều điểm yếu: cơ sở vật chất kỹ thuật, khoa học công nghệ, sản xuất và chế biến, kinh nghiệm thương trường, trình độ tổ chức quản lý… Những hạn chế đó làm cho chất lượng sản phẩm còn thấp, giá thành sản xuất cao, hiệu quả thấp, làm hạn chế tính cạnh tranh chưa cao. Để hội nhập với thị trường khu vực và quốc tế, giữ được thị trường trong nước, chúng ta cần phải phát triển nông nghiệp theo hướng sản xuất hàng hóa. Đồng Hỷ là một huyện trung du miền núi của tỉnh Thái Nguyên, với 17 xã và 3 thị trấn. Tổng diện tích đất tự nhiên của huyện là 47.037,94 ha trong đó đất nông nghiệp là 12.488,92 ha chiếm 26,55% diện tích đất tự nhiên, đất lâm nghiệp là 21.402,61 ha chiếm 45,5% diện tích đất tự nhiên còn lại là các loại đất khác. Đồng Hỷ là huyện có nhiều tiềm năng nông lâm nghiệp chưa Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.Lrc-tnu.edu.vn 9 được khai thác, hiệu quả sản xuất nông nghiệp còn thấp, đời sống của nông dân trong khu vực nông thôn còn nhiều khó khăn. Một trong những nguyên nhân quan trọng là nền nông nghiệp của huyện còn nhiều trở ngại, chưa thực sự đi vào sản xuất hàng hóa. Chính vì vậy, nghiên cứu phát triển nông nghiệp theo hướng sản xuất hàng hóa là hết sức cần thiết đối với từng vùng, từng địa phương và phạm vi toàn quốc. Do đó tôi chọn đề tài: "Giải pháp chủ yếu nhằm phát triển nông nghiệp theo hướng sản xuất hàng hóa ở huyện Đồng Hỷ, tỉnh Thái Nguyên" làm luận văn tốt nghiệp nhằm góp phần thiết thực vào việc khai thác có hiệu quả tiềm năng, phát triển kinh tế nông nghiệp, nông thôn trên địa bàn huyện. 2. Mục tiêu nghiên cứu 2.1. Mục tiêu chung Trên cơ sở nghiên cứu cơ sở lý luận và thực tiễn về phát triển sản xuất hàng hóa nông nghiệp, đánh giá thực trạng tình hình phát triển sản xuất hàng hóa nông nghiệp của huyện Đồng Hỷ, từ đó đề ra những giải pháp khoa học nhằm phát triển nông nghiệp theo hướng sản xuất hàng hóa có tính bền vững ở huyện Đồng Hỷ, tỉnh Thái Nguyên, góp phần phát triển kinh tế-xã hội nâng cao đời sống người dân địa phương. 2.2. Mục tiêu cụ thể - Hệ thống hóa những vấn đề lý luận và thực tiễn về phát triển nông nghiệp theo hướng sản xuất hàng hóa. - Đánh giá thực trạng tình hình phát triển nông nghiệp theo hướng sản xuất hàng hóa ở huyện Đồng Hỷ tỉnh Thái Nguyên. - Đề xuất một số giải pháp chủ yếu có tính khả thi nhằm phát triển nông nghiệp theo hướng sản xuất hàng hóa ở huyện Đồng Hỷ tỉnh Thái Nguyên. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.Lrc-tnu.edu.vn 10 3. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu * Đối tượng nghiên cứu: là những vấn đề có tính lý luận và thực tiễn về phát triển nông nghiệp theo hướng sản xuất hàng hóa, phương hướng và giải pháp chủ yếu để phát triển kinh tế nông nghiệp theo hướng sản xuất hàng hóa ở huyện Đồng Hỷ. * Phạm vi nghiên cứu: - Về nội dung: Đề tài tập trung nghiên cứu về phát triển nông nghiệp theo hướng sản xuất hàng hóa, phân tích thực trạng về sản xuất hàng hoá chủ yếu tập trung vào phân tích các ngành và trong từng ngành. - Về không gian: Nghiên cứu trên địa bàn huyện Đồng Hỷ tỉnh Thái Nguyên. - Về thời gian: Các tư liệu tổng quan thu thập từ các tài liệu đã công bố trong giai đoạn từ năm 2004 - 2008, số liệu điều tra hiện trạng chủ yếu thu thập số liệu của năm 2008. 4. Ý nghĩa khoa học của đề tài - Đề tài là một công trình khoa học, là tài liệu tham khảo cho những người học tập và nghiên cứu trong lĩnh vực sản xuất nông nghiệp hàng hoá. - Đề tài có ý nghĩa quan trọng giúp cho các nhà lãnh đạo địa phương có những giải pháp khoa học trong phát triển sản xuất nông nghiệp theo hướng sản xuất hàng hoá góp phần phát triển kinh tế-xã hội địa phương. 5. Bố cục của Luận văn Ngoài phần mở đầu và kết luận, đề tài bao gồm 3 chương: Chương I: Tổng quan tài liệu nghiên cứu và phương pháp nghiên cứu. Chương II: Thực trạng phát triển nông nghiệp của huyện Đồng Hỷ theo hướng sản xuất hàng hóa. Chương III: Một số giải pháp chủ yếu nhằm phát triển nông nghiệp theo hướng sản xuất hàng hóa huyện Đồng Hỷ tỉnh Thái Nguyên. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.Lrc-tnu.edu.vn 11 CHƢƠNG I TỔNG QUAN TÀI LIỆU NGHIÊN CỨU VÀ PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 1.1. Cơ sở lý luận và thực tiễn về phát triển nông nghiệp theo hƣớng sản xuất hàng hoá 1.1.1. Cơ sở lý luận về phát triển nông nghiệp theo hướng sản xuất hàng hoá 1.1.1.1 Nông nghiệp và phát triển nông nghiệp - Vị trí, vai trò của nông nghiệp trong sự phát triển kinh tế - xã hội của mỗi quốc gia Nông nghiệp là một trong những ngành kinh tế quan trọng của nền kinh tế quốc dân. Nó không chỉ là một ngành kinh tế đơn thuần mà còn là hệ thống sinh học, kỹ thuật. Nông nghiệp nếu hiểu theo nghĩa hẹp chỉ có ngành trồng trọt, ngành chăn nuôi và ngành dịch vụ. Còn nông nghiệp hiểu theo nghĩa rộng bao gồm cả ngành lâm nghiệp và ngành thuỷ sản. Ngành nông nghiệp cung cấp lương thực thực phẩm cho nhu cầu xã hội: Nông nghiệp là ngành sản xuất vật chất cơ bản, giữ vai trò to lớn trong phát triển kinh tế ở hầu hết các nước, nhất là các nước đang phát triển là những nước còn nghèo, đại bộ phận dân số sống bằng nghề nông. Tuy nhiên ngay cả những nước có nền công nghiệp phát triển cao, mặc dù tỷ trọng nông nghiệp không lớn, nhưng khối lượng nông sản của các nước này khá lớn và không ngừng tăng lên, đảm bảo cung cấp đủ lương thực, thực phẩm cho đời sống của nhân dân nước đó. Lương thực, thực phẩm là yếu tố đầu tiên, có tính chất quyết định sự tồn tại phát triển của con người và phát triển kinh tế xã hội Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.Lrc-tnu.edu.vn 12 của đất nước mà hiện nay, mặc dù trình độ khoa học – công nghệ ngày càng phát triển nhưng vẫn chưa ngành nào có thể thay thế được. Xã hội càng phát triển, đời sống con người ngày càng cao thì nhu cầu của con người về lương thực và thực phẩm cũng ngày càng tăng về số lượng, chất lượng và chủng loại. Các nhà kinh tế học đều thống nhất cho rằng, điều kiện tiên quyết cho sự phát triển là tăng cung lương thực cho nền kinh tế quốc dân bằng sản xuất hoặc nhập khẩu lương thực. Có thể chọn con đường nhập khẩu lương thực để giành nguồn lực làm việc khác có lợi hơn, nhưng điều đó chỉ phù hợp với các nước như Singapore, Ả rập Saudi hay Brunei mà không dễ gì đối với các nước như Inđônêxia, Trung Quốc, Ấn Độ hay Việt Nam là những nước đông dân. Các nước đông dân muốn nền kinh tế phát triển, đời sống của nhân dân ổn định thì phần lớn lương thực tiêu dùng phải sản xuất trong nước. Thực tiễn lịch sử của các nước trên thế giới đã chứng minh, chỉ có thể phát triển kinh tế một cách nhanh chóng, chừng nào quốc gia đó đã có an ninh lương thực. Nếu không đảm bảo an ninh lương thực thì khó có sự ổn định chính trị và thiếu sự đảm bảo cơ sở pháp lý, kinh tế cho sự phát triển thì sẽ khó thu hút được đầu tư để phát triển bền vững, lâu dài. Nông nghiệp có vai trò quan trọng trong việc cung cấp các yếu tố đầu vào cho phát triển công nghiệp và khu vực thành thị, đặc biệt là ở các nước đang phát triển. Trong giai đoạn đầu của công nghiệp hoá, phần lớn dân cư sống bằng nông nghiệp và tập trung ở khu vực nông thôn. Vì thế khu vực nông nghiệp nông thôn thực sự là nguồn dự trữ nhân lực dồi dào cho phát triển công nghiệp và đô thị. Quá trình công nghiệp hoá và đô thị hoá, một mặt tạo ra nhu cầu lớn về lao động, mặt khác nhờ đó mà năng suất lao động nông nghiệp không ngừng tăng lên, lực lượng lao động từ nông nghiệp được giải phóng ngày càng nhiều. Số lao động này dịch chuyển, bổ sung cho phát triển công nghiệp và đô thị. Đó là xu hướng có tính quy luật của mọi quốc gia Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.Lrc-tnu.edu.vn 13 trong quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước. Khu vực nông nghiệp còn cung cấp nguồn nguyên liệu to lớn và quý cho công nghiệp, đặc biệt là công nghiệp chế biến. Thông qua công nghiệp chế biến, giá trị của sản phẩm nông nghiệp nâng lên nhiều lần, nâng cao khả năng cạnh tranh của nông sản hàng hoá, mở rộng thị trường. Khu vực nông nghiệp còn là nguồn cung cấp vốn lớn nhất cho sự phát triển kinh tế, trong đó có công nghiệp, nhất là giai đoạn đầu của công nghiệp hoá, bởi vì nông nghiệp là khu vực lớn nhất, xét cả về lao động và sản phẩm quốc dân. Nguồn vốn từ nông nghiệp có thể được tạo ra từ thuế nông nghiệp, tiết kiệm của nông dân đầu tư vào các hoạt động phi nông nghiệp, ngoại tệ thu được do xuất khẩu nông sản, … Những điển hình thành công về sự phát triển ở nhiều nước đều đã sử dụng tích luỹ từ nông nghiệp để đầu tư cho công nghiệp. Ngoài ra cần phải khai thác các nguồn khác một cách hợp lý, không nên cường điệu quá vai trò của vốn tích luỹ trong nông nghiệp. Nông nghiệp và nông thôn còn là thị trường tiêu thụ lớn của công nghiệp và dịch vụ. Ở hầu hết các nước đang phát triển, sản phẩm công nghiệp bao gồm tư liệu tiêu dùng và tư liệu sản xuất được tiêu thụ chủ yếu dựa vào thị trường trong nước mà trước hết là khu vực nông nghiệp và nông thôn. Sự thay đổi về cầu trong khu vực nông nghiệp nông thôn sẽ có tác động trực tiếp đến sản lượng ở khu vực phi nông nghiệp. Phát triển mạnh mẽ nông nghiệp, nâng cao thu nhập cho dân cư nông nghiệp, làm tăng sức mua từ khu vực nông thôn sẽ làm cho cầu về sản phẩm công nghiệp và dịch vụ tăng, thúc đẩy công nghiệp và dịch vụ phát triển. Nông nghiệp còn là ngành đem lại nguồn thu nhập ngoại tệ lớn. Các loại nông lâm thuỷ sản dễ dàng gia nhập thị trường quốc tế hơn so với các sản phẩm công nghiệp. Vì thế ở các nước đang phát triển, nguồn xuất khẩu để có ngoại tệ chủ yếu dựa vào các loại nông lâm thuỷ sản. Xu hướng chung ở các Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.Lrc-tnu.edu.vn 14 nước trong quá trình công nghiệp hoá, ở giai đoạn đầu, giá trị xuất khẩu nông lâm thuỷ sản chiếm tỷ trọng cao trong tổng kim ngạch xuất khẩu và tỷ trọng đó sẽ giảm dần cùng với sự phát triển cao của nền kinh tế. Nông nghiệp và nông thôn có vai trò to lớn, là sơ sở trong sự phát triển bền vững của môi trường vì sản xuất nông nghiệp gắn liền trực tiếp với môt trường tự nhiên: đất đai, khí hậu, thời tiết, thuỷ văn. Nông nghiệp sử dụng nhiều hoá chất như phân bón hoá học, thuốc trừ sâu,... làm ô nhiễm đất và nguồn nước. Dư lượng độc tố trong sản phẩm tăng ảnh hưởng đến sức khoẻ con người. Nếu rừng bị tàn phá, đất đai sẽ bị xói mòn, thời tiết, khí hậu thuỷ văn thay đổi xấu sẽ đe doạ đời sống của con người. Vì thế trong quá trình phát triển sản xuất nông nghiệp, cần tìm ra các giải pháp thích hợp để duy trì và tạo ra sự phát triển bền vững của môi trường [8]. - Một số vấn đề lý luận về tăng trưởng và phát triển Tăng trưởng kinh tế là sự gia tăng lên về số lượng và sự cải thiện về chất lượng của sản phẩm xã hội và các yếu tố sản xuất ra sản phẩm xã hội. Tăng trưởng là sự gia tăng thu nhập quốc dân và sản phẩm quốc dân, hoặc thu nhập quốc dân và sản phẩm quốc dân tính theo đầu người. Nếu như sản phẩm hàng hoá trong một quốc gia tăng lên, nó được coi là tăng trưởng kinh tế. Tăng trưởng cũng được áp dụng để đánh giá cụ thể đối với từng ngành sản xuất, từng vùng sản xuất của một quốc gia. Để biểu thị tăng trưởng kinh tế, người ta dùng mức tăng thêm của tổng sản lượng nền kinh tế (tính toàn bộ hay tính bình quân đầu người) của thời kỳ sau so với thời kỳ trước, đó là mức tăng % hay tuyệt đối hàng năm, hay tính bình quân trong một giai đoạn. Tăng trưởng được so sánh theo các thời điểm liên tục trong một giai đoạn nhất định sẽ cho khái niệm tốc độ tăng trưởng, đó là sự tăng thêm sản lượng nhanh hay chậm so với thời điểm gốc. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.Lrc-tnu.edu.vn 15 Phát triển bao hàm ý nghĩa rộng hơn, phát triển bao gồm tăng trưởng cộng thêm các thay đổi cơ bản trong cơ cấu nền kinh tế, phát triển là việc nâng cao phúc lợi của nhân dân, nâng cao các tiêu chuẩn sống, cải thiện giáo dục, sức khoẻ và đảm bảo sự bình đẳng cũng như quyền công dân. Phát triển kinh tế có thể hiểu là quá trình chuyển biến theo hướng tiến bộ về mọi mặt của nền kinh tế trong một thời kỳ nhất định, trong đó bao gồm tăng trưởng về của cải vật chất và sự tiến bộ xã hội. Tóm lại: phát triển kinh tế là một khái niệm chung nhất về một chuyển biến của nền kinh tế từ trạng thái thấp lên trạng thái cao hơn. Để phản ánh mức độ phát triển kinh tế của một ngành trong từng thời kỳ cụ thể, chúng ta phải sử dụng các nhóm chỉ tiêu như giá trị sản xuất, giá trị tăng thêm, cơ cấu các ngành và cơ cấu nội bộ ngành... 1.1.1.2. Hàng hóa và sản xuất hàng hóa * Hàng hoá là một dạng vật chất được đem ra trao đổi: Hàng hoá là sản phẩm của lao động nhằm thoả mãn nhu cầu của con người thông qua trao đổi là mua bán. Hàng hoá có hai thuộc tính: Giá trị và giá trị sử dụng. Từ khái niệm đó ta thấy một sản phẩm sản xuất ra được đem ra trao đổi mới được gọi là hàng hoá; song trao đổi được thì sản phẩm đó đã có một giá trị nhất định (giá trị trao đổi) và sản đó đáp ứng được nhu cầu của người tiêu dùng (giá trị sử dụng). Như vậy, sản phẩm hàng hoá trên thị trường chịu sự chi phối của hai quy luật: Quy luật cung cầu và quy luật cạnh tranh. Nếu sản phẩm cung vượt cầu thì sản phẩm đó hoặc là thừa hoặc phải chịu bán với giá thấp, chịu thua lỗ. Ở khía cạnh khác, cùng một loại sản phẩm lưu thông trên thị trường nhưng sản phẩm có chất lượng tốt hơn, đáp ứng được yêu cầu và thị hiếu của người Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.Lrc-tnu.edu.vn 16 tiêu dùng, có giá cả hợp lý, rẻ hơn thì sản phẩm đó được tiêu thụ dễ dàng. Sản phẩm kém chất lượng, giá cả cao, cung cấp không ổn định thì sản phẩm đó bị thừa ế, thua lỗ, không đủ sức cạnh tranh trên thị trường hàng hoá. * Sản xuất hàng hoá: Sản xuất hàng hoá đánh dấu một mốc quan trọng trong tiến trình phát triển kinh tế của mổi nước. So với nền kinh tế tự nhiên, tự cung tự cấp, kinh tế hàng hoá có nhữg ưu thế nổi bật. Vì trong nền sản xuất hàng hoá, sản phẩm sản xuất ra là để bán nên nó chịu sự chi phối của các quy luật giá trị, quy luật cung cầu và quy luật cạnh tranh, buộc các tập thể sản xuất, người sản xuất phải tổ chức lại sản xuất, cải tiến kỹ thuật, tăng năng suất và chất lượng sản phẩm, hạ giá thành, thay đổi mẫu mã cho phù hợp với nhu cầu tiêu dùng của xã hội. Từ đó thúc đẩy lực lượng sản xuất phát triển, đẩy nhanh quá trình xã hội hoá sản xuất và càng tạo điều kiện cho nền sản xuất công nghiệp hoá, hiện đại hoá ra đời. Kinh tế hàng hoá ra đời và tồn tại trong nhiều hình thái kinh tế - xã hội gắn liền với hai điều kiện: Sự phân công lao động xã hội và các hình thức sở hữu. Phân công lao động xã hội không mất đi mà ngày càng phát triển về chiều rộng lẫn chiều sâu ( Hợp tác quốc tế và khu vực, thị trường chung, hội nhập kinh tế, WTO...). Hình thức sở hữu cũng được thay đổi để phù hợp với quá trình phát triển của lực lượng sản xuất. Sự chuyên môn hoá và phân công hợp tác quốc tế đã trở thành một yêu cầu tất yếu ngay cả trong lĩnh vực sản xuất nông nghiệp. Ở nước ta, kinh tế hàng hoá đã ra đời nhưng đang trong dạng sản xuât hàng hoá nhỏ và đang từng bước thúc đẩy kinh tế hàng hoá phát triển theo chiến lược kinh tế mở: Đưa nhanh cách mạng khoa học kỹ thuật hiện đại làm cho trình độ xã hội hoá sản xuất ngày càng được mở rộng. Sản xuất hàng hoá không chỉ dựa trên cơ sở điều kiện tự nhiên, kinh tế kỹ thuật mà đã tính đến khả năng liên kết quốc Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.Lrc-tnu.edu.vn 17 tế. Chính sự giao lưu và hợp tác quốc tế đã làm cho nền kinh tế hàng hoá nước ta có những bước phát triển mới. 1.1.1.3. Phát triển nông nghiệp theo hướng sản xuất hàng hoá a. Đặc trưng cơ bản của cơ cấu kinh tế nông nghiệp sản xuất hàng hóa: * Phát triển kinh tế sản xuất nông nghiệp hàng hoá bền vững là một đặc trưng cơ bản trong cơ chế thị trường hàng hoá. Nền sản xuất nông nghiệp hàng hoá phát triển bền vững phải dựa trên mấy tiêu chí: + Bền vững về mặt sản xuất: Sản phẩm được tạo ra không những phải khai thác được lợi thế tự nhiên (đất đai, khí hậu, thời tiết...) lợi thế về mặt kinh tế (lao động, vốn, trình độ sản xuất, cơ sở hạ tầng hiện có...) về mặt xã hội và môi trường (tạo ra được sự liên kết trong nông thôn, xây dựng nông thôn mới và cải tạo được môi sinh môi trường...) [ 16]. + Bền vững về thị trường tiêu thụ: Sản phẩm sản xuất ra đáp ứng được thị hiếu tiêu dùng của thị trường trong nước và xuất khẩu về khối lượng, chất lượng và giá cả có tính cạnh tranh cao. Có thị trường tiêu thụ ổn định và tạo khả năng mở rộng thị trường mới.Thị trường ở đây được hiểu là thị trường tiêu dùng sản phẩm cùng thị trường nguyên liệu sản phẩm cho công nghiệp chế biến.[ 9] + Bền vững về môi trường kinh tế - xã hội nông thôn: Sản xuất sản phẩm hàng hoá (sản phẩm chuyên môn hoá) phải gắn với phát triển sản phẩm đa dạng, đáp ứng nhu cầu tiêu dùng tại chỗ và sử dụng lao động, tài nguyên tại chỗ, phải là sản phẩm sạch, không gây ô nhiễm môi trường, phá hoại môi trường, môi sinh. + Gắn được sản xuất, chế biến với môi sinh môi trường nông thôn mới, tạo điều kiện xây dựng một cơ cấu kinh tế mới phù hợp, bền vững: Gắn được Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.Lrc-tnu.edu.vn 18 sản xuất với chế biến để vừa sử dụng được nguyên liệu tại chỗ, giảm được chi phí vận chuyển, thu hút được lao động tại chỗ, tạo thêm được việc làm. Đa dạng hoá sản phẩm nhằm sử dụng tiềm năng đa dạng của điều kiện tự nhiên, đất đai và lao động của từng địa phương, tăng thu nhập cho hộ gia đình, tạo điều kiện để sản phẩm hàng hoá phát triển thuận lợi, hiệu quả. * Phát triển sản xuất nông nghiệp hàng hoá bền vững là một quá trình từ một nền nông nghiệp truyền thống,phân tán, lạc hậu, cơ sở hạ tầng thấp kém lên một nền sản xuất nông nghiệp hiện đại một nền kinh tế mở, hội nhập kinh tế khu vực và thế giới. Ở một nền sản xuất nông nghiệp như nước ta sản xuất hàng hoá phải đi từng bước vững chắc, không chủ quan nóng vội, duy ý chí nhưng không thể ngồi chờ, phải tạo ra thế và lực để phát triển. Đi từng bước vững chắc, trước hết phải giải quyết tốt nhu cầu tiêu dùng tại chỗ bằng cách đa dạng hoá sản xuất, đa dạng hoá sản phẩm. Phát huy nội lực của mình, bằng thâm canh tăng năng suất, bằng các biện pháp kỹ thuật tiên tiến tăng nhanh sản phẩm vừa đáp ứng tiêu dùng vừa có sản phẩm trao đổi. Khi đã tạo được thế đứng vươn lên làm giàu, lựa chọn sản phẩm vừa có nhu cầu trên thị trường, vừa có lợi thế của địa phương để sản xuất hàng hoá. Khi đã có hàng hoá, có chỗ đứng của hàng hoá rồi mở rộng sản xuất, phát huy cao lợi thế, từng bước đi vào chuyên môn hoá, tranh thủ ngoại lực để phát triển. Đó là bước đi của một nền nông nghiệp hàng hoá phát triển bền vững Giai đoạn nông nghiệp sản xuất hàng hóa bền vững. Đặc trưng của nó là nền nông nghiệp được thương mại hóa và chuyên môn hóa cao, khối lượng hàng hóa nhiều và chủng loại hàng hóa phong phú, có cơ sở vật chất - kỹ thuật hiện đại, cho phép hình thành và phát triển các vùng cây con chuyên môn hóa và thâm canh với quy mô lớn, cơ cấu sản xuất hợp lý, khai thác tối đa thế mạnh sản xuất nông nghiệp từng vùng, từng địa phương; thị trường Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.Lrc-tnu.edu.vn 19 được mở rộng cả trong và ngoài nước. Mục đích của sản xuất nông nghiệp hàng hóa là tối đa hóa lợi nhuận, sản phẩm trở thành hàng hóa đã được xác định từ trước khi quá trình sản xuất diễn ra. Do đó, sản xuất cái gì và sản phẩm như thế nào không phải xuất phát từ nhu cầu của người sản xuất mà xuất phát từ nhu cầu người mua, của thị trường. Thời kỳ này được tự do thương mại hóa nên con người sản xuất tìm mọi cách đưa tiến bộ khoa học công nghệ vào công nghiệp hoá và hiện đại hoá sản xuất nhằm làm tăng năng suất lao động, giảm giá thành sản phẩm để tối đa hoá lợi nhuận, nâng cao năng lực cạnh tranh sản phẩm trên thị trường. Vai trò của Nhà nước ở thời kỳ này chủ yếu là thiết lập hệ thống luật pháp, chính sách về thị trường, đào tạo cán bộ, cung cấp hàng hóa công cộng, tổ chức hệ thống dự báo, thông tin cho các cơ sở sản xuất, tạo ra môi trường kinh doanh thuận lợi cho các chủ thể kinh doanh nông nghiệp [16]. * Chuyên môn hóa cây con có lợi thế: Xuất phát từ đặc điểm của nền sản xuất nông nghiệp là đa dạng về tự nhiên và sinh học, để thúc đẩy kinh tế nông nghiệp hàng hóa phát triển, tăng khối lượng nông lâm sản hàng hóa, điều quan trọng là phải lựa chọn và phân bố chuyên môn hóa tập đoàn cây con thích hợp cho từng vùng theo hướng cây con có lợi thế. - Cây con được lựa chọn phải thích hợp với điều kiện thổ nhưỡng, khí hậu và môi trường, với khả năng canh tác của từng vùng, tiểu vùng, từng hộ gia đình về khả năng đầu tư và trình độ sản xuất, phát huy khai thác nội lực, tranh thủ ngoại lực. - Cây con được lựa chọn phải có khả năng phát triển tập trung, quy mô lớn để tạo ra khối lượng sản phẩm hàng hoá lớn phục vụ nhu cầu tiêu dùng Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.Lrc-tnu.edu.vn 20 của thị trường hay nguyên liệu cho công nghiệp chế biến trong vùng hoặc liên vùng, trong huyện và liên huyện một cách ổn định. - Cây con được lựa chọn trước mắt lợi dụng những cơ sở hạ tầng sẵn có như cơ sở chế biến, đường giao thông, đường điện... để giảm chi phí sản xuất và tiêu thụ nhưng về lâu dài phải tiếp thu được kỹ thuật mới và cơ sở hạ tầng mới, nguồn nhân lực mới để tăng được năng lực cạnh tranh trên thị trường. Quá trình hình thành và phát triển nông nghiệp hàng hóa bền vững là quá trình thực hiện mục đích tối đa hóa lợi nhuận và cũng là quá trình tái sản xuất hàng hoá mở rộng, ổn định. Hiện nay trên thế giới, tùy điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội của mỗi nước, mà nền nông nghiệp đang ở các giai đoạn phát triển khác nhau; ở nước ta hiện nay về căn bản vẫn là một nước nông nghiệp, hàng hóa nhỏ với một trình độ sản xuất nông nghiệp hàng hóa lạc hậu, chuyên môn hóa thấp, khối lượng nông sản hàng hóa được sản xuất ra chưa tương xứng với tiềm năng. Do vậy, đẩy nhanh sự phát triển nông nghiệp hàng hóa ở nước ta trong thời gian tới không chỉ là một tất yếu khách quan mà còn là một thuộc tính bên trong lâu dài của chính sự phát triển nền kinh tế - xã hội theo hướng XHCN Đối với nông nghiệp ở nước ta hiện nay, một số vùng, địa phương, bên cạnh sản xuất tự cung tự cấp cũng đã có một số sản phẩm trở thành hàng hóa với những quy mô và trình độ phát triển khác nhau như chè, cà phê, cao su, trâu bò, gà, lợn, nuôi trồng thủy sản... Các chính sách của Nhà nước cần có những thay đổi, điều chỉnh cho phù hợp với điều kiện phát triển của mỗi vùng thì có thể đẩy mạnh phát triển nông nghiệp hàng hoá bền vững. b. Các nhân tố ảnh hưởng đến phát triển nông nghiệp hàng hóa: Phát triển nông nghiệp hàng hóa có vai trò cực kỳ quan trọng trong đời sống kinh tế - xã hội của một quốc gia, nó tạo cơ sở cho các ngành trong nền Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.Lrc-tnu.edu.vn 21 KTQD phát triển, làm tăng khả năng tích lũy và làm biến đổi sâu sắc trong đời sống kinh tế - xã hội nông thôn. Chính vì vậy việc phát triển nông nghiệp hàng hóa là yêu cầu bức thiết trước mắt cũng như lâu dài đối với các quốc gia trên thế giới. Tuy nhiên, để phát triển nền nông nghiệp hàng hóa đạt trình độ cao còn tùy thuộc vào nhiều nhân tố. Có thể xem xét các nhân tố chủ yếu sau: * Thứ nhất: Nhân tố thị trường Thị trường có vai trò vừa là điều kiện, vừa là môi trường của kinh tế hàng hóa; nó thừa nhận giá trị và giá trị sử dụng, khối lượng nông sản hàng hóa tiêu thụ trên thị trường, nó điều tiết (thúc đẩy hoặc hạn chế) quan hệ kinh tế của cả người quản lý, nhà sản xuất và người tiêu dùng thông qua tín hiệu giá cả thị trường. Chính cái "phong vũ biểu" giá cả thị trường sẽ cung cấp tín hiệu, thông tin nhanh nhạy để điều tiết hành vi kinh tế của các chủ thể kinh tế sao cho có lợi nhất. Thông qua sự vận động của giá cả, thị trường có tác dụng định hướng cho người sản xuất điều chỉnh quy mô sản xuất, thay đổi mặt hàng, thay đổi kỹ thuật sản xuất cho phù hợp với nhu cầu của thị trường. Thị trường ngày càng phát triển góp phần làm cho nông nghiệp hàng hóa cũng ngày càng đa dạng, phong phú. Nó cũng lựa chọn, đòi hỏi cao về số lượng và chất lượng, phong phú về chủng loại nông sản hàng hóa. Nhân tố thị trường ảnh hưởng đến phát triển nông nghiệp hàng hóa ở đây được xem xét trên 2 góc độ: Thị trường đầu vào và thị trường đầu ra. Thị trường đầu vào: Bao gồm đất đai, lao động, khoa học, công nghệ sản xuất, vốn... trong đó đặc biệt là thị trường đất và lao động. Cũng như các hàng hoá khác, đất đai và lao động cũng trở thành hàng hoá. - Trong nông nghiệp, đất đai tham gia trực tiếp vào quá trình sản xuất ra sản phẩm, nó vừa là tư liệu lao động, vừa là đối tượng lao động và là tư liệu sản xuất chủ yếu, không thể thay thế được; hiệu quả của sản xuất nông nghiệp phụ thuộc vào hiệu quả sử dụng đất đai. Xác định rõ quyền sử dụng đất ổn Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.Lrc-tnu.edu.vn 22 định lâu dài cho một cá nhân hoặc một nhóm và như vậy nó tạo ra các chủ thể sản xuất thực sự làm chủ các tư liệu sản xuất, làm chủ trong sản xuất kinh doanh, từ đó làm chủ đối với nông sản phẩm và tạo ra sản phẩm đáp ứng nhu cầu thị trường. Việc cho phép nông dân được quyền sử dụng đất sản xuất lâu dài thì nguồn tài nguyên đất đai mới sử dụng có hiệu quả, được bảo vệ và phát triển độ màu mỡ trong quá trình khai thác, phát huy hết khả năng kinh doanh nông nghiệp của mình. Mặt khác, quá trình mua - bán, luân chuyển, chuyển nhượng quyền sử dụng đất sẽ dẫn đến đất đai vận động theo hướng tập trung, hình thành nên các trang trại, đồn điền, có quy mô sản xuất hàng hóa phù hợp, đem lại lợi nhuận cao. Người nông dân làm chủ sử dụng đất là điểm khởi đầu cho sự phát triển nông nghiệp hàng hóa. [ 4] - Cũng như đất đai, sức lao động là một trong hai yếu tố cơ bản cấu thành quá trình sản xuất và tái sản xuất nông nghiệp. Mở rộng thị trường lao động chính là môi trường tạo nên sự chuyển dịch người lao động từ nơi thừa đến nơi thiếu, từ việc làm không hiệu quả sang việc làm có hiệu quả hơn, tạo điều kiện để phân bố sức lao động hợp lý, phù hợp với khả năng, trình độ của người lao động trong nông nghiệp. Chính sự phân công lao động và chuyên môn hóa lao động trong nông nghiệp là cơ sở và là điều kiện để hình thành và phát triển nông nghiệp hàng hóa. Mặt khác, thị trường lao động có được phát triển hay không, nhanh hay chậm phụ thuộc nhiều vào một mặt là trình độ dân trí, khả năng lao động, kỹ năng nghề nghiệp, tính chất cần cù, thông minh.. Trên trực tế, trình độ của người sản xuất kinh doanh trong nông nghiệp hàng hóa phải cao hơn người sản xuất kinh doanh trong nền kinh tế tự nhiên, biểu hiện họ là những người dám kinh doanh làm giàu cho mình và cho xã hội. Họ dám bỏ sức lực và tiền của vào sản xuất cái gì có khả năng nhất, có hiệu quả nhất. Để thực hiện điều đó, đòi hỏi người sản xuất cần phải có những kiến thức cơ bản về khoa học - Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.Lrc-tnu.edu.vn 23 công nghệ, về quản trị kinh doanh, biết tiếp cận và nghiên cứu thị trường, nhận biết nhu cầu của thị trường, từ đó biết lựa chọn những cây, con nào được người tiêu dùng đánh giá cao và có sức mua lớn. Một mặt khác là sản xuất có được mở rộng hay không? có được chuyển đổi từ tự cung tự cấp sang sản xuất hàng hoá hay khôngg? điều này lại phụ thuộc vào thị trường đầu vào, phụ thuộc vào trình độ phát triển của khoa học công nghệ sản xuất, trình độ khoa học kỹ thuật và cơ sở vật chất kỹ thuật, trình độ sử dụng khoa học công nghệ và kỹ thuật sản xuất. Tiến bộ khoa học công nghệ trong nông nghiệp được biểu hiện những nội dung cơ bản sau: - Ứng dụng tiến bộ công nghệ sinh học vào sản xuất. - Hoàn thiện hệ thống quy trình kỹ thuật sản xuất, quy trình công nghệ bảo quản, chế biến sản phẩm. - Tiến bộ kỹ thuật trong việc sử dụng cải tạo đất, sử dụng nguồn nước phục vụ nông nghiệp, nông thôn và bảo vệ môi trường. - Tiến bộ kỹ thuật trong việc sử dụng các phương tiện hóa học như phân bón, thuốc bảo vệ cây trồng vật nuôi, thuốc kích thích tăng trưởng, vật liệu hóa học xây dựng... - Những tiến bộ liên quan đến người lao động nông nghiệp bao gồm: Trình độ văn hóa, trình độ quản lý, kỹ năng, kỹ xảo, trình độ lành nghề, trình độ tiếp thị... - Tiến bộ kỹ thuật trong việc trang bị và sử dụng các phương tiện cơ khí như: Máy công tác hay là công cụ lao động nói chung; hệ thống các công trình thủy lợi; các yếu tố thuộc kết cấu hạ tầng phục vụ sản xuất như đường sá, phương tiện giao thông, thông tin liên lạc, nhà xưởng, kho bãi... Các nhân tố nêu trên được coi là hệ thống cơ sở vật chất kỹ thuật, chính là "giá đỡ vật chất", là bộ xương sống của sản xuất, là nhân tố trực tiếp làm Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.Lrc-tnu.edu.vn 24 thay đổi trạng thái của sản xuất, nâng cao năng suất, chất lượng, hiệu quả của sản xuất và tiêu thụ sản phẩm hàng hóa nông sản. Ngày nay ở các nước kinh tế phát triển, khoa học- công nghệ đang được ứng dụng rộng rãi và nó đã ảnh hưởng, tác động rất lớn đến trình độ, quy mô phát triển nông nghiệp hàng hóa. Trong nền sản xuất hàng hóa, vốn là một trong những yếu tố quan trọng để tiến hành sản xuất kinh doanh. Vốn ở đây được xét theo nghĩa hẹp, nó được biểu hiện một lượng tiền mặt nào đó, nó có thể biến thành một nguồn lực cần thiết để tiến hành sản xuất kinh doanh. Thực tế cho thấy, tốc độ và quy mô sản xuất nông nghiệp hàng hóa tùy thuộc vào mức thu nhập và khả năng tích lũy vốn của các đơn vị, các chủ thể sản xuất kinh doanh nông nghiệp cũng như sự đầu tư hỗ trợ của Nhà nước ở cả hai khía cạnh tỷ trọng vốn đầu tư và chính sách đầu tư. Do đó, vốn và việc sử dụng vốn có ảnh hưởng quan trọng đến phát triển nông nghiệp hàng hóa. Đối với doanh nghiệp sản xuất nông nghiệp hoặc hộ nông dân, muốn nâng cao trình độ sản xuất hàng hóa thì không những cần có lượng vốn đầu tư đủ lớn mà quan trọng là cần phải biết cách nâng cao hiệu quả của việc sử dụng vốn. Nhưng trên thực tế cả hai vấn đề này các chủ thể sản xuất kinh doanh trong nông nghiệp gặp rất nhiều khó khăn; hộ nông dân là những người có ít vốn đầu tư và trình độ sản xuất kinh doanh và trình độ quản lý thấp. Do vậy, muốn đẩy nhanh tốc độ phát triển nông nghiệp hàng hóa đòi hỏi phải có sự đầu tư hỗ trợ của Nhà nước thông qua hệ thống tài chính, tín dụng và các hình thức huy động vốn khác. Có như vậy mới tạo ra sự đột phá để đẩy nhanh sự phát triển nông nghiệp hàng hóa. Thị trường đầu ra: Việc xây dựng thị trường đầu ra cho nông nghiệp hàng hóa là cơ sở để các doanh nghiệp tồn tại và phát triển. Trong nền sản xuất hàng hóa, sản phẩm sản xuất ra là nhằm để bán và trao đổi trên thị trường. Do vậy, điều kiện cơ bản để các chủ thể kinh tế trong nông nghiệp Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.Lrc-tnu.edu.vn 25 tiến hành hoạt động kinh doanh của mình là phải xác định được thị trường đầu ra, tìm kiếm được khách hàng và lựa chọn được phương thức tiêu thụ sản phẩm. Thị trường tiêu thụ sản phẩm trong nông nghiệp rất đa dạng và phong phú, đó có thể là các doanh nghiệp công nghiệp (các cơ sở công nghiệp chế biến nông sản), các doanh nghiệp thương mại (các nhà bán buôn, bán lẻ, các đại lý...) và những người tiêu dùng, nông lâm sản thông qua các chợ nông thôn các đại lý tiêu thụ, các cơ sở chế biến công nghiệp tiêu thụ ở thị trường nước ngoài thông qua các nhà xuất khẩu các hợp đồng kinh tế, khả năng khai thác và mở rộng thị trường của các cơ sở sản xuất kinh doanh nông nghiệp là nhân tố hết sức quan trọng quyết định quy mô và trình độ phát triển nông nghiệp hàng hóa. * Thứ hai: Nhóm nhân tố thuộc về điều kiện tự nhiên Trong nông nghiệp đối tượng của sản xuất là những cây trồng và vật nuôi. Nó là những cơ thể sống, phát triển theo quy luật sinh học nhất định, rất nhạy cảm với những yếu tố ngoại cảnh, mọi sự thay đổi về điều kiện thời tiết khí hậu đều tác động trực tiếp đến phát triển của cây trồng, vật nuôi, đến năng suất và chất lượng sản phẩm. Trong quá trình sản xuất, người lao động phải nghiên cứu rất cụ thể đặc tính sinh học của các loại cây trồng, vật nuôi liên quan đến điều kiện tự nhiên, nơi định bố trí sản xuất loại cây trồng, vật nuôi đó để bố trí cơ cấu cây trồng, vật nuôi phù hợp với từng vùng tự nhiên cụ thể mới đưa lại hiệu quả. Chính vì vậy, đối với phát triển nông nghiệp hàng hóa, đòi hỏi phải nghiên cứu tạo ra những giống mới có năng suất cao, chất lượng tốt, thích hợp với điều kiện tự nhiên của từng vùng, từng địa phương. Mặt khác, sự khác biệt về điều kiện tự nhiên giữa các vùng lãnh thổ đã hình thành nên các vùng cây con đặc sản có lợi thế cạnh tranh rất cao. Đây cũng là nhân tố quan trọng ảnh hưởng đến sự phát triển nền nông nghiệp hàng hóa cần phải Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.Lrc-tnu.edu.vn 26 nghiên cứu để tận dụng tối đa điều kiện tự nhiên trong sản xuất hàng hóa nông nghiệp. * Thứ ba: Nhóm nhân tố thuộc về tthể chế, chính sách kinh tế vĩ mô của Nhà nước Chính sách kinh tế vĩ mô có ý nghĩa tạo ra môi trường kinh doanh để hình thành nền nông nghiệp hàng hóa. Vì thế, nếu chính sách đúng đắn, thích hợp nó sẽ phát huy được tính năng động của các chủ thể sản xuất - kinh doanh, khai thác tốt nhất mọi tiềm năng thế mạnh của đất nước, thúc đẩy sự phát triển nông nghiệp hàng hóa và ngược lại nếu các chính sách kinh tế vĩ mô của Nhà nước không đúng đắn, không thích hợp nó sẽ trở thành yếu tố kìm hãm sự phát triển nông nghiệp hàng hóa. Trong nền kinh tế thị trường Nhà nước thông qua các chính sách để điều tiết thị trường theo định hướng XHCN như: Chính sách đất đai, chính sách đầu tư và tín dụng, chính sách khoa học- công nghệ, chính sách tiêu thụ nông sản...các chính sách này vừa tạo điều kiện phát triển sản xuất, vừa tạo điều kiện thu hút, đầu tư để thúc đẩy sự hình thành và phát triển nông nghiệp hàng hóa. Phát triển khoa học- công nghệ, cung cấp dịch vụ thông tin, đầu tư xây dựng hệ thống kết cấu hạ tầng (hệ thống đường giao thông, điện, thủy lợi, hệ thống thông tin liên lạc...), cung cấp vốn, tín dụng…những vấn đề này thể hiện sự can thiệp và trợ giúp của Nhà nước có vai trò hết sức quan trọng và là nhân tố không thể thiếu được trong phát triển nông nghiệp hàng hóa phát triển bền vững. Các nhóm nhân tố nêu trên có mối quan hệ cùng thúc đẩy sản xuất hàng hoá phát triển bền vững, trong mỗi nhóm nhân tố đều có mặt tích cực riêng song nếu giải quyết không đồng bộ thì sản xuất hàng hoá hoặc không phát triển được hoặc không bền vững Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.Lrc-tnu.edu.vn 27 Đối với nền nông nghiệp Việt Nam, trong tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế và khu vực, với việc từng bước tham gia các thị trường AFTA, và WTO, thì tất yếu khách quan phải chuyển nền kinh tế nói chung, nông nghiệp nói riêng sang sản xuất hàng hóa. Vì thế, nghiên cứu để thực thi một hệ thống thể chế pháp lý và chính sách có ý nghĩa quan trọng hàng đầu. Vì có phát huy được lợi thế so sánh, nhằm làm tăng các loại sản phẩm, giá trị sản xuất hàng hóa ngành nông nghiệp, thỏa mãn ngày càng cao về nhu cầu nông sản phẩm cho sản xuất, đời sống và xuất khẩu, góp phần thúc đẩy nhanh tiến trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành nông nghiệp theo hướng công nghiệp hóa hiện đại hóa. 1.1.2. Kinh nghiệm phát triển nông nghiệp theo hướng sản xuất hàng hoá ở một số nước trên thế giới và ở Việt Nam 1.1.2.1. Kinh nghiệm phát triển nông nghiệp theo hướng sản xuất hàng hoá ở một số nước trên thế giới Phát triển nông nghiệp, nông thôn theo hướng hiện đại hóa và bền vững là bước đi thích hợp của nhiều nước trên thế giới trong chiến lược phát triển kinh tế. Trên cả phương diện lý luận và thực tiễn đều cho thấy, không có một công thức phát triển chung cho quá trình hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn đối với tất cả các nước. Mỗi nước có cách đi riêng, tùy theo những đặc điểm, điều kiện cụ thể của mình, dưới đây là kinh nghiệm phát triển nông nghiệp của một số nước ở Châu Á : * Phát triển nông nghiệp, nông thôn ở Trung Quốc: Trung Quốc là nước có nền nông nghiệp lớn và lâu đời nhất thế giới, đồng thời là một trong những chiếc nôi của nền nông nghiệp thế giới. Do đó, nền nông nghiệp Trung Quốc đã tích lũy nhiều kinh nghiệm thâm canh cổ truyền với một hệ thống công cụ sản xuất thủ công phong phú, đa dạng, tận Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.Lrc-tnu.edu.vn 28 dụng nguồn lao động dồi dào ở nông thôn, bảo đảm sản xuất nông nghiệp tự túc, tự cấp có hiệu quả cao. Kể từ khi tiến hành công cuộc cải cách, mở cửa đến nay, nền nông nghiệp Trung Quốc đã có nhiều thay đổi, phát triển theo hướng hiện đại hóa và bền vững. Kinh tế nông nghiệp Trung Quốc đã có sự chuyển dịch cơ cấu tích cực nhằm tạo ra năng suất cây trồng, vật nuôi cũng như hiệu quả lao động cao, sản xuất nhiều nông sản hàng hóa. Nông nghiệp, nông thôn Trung Quốc đã có những bước thay đổi to lớn và đạt được những thành tựu đáng kể, đời sống nông dân được cải thiện từng bước, một bộ phận dân cư đã có đời sống khá giả. Là nước có diện tích đất canh tác khan hiếm và eo hẹp, tỷ lệ lao động trong nông nghiệp cao, Trung Quốc chủ trương nâng cao hiệu quả sử dụng đất và cải tạo đất trồng, giải quyết vấn đề dôi dư lao động. Vì vậy, quốc gia này đã thực hiện thu hẹp kiểu kinh doanh cần nhiều lao động, mở rộng việc kinh doanh tập trung vốn và kỹ thuật. Đó là điều có lợi cho nông dân, cho công cuộc cải cách nông thôn và việc phân bổ tối ưu các nguồn lực trong sản xuất nông nghiệp. Thực tế cho thấy, phương thức kinh doanh trên những mảnh ruộng manh mún cổ truyền trước đây không còn phù hợp với việc thâm canh bằng tập trung vốn và kỹ thuật. Chỉ có phương thức kinh doanh với quy mô lớn mới tạo tiền đề cho việc đầu tư nhiều vốn và kỹ thuật nhằm đạt tới một nền sản xuất hiện đại và bền vững. Hiện nay, nông nghiệp vẫn đóng một vai trò hết sức quan trọng và đóng góp lớn vào sự phát triển kinh tế - xã hội của Trung Quốc. Tổng kết kinh nghiệm 20 năm cải cách và phát triển kinh tế nông thôn, Đảng Cộng sản Trung Quốc chỉ rõ: "Không có sự ổn định của nông thôn sẽ không có sự ổn định của cả nước, không có sự sung túc của nông dân sẽ không có sự sung túc của nhân dân cả nước, không có hiện đại hóa nông nghiệp sẽ không có hiện đại hóa của toàn bộ nền kinh tế quốc dân". Đảng Cộng sản Trung Quốc khẳng Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.Lrc-tnu.edu.vn 29 định rằng, hiện nay và trong một thời gian dài nữa, nông nghiệp Trung Quốc vẫn giữ vị trí hàng đầu trong chiến lược phát triển kinh tế; hiện đại hóa nông nghiệp là một bộ phận trọng yếu trong tiến trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Quan điểm trên xuất phát từ thực tế là ở Trung Quốc, nông nghiệp có vai trò mà không một ngành kinh tế nào có thể thay thế được. Tuy nhiên, trên thực tế, nông nghiệp Trung Quốc vẫn chưa đạt tới trình độ hiện đại hóa và bảo đảm sự phát triển bền vững. Vì vậy, hiện đại hóa nông nghiệp nhằm thúc đẩy nông nghiệp phát triển trở thành đòi hỏi cấp bách hơn bao giờ hết. Trong những năm gần đây, Trung Quốc đã ban hành một loạt chính sách có lợi cho việc giải quyết vấn đề "tam nông" như: thực hiện xóa bỏ thuế nông nghiệp và phụ thu thuế nông nghiệp; trợ cấp cho nông dân sản xuất lương thực; thực hiện chế độ khám chữa bệnh loại hình mới trong cả nước, trong đó có việc giải quyết khám chữa bệnh cho nông dân... Qua hơn 20 năm cải cách nông nghiệp, xây dựng nền nông nghiệp theo hướng hiện đại hóa và phát triển bền vững, Trung Quốc đã thu được những bài học kinh nghiệm cả về lý luận và thực tiễn. Đó là: Bảo đảm đầy đủ quyền tự chủ, phát huy tính tích cực của nông dân; phát triển nhiều loại hình sở hữu kinh tế, trong đó công hữu là chủ thể, thực hiện sở hữu tập thể đối với ruộng đất kinh doanh khoán gia đình, tách quyền sử dụng với quyền sở hữu; cải cách theo hướng thị trường, tạo ra sức sống mới cho kinh tế nông thôn; xây dựng địa vị chủ thể của trang trại trong kinh doanh tự chủ của các nông hộ, khuyến khích nông dân phát triển sản xuất hàng hóa hướng về thị trường; tôn trọng tinh thần sáng tạo của nông dân, thúc đẩy sự nghiệp cải cách, khoán chế độ trách nhiệm đến hộ gia đình và phát triển các xí nghiệp hương trấn; kiên trì đường lối căn bản “từ quần chúng mà ra, đi vào quần chúng"; coi trọng cao độ nông nghiệp, kết hợp cải cách nông thôn và cải cách thành thị... Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.Lrc-tnu.edu.vn 30 * Thái Lan với chiến lược xây dựng nền nông nghiệp chất lượng cao, sức cạnh tranh mạnh: Thái Lan là nước có nền nông nghiệp chiếm địa vị chi phối, dân số nông thôn chiếm khoảng 80% dân số cả nước. Nông nghiệp Thái Lan trong hàng thập kỷ qua đã chứng tỏ vai trò quan trọng, góp phần tăng trưởng kinh tế, bảo đảm chất lượng cuộc sống cho người dân. Chính phủ Thái Lan xác định hướng chiến lược là xây dựng nền nông nghiệp với chất lượng cao, có sức cạnh tranh mạnh. Do đó, những năm gần đây, Thái Lan tập trung mũi nhọn phát triển mạnh hàng chế biến nông sản và công nghiệp phục vụ nông nghiệp. Hiện Thái Lan có tới hơn 1/4 số xí nghiệp gia công sản phẩm được xây dựng ngay tại nông thôn, nhờ đó đã tạo dựng sự vững mạnh, ổn định về kinh tế cũng như nâng cao chất lượng cuộc sống người nông dân. Bên cạnh đó, Chính phủ còn chú trọng xây dựng các tổ chức nông nghiệp và phát triển hệ thống điều hành nông nghiệp và nông thôn trên cơ sở sử dụng tài nguyên thiên nhiên một cách khoa học và hợp lý hướng tới phát triển bền vững. Để thúc đẩy sự phát triển bền vững nền nông nghiệp, Thái Lan đã áp dụng một số chiến lược như: Tăng cường vai trò các cá nhân và các tổ chức hoạt động trong lĩnh vực nông nghiệp; đẩy mạnh phong trào học tập, nâng cao trình độ của từng cá nhân và tập thể bằng cách mở các lớp học và các hoạt động chuyên môn trong lĩnh vực nông nghiệp và nông thôn; tăng cường công tác bảo hiểm xã hội cho nông dân, giải quyết tốt vấn đề nợ trong nông nghiệp; giảm nguy cơ rủi ro và thiết lập hệ thống bảo đảm rủi ro cho nông dân. Đối với các sản phẩm nông sản, Nhà nước tăng cường sức cạnh tranh của hàng hóa nông sản bằng việc tăng khả năng tổ chức và tiếp thị thị trường. Phân bổ khai thác tài nguyên thiên nhiên một cách khoa học và hợp lý, ngăn chặn tình trạng khai thác tài nguyên bừa bãi và kịp thời phục hồi những khu vực mà tài nguyên đã bị suy thoái. Giải quyết tốt những mâu thuẫn về tư tưởng trong Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.Lrc-tnu.edu.vn 31 nông dân có liên quan đến việc sử dụng tài nguyên lâm, thủy hải sản, đất đai, đa dạng sinh học, phân bổ đất canh tác. Về xây dựng kết cấu hạ tầng, Nhà nước đã có chiến lược trong xây dựng và phân bố hợp lý các công trình thủy lợi lớn phục vụ cho nông nghiệp. Hệ thống thủy lợi bảo đảm tưới tiêu cho hầu hết đất canh tác trên toàn quốc, góp phần nâng cao năng suất lúa và các loại cây trồng khác trong sản xuất nông nghiệp. Chương trình điện khí hóa nông thôn với các dự án thủy điện vừa và nhỏ được triển khai rộng khắp cả nước. Một trong những tiêu chí để phát triển nông nghiệp, nông thôn bền vững và hiện đại hóa là cơ giới hóa nông nghiệp và áp dụng các quy trình kỹ thuật sản xuất tiên tiến. Thái Lan chú trọng phát triển cơ giới hóa nhằm đưa nông nghiệp đi vào thâm canh, cải tạo và xây dựng nông thôn. Phát triển mạng lưới xí nghiệp cơ khí nhỏ và vừa của tư nhân ở các thành phố, thị trấn và nông thôn. Khuyến khích nông dân mua máy móc do các xí nghiệp cơ khí trong nước chế tạo, có cơ chế bảo hành và sửa chữa miễn phí trong vòng từ 1 đến 3 năm. Đẩy mạnh công tác nghiên cứu cải tạo đất, áp dụng công nghệ sinh học để lai tạo giống cây trồng, vật nuôi; thực hiện việc chuyển giao công nghệ nuôi cấy phôi; nghiên cứu các công nghệ bảo quản sau thu hoạch. Thái Lan còn chú trọng phát triển các ngành mũi nhọn như hàng nông, hải sản phục vụ xuất khẩu, thúc đẩy mạnh mẽ công nghiệp chế biến nông sản cho tiêu dùng trong nước và xuất khẩu sang các nước khác, nhất là các nước công nghiệp phát triển. Hiện nay, ngoài mặt hàng xuất khẩu truyền thống như gạo, ngô, cao su, đường, nông nghiệp Thái Lan còn có nhiều mặt hàng xuất khẩu mới như hải sản đông lạnh, gia cầm, hoa quả tươi, chế biến rau xanh và sắn củ. Nhờ có chính sách khuyến khích nông nghiệp phát triển mạnh, Thái Lan đã đứng đầu thế giới về xuất khẩu gạo (khoảng 5 triệu tấn/năm), là nước xuất khẩu thực phẩm mạnh nhất khu vực Đông - Nam Á. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.Lrc-tnu.edu.vn 32 Giáo dục và đào tạo cũng hướng vào nông nghiệp, nông thôn với các chương trình đào tạo phát triển kỹ năng cho nông dân và người quản lý đất đai, quản lý kinh doanh, bảo vệ môi trường và an toàn sức khỏe. Ngoài ra, còn có những hoạt động đào tạo truyền thống như tạo công ăn việc làm trong lĩnh vực hoạt động nông nghiệp nhằm góp phần thu hút lực lượng lao động đông đảo là thanh niên. Thái Lan thực hiện chính sách "ưu đãi nông nghiệp nông thôn - nông dân" nhằm ổn định chính trị - xã hội. * Chiến lược phát triển nông nghiệp, nông thôn ở Nhật Bản: Nhật Bản là nước có diện tích đất đai canh tác có hạn, số lượng người đông, đơn vị sản xuất nông nghiệp chính tại Nhật Bản vẫn là các hộ gia đình nhỏ, mang đậm tính chất của nền văn hóa lúa nước. Với đặc điểm tự nhiên và xã hội, trong phát triển nông nghiệp Nhật Bản đã đề ra một chiến lược khôn khéo và hiệu quả, như tăng năng suất nền nông nghiệp quy mô nhỏ (bằng cách thâm canh tăng năng suất trên đơn vị diện tích và trên đơn vị lao động để nông nghiệp Nhật Bản cung cấp đầy đủ lương thực, thực phẩm cho nhu cầu của nhân dân); dưỡng sức dân, tạo khả năng tích lũy và phát huy nội lực; thâm canh tăng năng suất; xuất khẩu nông, lâm sản (nguồn thu ngoại tệ quan trọng) để nhập khẩu máy móc, thiết bị phục vụ công nghiệp hóa; phi tập trung hóa công nghiệp, đưa sản xuất công nghiệp về nông thôn, gắn nông thôn với công nghiệp, gắn nông thôn với thành thị. Những bước đi thích hợp này là những điều kiện quan trọng để phát triển nông nghiệp, nông thôn Nhật Bản theo hướng hiện đại hóa. Để tạo cơ sở thúc đẩy nông nghiệp tăng trưởng và phát huy tác dụng máy móc, thiết bị và hóa chất cho quá trình cơ giới hóa và hóa học hóa nông nghiệp, tạo ra năng suất lao động cao trong nông nghiệp, Nhật Bản đã chú trọng phát triển, xây dựng và hoàn thiện kết cấu hạ tầng, hệ thống năng lượng và thông tin liên lạc hoàn chỉnh, phân bổ các ngành công nghiệp chế biến Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.Lrc-tnu.edu.vn 33 dùng nguyên liệu nông nghiệp (như tơ tằm, dệt may...), các ngành cơ khí, hóa chất trên địa bàn nông thôn toàn quốc. Tạo việc làm cho lao động nông thôn, ngăn chặn làn sóng lao động rời bỏ nông thôn ra thành thị. Chính phủ Nhật Bản thường xuyên có chính sách trợ giá nông sản cho các vùng nông nghiệp mũi nhọn. Phát triển nông nghiệp, nông thôn theo hướng bền vững và hiện đại hóa hiện là xu thế tất yếu trong chiến lược phát triển kinh tế các nước. Trung Quốc, Thái Lan, Nhật Bản đều thực hiện chính sách lấy nông nghiệp làm nền tảng ổn định xã hội và tích lũy cho công nghiệp, thu hút vốn đầu tư, phát triển công nghiệp hướng vào xuất khẩu... làm tăng nhanh tiềm lực kinh tế đất nước. Chiến lược phát triển nông nghiệp, nông thôn theo hướng hiện đại hóa và phát triển bền vững của các nước này là bài học kinh nghiệm để chúng ta tham khảo và học tập [6]. 1.1.2.2. Kinh nghiệm phát triển nông nghiệp theo hướng sản xuất hàng hoá ở Việt Nam Trước năm 1980, sản xuất nông nghiệp nước ta lâm vào tình trạng đình đốn do mô hình hợp tác kiểu cũ và cơ chế kế hoạch hoá tập trung không phù hợp. Vào những năm cuối của thập niên 80 của thế kỷ XX, mức sản xuất lương thực bình quân đầu người liên tục giảm, lượng gạo hàng năm nhập khẩu tăng lên gần 1 triệu tấn, tình trạng khoán chui diễn ra phổ biến. Chỉ thị 100/CT-TW ngày 13/01/1981 của Ban chấp hành Trung ương Đảng đã bước đầu giải phóng lao động nông dân, gắn trách nhiệm và lợi ích của họ với sản phẩm cuối cùng trên ruộng khoán, khuyến khích đầu tư thêm lao động, phân bón, vật tư để thu thêm nhiều sản phẩm vượt khoán. Kết quả đã đem lại 6-7 vụ được mùa liên tiếp, sản lượng lương thực tăng gần 1 triệu tấn/năm. Bắt đầu từ cuối năm 1983 đến 1984, động lực khoán sản phẩm đến nhóm và người lao động có dấu hiệu suy giảm, bởi lẽ khoán sản phẩm mới chỉ Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.Lrc-tnu.edu.vn 34 điều chỉnh cơ chế phân phối và cơ chế quản lý giữa người lao động và hợp tác xã, giữa công nhân lao động và nông trường, chưa thiết lập đầy đủ quyền làm chủ cho các hộ nông dân. Nghị quyết 10-NQ/TW ngày 5/4/1988 về đổi mới quản lý kinh tế nông nghiệp đã chính thức thừa nhận vai trò của kinh tế hộ và coi kinh tế hộ là đơn vị kinh tế tự chủ trong nông nghiệp. Đồng thời nhiều chính sách khác được thực hiện như xoá bỏ chế độ độc quyền thu mua nông sản, xoá bỏ chế độ 2 giá, thực hiện chính sách khuyến khích nông dân tăng sản lượng để bán ra thị trường, cải cách chế độ thuế và hỗ trợ đối với nông nghiệp, từng bước cải cách pháp lý để hỗ trợ kinh tế thị trường phát triển trong nông nghiệp...Kết quả là đến năm 1995, lần đầu tiên hầu hết các chỉ tiêu kế hoạch 5 năm 1991-1995 trong đó có chỉ tiêu nông nghiệp, đều hoàn thành và hoàn thành vượt mức, đưa nước ta thành nước xuất khẩu trên dưới 3 triệu tấn gạo/năm. Từ năm 1995 đến nay, đối mới trong nông nghiệp tiếp tục được thực hiện để tăng trưởng và hội nhập. Tháng 11/1998, Bộ Chính trị ra nghị quyết số 06-NQ/TW về một số vấn đề nông nghiệp và kinh tế nông thôn, trong đó khẳng định vấn đề trọng yếu là kinh tế trang trại. Tháng 2 năm 2000, Chính phủ ra nghị quyết 03 về phát triển kinh tế trang trại...Những văn bản chính sách về khuyến khích phát triển nông nghiệp tiếp tục được hoàn thiện tạo động lực cho nông nghiệp nước ta phát triển và đã đạt được những thành tựu quan trọng: + Sản xuất lương thực tiếp tục tăng cả về số lượng và chất lượng, đáp ứng ngày càng tốt hơn nhu cầu thị trường. Đến năm 2007, sản lượng lương thực có hạt cả nước đạt 40 triệu tấn (trong đó lúa là 35,9 triệu tấn) nâng mức lương thực có hạt bình quân đầu người từ 444 kg năm 2000 lên 469,5 kg năm 2007. Đây là một chỉ tiêu rất quan trọng để một nước đang phát triển có thể thực hiện đẩy mạnh công nghiệp hoá thực sự. Trong vòng 10 năm, sản xuất Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.Lrc-tnu.edu.vn 35 lương thực tăng hơn 13 triệu tấn, mỗi năm tăng hơn 1 triệu tấn. Giai đoạn 2001-2007, các sản phẩm trồng trọt khác đều tăng với tốc độ khá như chè búp khô tăng 51,5%, cao su mủ khô tăng 61%, hạt tiêu 172,67%, đỗ tương 84%, lạc 42%...Một số cây trồng có lợi thế cạnh tranh là gạo, cà phê, cao su, tiêu. Sản lượng các loại cây trồng đều tăng nhanh, trong khi đó diện tích gieo trồng các loại cây lương thực giảm từ 8,44 triệu ha năm 2000 xuống còn 8,27 triệu ha năm 2007, riêng diện tích trồng lúa giảm mạnh từ 7,66 triệu ha xuống còn 7,2 triệu ha. Về cơ bản đã khắc phục được tình trạng độc canh cây lúa trên phần lớn diện tích, làm giá trị sản xuất trên 1 ha đất canh tác tăng từ 17 triệu đồng năm 2000 lên trên 30 triệu đồng năm 2007; Riêng ở đồng bằng sông Hồng và đồng bằng sông Cửu Long đạt xấp xỉ 40 triệu đồng /ha. Diện tích đạt trên 50 triệu đồng/ha đã tăng từ 10% lên 20%. Chăn nuôi phát triển toàn diện theo hướng sản xuất hàng hoá. Từ năm 2000 đến 2007, ngành chăn nuôi đạt tốc độ tăng trưởng khá, tăng cao nhất là năm 2005 đạt 11,4%, năm 2007 tăng 4,6%. Sản lượng thịt lợn hơi xuất chuồng năm 2007 đạt 2,55 triệu tấn, tăng 80,4% so năm 2000. Chăn nuôi trâu bò tương đối ổn định qua các năm, tính bình quân giai đoạn 2000-2007, sản lượng thịt trâu, bò tăng bình quân 9,8%/năm. Đàn bò sữa phát triển nhanh, năm 2005 cả nước có 104 ngàn con, sản lượng sữa đạt 198 ngàn tấn, tăng gấp 4 lần so năm 2000 và tăng bình quân trên 30%/năm. Chăn nuôi gia cầm tăng trưởng bình quân 7,6%/năm giai đoạn 2000-2003. Đến năm 2007, tổng đàn gia cầm cả nước đạt 226 triệu con, đạt 358,8 ngàn tấn thịt hơi. Về cơ bản, ngành chăn nuôi nước ta đã đáp ứng được nhu cầu tiêu dùng trong nước và một phần xuất khẩu. Ngành lâm nghiệp phát triển và đạt được một số thành tựu: Tốc độ tăng trưởng của ngành lâm nghiệp bình quân đạt 1,4%/năm. Với thành tựu bảo toàn và phát triển được vốn rừng. Độ che phủ của rừng năm 1990 là 27,7%, Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.Lrc-tnu.edu.vn 36 đến năm 2005 đạt 37,3%. Từ năm 2000 đến nay, bình quân hàng năm trồng được gần 200 ngàn ha rừng. Các khâu khoanh nuôi tái sinh, khoán quản lý bảo vệ rừng theo phương thức”giao đất khoán rừng” đều đạt và vượt kế hoạch. Thành tựu đáng ghi nhận trong việc khai thác và chế biến lâm sản từ rừng là tỷ lệ gỗ khai thác từ trồng đã tăng lên, từ 47,4% năm 1998 lên 62,4% năm 2000 và đạt cao hơn trong những năm gần đây. Ngành thuỷ sản đang vươn lên thành ngành mũi nhọn trong nông lâm thuỷ sản. Đến năm 2007, sản lượng thuỷ sản cả nước đạt hơn 4,15 triệu tấn, tăng gấp 2,6 lần so với năm 2000. Thành tựu đáng chú ý nhất là diện tích và sản lượng nuôi trồng thuỷ sản tăng trưởng ở mức cao. So với năm 2000, năm 2007 diện tích nuôi tăng gấp 1,57 lần và sản lượng tăng gấp hơn 3,5 lần, đạt 2.085,2 ngàn tấn. Trong quá trình phát triển, các hoạt động khai thác, nuôi trồng và chế biến thuỷ sản đã gắn kết chặt chẽ. Các khâu trọng yếu về hạ tầng kỹ thuật phục vụ nuôi trồng, khai thác, chế biến đã được đầu tư, từng bước hiện đại hoá. Hình thức tổ chức sản xuất trong nông nghiệp đã có nhiều chuyển biến. Nghị định số 03/NĐ-CP năm 2000 của Chính phủ đã tạo điều kiện pháp lý thuận lợi cho kinh tế trang trại phát triển. Năm 2006 cả nước có 72,02 ngàn hộ trang trại, tăng 16 ngàn hộ so với năm 2000, thu hút khoảng 240 ngàn lao động. Kinh tế hợp tác xã ngày càng phát triển, năm 2006 có 6.971 hợp tác xã, trong đó có 5.847 hợp tác xã cũ chuyển đổi, 1.124 hợp tác xã mới thành lập. Các hình thức liên doanh liên kết đã tạo ra những năng lực phát triển mới mang lại hiệu quả trong sản xuất nông nghiệp. Sản xuất nông lâm nghiệp thuỷ sản phát triển sau đổi mới đã làm cho kim ngạch xuất khẩu hàng nông sản tăng nhanh chóng, năm 2007 đạt trên 12 tỷ USD với 1.229,2 ngàn tấn cà phê, 152,5 ngàn tấn hạt điều, 82,9 ngàn tấn hạt tiêu, 114,5 ngàn tấn chè, cao su thiên nhiên đạt 714,9 ngàn tấn, thuỷ sản Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.Lrc-tnu.edu.vn 37 đạt 3,8 tỷ USD, tăng gấp 2,53 lần so năm 2000. Thị trường xuất khẩu được đa dạng hơn, có nhiều thị trường mới cho hàng nông, lâm, thuỷ sản. Bên cạnh những kết quả đạt được, nông nghiệp nông thôn nước ta còn gặp một số khó khăn, thách thức, đó là: Cơ cấu kinh tế nông nghiệp nông thôn chuyển dịch chậm so với yêu cầu công nghiệp hoá, hiện đại hoá. Tốc độ giảm tỷ trọng nông lâm nghiệp thuỷ sản trong GDP cả nước đã chậm lại, năm 1990, tỷ trọng này là 38,74%, năm 2000 còn 24,53%, bình quân mỗi năm giảm 1,4%, nhưng giai đoạn 2001-2007 chỉ giảm dưới 0,8%/năm, còn 20,3% năm 2007. Cơ cấu sản xuất nông nghiệp vẫn thể hiện tính độc canh, tự túc, phân tán và quy mô nhỏ. Chăn nuôi chiếm tỷ trọng 24% và không vững chắc. Phương thức chăn nuôi phân tán dưới hình thức hộ gia đình với kỹ thuật thủ công và chăn nuôi tận dụng vẫn là phổ biến. Số trang trại chăn nuôi tuy có tăng lên nhưng mới chỉ chiếm khoảng 3% số trang trại cả nước và sản phẩm chăn nuôi của trang trại cũng chỉ chiếm khoảng 10% tổng sản phẩm chăn nuôi. Các sản phẩm trồng trọt xuất khẩu ngoài gạo, cao su, cà phê chỉ đạt mấy chục ngàn tấn/năm. Nhiều loại sản phẩm xuất khẩu chủ yếu dưới hình thức tiểu ngạch sang Trung Quốc như rau, quả, cao su,... Dân số và lực lượng lao động còn lưu lại trong nông nghiệp nông thôn khá cao. Năm 2007, trong số trên 30 triệu lao động nông thôn, lao động sản xuất nông lâm nghiệp thuỷ sản chiếm tới 23,89 triệu người và chưa có dấu hiệu thuyên giảm do tình trạng thất nghiệp (tỷ lệ sử dụng thời gian lao động ở nông thôn mới đạt trên 80% năm 2007) và tốc độ chuyển dịch cơ cấu chậm. Năng lực cạnh tranh của hàng nông sản Việt Nam còn thấp. Chất lượng nông sản thấp, nguyên nhân chính là chúng ta chưa có đủ bộ giống cây trồng và vật nuôi cho sản phẩm chất lượng cao. Công nghệ bảo quản, chế biến nông Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.Lrc-tnu.edu.vn 38 sản chậm được đổi mới và chưa đồng bộ là nguyên nhân cố hữu nhất, tồn tại lâu nhất làm ảnh hưởng đến chất lượng nông sản. Giá thành nông sản còn cao do nhiều nguyên nhân như giống kém, trình độ thâm canh còn hạn chế, tỷ lệ hao hụt trong các khâu thu hoạch, vận chuyển, bảo quản, chế biến khá cao; Sản xuất nông nghiệp phân tán với 9,78 triệu hộ nông nghiệp (năm 2006). Cơ sở hạ tầng dịch vụ thương mại hàng nông sản còn hạn chế, chi phí cao. Nạn chặt phá rừng và tình trạng cháy rừng chưa được ngăn chặn hữu hiệu. Giai đoạn 2001-2007, bình quân mỗi năm bị cháy hơn 5,5 ngàn ha rừng và bị chặt phá 3,32 ngàn ha gây thiệt hại nghiêm trọng về kinh tế xã hội, môi trường. Mỗi năm vẫn còn tới hàng chục ngàn vụ vi phạm lâm luật về bảo vệ và phát triển rừng. Có nhiều nguyên nhân dẫn đến tình trạng trên như hoạt động của lực lượng kiểm lâm còn hạn chế, ý thức chấp hành pháp luật của người dân còn kém,... nhưng nguyên nhân cơ bản nhất là người dân chưa sống được nhờ nghề rừng. Thu nhập từ nông nghiệp giảm, phân hoá giàu nghèo trong nông thôn diễn ra với khoảng cách ngày càng xa hơn. Chất lượng tăng trưởng nông nghiệp thấp, mặc dù giá trị sản xuất nông lâm nghiệp thuỷ sản tăng 5,5%/năm nhưng chi phí sản xuất cao nên giá trị gia tăng của toàn ngành chỉ tăng 4%. Tỷ lệ giá trị gia tăng/giá trị sản xuất nông nghiệp giảm dần. Thu nhập bình quân/hộ giảm do giá cả các loại vật tư nông nghiệp ngày càng cao, gây bất lợi cho sản xuất nông nghiệp và các hộ nông dân [dt 8], [10]. Trong những năm tới,để phát triển nền nông nghiệp nước ta theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá và bền vững, cần phải xây dựng được một chiến lược phát triển nông nghiệp đúng đắn dựa trên các căn cứ khoa học sau: Thứ nhất, phải đánh giá một cách khách quan và sâu sắc chiến lược phát triển nông nghiệp trong giai đoạn trước, chỉ ra những thành tựu đã đạt được cũng như các hạn chế tồn tại. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.Lrc-tnu.edu.vn 39 Thứ hai, phải căn cứ vào nguồn tài nguyên của đất nước, bao gồm tài nguyên về đất đai, thời tiết, khí hậu. Đất nước ta với nguồn tài nguyên phục vụ cho nông nghiệp có nhiều lợi thế, song cũng có những khó khăn lớn. Cần đánh giá đúng các lợi thế và những khó khăn trong quá trình xây dựng và thực hiện chiến lược phát triển nông nghiệp. Thứ ba, căn cứ vào cơ sở vật chất - kỹ thuật nông nghiệp bao gồm hệ thống công cụ máy móc, hệ thống kết cấu hạ tầng phục vụ sản xuất nông nghiệp. Với hệ thống đạt ở mức nào, cần thiết phải điều chỉnh bổ sung và nâng cấp xây dựng nhằm hướng vào phục vụ chiến lược phát triển nông nghiệp trong giai đoạn hiện tại và tương lai. Thứ tư, căn cứ vào nguồn lao động và trình độ của người lao động: số lượng và chất lượng của nguồn lao động. Ở nước ta nguồn lao động nông nghiệp dồi dào, song chất lượng còn thấp, ít được đào tạo về kỹ thuật và quản lý, trình độ dân trí chưa cao. Thứ năm, căn cứ vào nhu cầu thị trường trong nước và quốc tế về sản phẩm nông nghiệp. Ở từng giai đoạn, yêu cầu về số lượng, chất lượng và chủng loại các nông sản rất khác nhau ở trong nước cũng như trên thị trường quốc tế. Cần phân tích, đánh giá và dự báo về nhu cầu của thị trường một cách có căn cứ khoa học. Thứ sáu, căn cứ vào trình độ khoa học và công nghệ của thế giới, của nước ta và khả năng ứng dụng những thành tựu tiến bộ khoa học và công nghệ của thế giới vào điều kiện Việt Nam hiện nay và sắp tới. Căn cứ vào điều kiện cụ thể của Việt Nam, Đại hội X của Đảng đã chỉ ra chiến lược phát triển nông nghiệp của nước ta như sau: “Phải luôn coi trọng đẩy mạnh công nghiệp hoá nông nghiệp nông thôn hướng tới xây dựng, phát triển một nền nông nghiệp hàng hoá lớn, đa dạng, phát triển nhanh và bền vững, có năng suất, chất lượng và hiệu quả Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.Lrc-tnu.edu.vn 40 cạnh tranh cao, đảm bảo vững chắc an ninh lương thực và tạo điều kiện từng bước hình thành một nền nông nghiệp sạch, phấn đấu giá trị tăng thêm trong nông lâm nghiệp thuỷ sản tăng 3-3,2%/năm”[7]. Từ chiến lược tổng quát trên, có thể xác định những nội dung chủ yếu: + Phát triển một nền nông nghiệp theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá có cơ cấu sản xuất ngày càng hợp lý. + Xây dựng và phát triển nền nông nghiệp sản xuất hàng hoá lớn, đa dạng có cơ cấu sản phẩm hàng hoá phong phú, đáp ứng nhu cầu thị trường trong nước và hướng mạnh vào xuất khẩu, đồng thời đẩy nhanh ứng dụng tiến bộ khoa học- công nghệ mới để nâng cao năng suất, chất lượng và khả năng cạnh tranh trên thị trường. + Xây dựng và phát triển nền nông nghiệp sinh thái bền vững, đảm bảo vững chắc an ninh lương thực và tạo điều kiện từng bước hình thành một nền nông nghiệp sạch. Mục tiêu phát triển: + Đảm bảo an ninh lương thực quốc gia và lâu dài. + Tăng nhanh sản xuất nông sản hàng hoá và hàng hoá xuất khẩu. + Nâng cao đời sống vật chất và tinh thần cho dân cư nông nghiệp và nông thôn. + Bảo vệ môi trường sinh thái, giảm nhẹ thiên tai để phát triển bền vững [9]. 1.2. Phƣơng pháp nghiên cứu 1.2.1. Các câu hỏi đặt ra cần giải quyết - Trong 5 năm (2004- 2008) ngành nông nghiệp của huyện Đồng Hỷ đã đạt được những kết quả như thế nào? Những mặt còn tồn tại, hạn chế? - Nguyên nhân đạt được kết quả nêu trên và nguyên nhân của những tồn tại, hạn chế? Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.Lrc-tnu.edu.vn 41 - Đặc thù, thế mạnh và những tiềm năng của ngành nông nghiệp ở huyện Đồng Hỷ trong phát triển nông nghiệp hàng hoá là gì? - Định hướng mục tiêu phát triển của ngành nông nghiệp ở huyện Đồng Hỷ trong những năm tới là gì? - Những giải pháp quan trọng nhằm phát triển nông nghiệp theo hướng sản xuất hàng hóa của huyện Đổng Hỷ? 1.2.2. Phương pháp nghiên cứu cụ thể Để tiến hành nghiên cứu đạt được những mục đích đề ra, phải sử dụng nhiều phương pháp khác nhau để giải quyết các vấn đề như: Các phương pháp cụ thể bao gồm: 1.2.2.1. Chọn địa điểm nghiên cứu Chọn điểm nghiên cứu là vấn đề hết sức quan trọng, nó có ảnh hưởng quyết định đến tính chính xác, khách quan và tính thực tiễn của kết quả nghiên cứu đề tài. Chọn điểm nghiên cứu được tiến hành theo các bước sau: a). Chọn vùng nghiên cứu Theo kết quả phân vùng sinh thái và kinh tế huyện Đồng Hỷ được chia làm 3 vùng sinh thái: vùng đồng bằng, vùng đồi thấp và vùng núi. Ba vùng sinh thái này có sự khác biệt tương đối rõ rệt về điều kiện đất đai, địa hình, cơ cấu cây trồng, vật nuôi, điều kiện thị trường, cơ sở hạ tầng, trình độ dân trí... Do vậy, để đảm bảo yêu cầu cho nhu cầu nghiên cứu, điểm được chọn có đầy đủ các vùng sinh thái và cụm kinh tế trong huyện. b). Chọn xã nghiên cứu Việc chọn xã nghiên cứu phải đảm bảo theo yêu cầu nghiên cứu và phân tích và đảm bảo các tiêu chuẩn như sau: Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.Lrc-tnu.edu.vn 42 + Đại diện và theo tỷ lệ các xã trong vùng sinh thái, kinh tế của huyện. + Có quỹ đất nông lâm nghiệp ở mức trung bình khá so với các xã khác trong huyện. + Có điều kiện sản xuất, mức độ kinh tế, trình độ dân trí... ở mức trung bình trong huyện. + Được phân bố đều ở phía Bắc, Nam, Đông, Tây và vùng trung tâm của huyện. + Có khoảng cách xa, gần khác nhau đến thị trường, đường quốc lộ và trung tâm huyện lỵ Đồng Hỷ hoặc thành phố Thái Nguyên. Trên cơ sở đó, đề tài chọn 3 xã đại diện theo các vùng sinh thái và kinh tế, cụ thể như sau: Vùng bằng phẳng (Trung tâm): xã Hóa Thượng. Vùng đồi thấp (Phía Nam): xã Khe Mo. Vùng núi (Phía bắc): xã Hoà Bình. Nhìn chung các xã được chọn đã đáp ứng được yêu cầu đề ra. 1.2.2.2. Phương pháp thu thập số liệu Để có được đầy đủ thông tin số liệu phục vụ cho việc phân tích đánh giá đáp ứng yêu cầu của mục đích nghiên cứu đề tài tiến hành từng bước và sử dụng nhiều phương pháp thu thập khác nhau. a). Thu thập thông tin số liệu thứ cấp Đó là những thông tin số liệu có liên quan đến quá trình nghiên cứu của đề tài đã được công bố chính thức ở các cấp, các ngành. Thông tin số liệu chủ yếu bao gồm: Các kết quả nghiên cứu có liên quan đã tiến hành trước đó, thông tin số liệu liên quan đến tình hình sử dụng đất nông lâm nghiệp, các chính sách đầu tư khuyến khích phát triển sản xuất, kết quả sản xuất nông lâm nghiệp và các thông tin số liệu như: Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.Lrc-tnu.edu.vn 43 + Các công trình khoa học và tác phẩm nghiên cứu liên quan đến tình hình chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp và sản xuất hàng hóa ở trong và ngoài nước. + Các tài liệu tổng kết, báo cáo hàng năm của các cơ quan cấp huyện Đề tài sử dụng các phương pháp điều tra trực tiếp thông qua hệ thống chứng từ sổ sách, tài liệu đã được công bố, phương pháp chuyên khảo hoặc thông qua các cuộc phỏng vấn các chuyên gia nông nghiệp, các lão nông tư điền, chủ trang trại và hộ sản xuất giỏi. Đề tài đã sử dụng phương pháp: Đánh giá nhanh nông thôn (RRA): và phương pháp đánh giá nhanh nông thôn có sự tham gia của người dân (PRA): Trực tiếp tiếp xúc với nông dân tại điểm nghiên cứu, khuyến khích giúp đỡ và gợi mở tạo cơ hội cho người dân trao đổi bàn bạc đưa ra những kinh nghiệp và những khó khăn, nguyện vọng, kế hoạch và giải pháp để phát triển sản xuất cho gia đình cũng như cộng đồng thôn bản. b). Thu thập số liệu sơ cấp + Dùng phiếu điều tra kinh tế hộ nông dân: Công việc này được tiến hành sau khi đã lựa chọn được các hộ nông dân trong mỗi thôn xã. Mục đích của điều tra, kinh tế hộ nông dân là nhằm thu thập các thông tin số liệu về tình hình đời sống, sản xuất cũng như các vấn đề liên quan như chính sách, lao động, việc làm, khó khăn trong sản xuất... đặc biệt là mô hình và phương hướng phát triển sản xuất rong hiện tại và tương lai trong từng hộ nông dân ở điểm nghiên cứu. Thông qua phiéu điều tra Phiếu điều tra bao gồm những thông tin chủ yếu sau: + Điều tra phỏng vấn trực tiếp các hộ nông dân với bộ câu hỏi đã được chuẩn bị được tiến hành làm thử trước hết ở một số ít hộ, sau đó được chỉnh Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.Lrc-tnu.edu.vn 44 sửa cho hoàn chỉnh phù hợp với thực tế và cuối cùng là dùng để điều tra phỏng vấn toàn bộ các hộ nông dân được chọn. Số liệu thu thập được thông qua điều tra và được kiểm tra lại. Số liệu thứ cấp và sơ cấp được sử dụng chủ yếu đánh giá thực trạng sản xuất, kinh doanh trong từng nhóm hộ, từng loại đất, loại cây trồng... xác định các yếu tố ảnh hưởng cũng như là cơ sở để đưa ra những giải pháp có tính khả thi nhằm nâng cao hiệu quả việc phát triển nông nghiệp theo hướng sản xuất hàng hóa của từng vùng sinh thái cũng như toàn huyện nghiên cứu. 1.2.2.3. Tổng hợp, xử lý và phân tích số liệu a). Tổng hợp, xử lý số liệu * Đối với số liệu sơ cấp (số liệu đã công bố) Sau khi được thu thập, toàn bộ những số liệu này được xử lý tính toán phản ánh thông qua bảng thống kê hoặc đồ thị thống kê dùng để so sánh, đối chiếu đánh giá và rút ra những kết luận cần thiết. * Đối với số liệu sơ cấp Toàn bộ số liệu thu thập được trên các phiếu điều tra đều được kiểm tra, bổ sung, chỉnh lý sau đó nhập vào bảng tính toán EXCEL trên máy vi tính xử lý, tổng hợp và phân tích thông tin số liệu vào những chỉ tiêu cụ thể nhằm đạt được mục đích nghiên cứu đề ra. Trong quá trình xử lý số liệu, phương pháp phân tổ thống kê được coi là phương pháp chủ đạo. b). Phương pháp phân tích số liệu - Phương pháp thống kê kinh tế: Phương pháp phân tổ thống kê bao gồm chủ yếu là thống kê mô tả và thống kê so sánh. Phương pháp thống kê mô tả được thực hiện thông qua việc sử dụng số bình quân, tần suất, số tối đa và tối thiểu. Phương pháp thống kê Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.Lrc-tnu.edu.vn 45 so sánh bao gồm cả số tương đối và số tuyệt đối để đánh giá sự vật và hiện tượng theo không gian và thời gian. Trên cơ sở các chỉ tiêu đã được tính toán cho từng dạng hộ nông dân theo các dạng nhóm phân tổ, có thể so sánh các vùng khác nhau, giữa các năm với nhau và giữa các dân tộc khác nhau, nhằm rút ra những ưu điểm, những hạn chế của các đối tượng, làm cơ sở cho việc đề ra những giải pháp triển phù hợp với các mô hình sản xuất của người nông dân trên từng vùng sinh thái. Phương pháp so sánh chỉ áp dụng đối với các chỉ tiêu và các đối tượng so sánh có ý nghĩa nhằm phát hiện những nét đặc trưng cơ bản của kinh tế hộ nông dân. Đồng thời phương pháp này được sử dụng chủ yếu là so sánh kinh tế hộ nông dân theo hướng phát triển kinh tế hàng hoá ở những mô hình kinh tế trong các vùng ở các đồng bào dân tộc khác nhau. 1.2.3. Hệ thống chỉ tiêu phân tích 1.2.3.1. Các chỉ tiêu phản ánh kết quả và hiệu quả sản xuất nông nghiệp: - Giá trị sản xuất ngành nông nghiệp. - Giá trị gia tăng toàn ngành nông nghiệp. - Tổng đàn gia súc, gia cầm… - Năng suất, sản lượng cây trồng, sản lượng nuôi trồng, khai thác, Sản lượng thịt hơi xuất chuồng… - Thu nhập = Tổng thu - tổng chi. + Trong trồng trọt: Tổng thu trên 1 đơn vị diện tích = sản lượng trên 1 đơn vị diện tích x đưon gái (giá thực tế) Tổng chi trên 1 đơn vị diện tích: bao gồm chi phí mua giống cây, phân bón, thuốc bảo vệ thực vật, công lao động, chi phí khác… + Đối với chăn nuôi: Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.Lrc-tnu.edu.vn 46 Tổng thu (tính cho 1 loại vật nuôi) = sản lượng hơi xuất chuống x đơn giá (giá thực tế) Tổng chi bao gồm chi phí mua giống con, chi phí mua thức ăn, chi phí về thú y, chi phí chuồng trại, công lao động… 1.2.3.2. Các chỉ tiêu phản ánh phân bổ và hiệu quả sử dụng nguồn lực - Diện tích đất nông nghiệp, diện tích tưới tiêu, diện tích trồng cây hàng năm, cây lâu năm… - Các trang trại tập trung chăn nuôi gia súc, gia cầm… 1.2.3.3. Các chỉ tiêu phản ánh sản xuất nông nghiệp theo hướng sản xuất hàng hoá * Tỷ suất nông sản hàng hóa. Để đo lường trình độ sản xuất và trao đổi hàng hóa có thể dùng chỉ tiêu “Tỷ suất nông sản hàng hóa”. Tỷ suất nông sản hàng hóa là tỷ lệ phần trăm giữa tổng lượng nông sản hàng hóa với tổng lượng sản phẩm sản xuất ra. Công thức 1: Tổng lượng nông sản hàng hoá Tỷ suất nông sản hàng hoá = x 100% Tổng lượng nông sản SX trong kỳ Tỷ suất nông sản hàng hóa cũng là chỉ tiêu đánh giá về mặt chất lượng trình độ chuyên môn hóa và trình độ huy động nông sản cho xã hội. Tỷ suất hàng hóa tính riêng cho mọi sản phẩm chuyên môn hóa, do đó ở mẫu số và tử số chỉ tính thuần túy cho một loại sản phẩm. Để tính tốc độ phát triển sản xuất, tăng tổng sản lượng và sản lượng hàng hóa nông sản, người ta dùng chỉ tiêu giá trị sản phẩm hàng hoá gia tăng. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.Lrc-tnu.edu.vn 47 Công thức 2: Giá trị SP hàng hoá Giá trị SP hàng hoá gia tăng = Giá trị tổng sản phẩm Trên thực tế, đôi khi ta có một khối lượng sản phẩm hàng hoá nhưng không tiêu thụ được vì sản phẩm chất lượng quá kém, sản phẩm không sạch, có thừa dư lượng hoá chất độc hại, hoặc vì giá thành sản xuất quá cao, bán ra thua lỗ nhiều, hoặc vì không có thị trường tiêu thụ ổn định. Công thức 3: SP hàng hoá và giá trị SP hàng hoá Tỷ suất giá trị hàng hoá được tiêu thụ = được tiêu thụ SP hàng hoá và giá trị SP hàng hoá nói chung Thông thường, các địa phương, xí nghiệp sau một vụ sản xuất thường có nhiều sản phẩm dư thừa và coi đó là địa phương mình có sản phẩm hàng hoá nhưng không có địa bàn tiêu thụ hoặc tiêu thụ bị động, kém hiệu quả. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.Lrc-tnu.edu.vn 48 CHƢƠNG II THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN NÔNG NGHỆP THEO HƢỚNG SẢN XUẤT HÀNG HÓA Ở HUYỆN ĐỒNG HỶ TỈNH THÁI NGUYÊN 2.1. Đặc điểm của huyện Đồng Hỷ tỉnh Thái Nguyên 2.1.1. Đặc điểm tự nhiên 2.1.1.1. Vị trí địa lý Đồng Hỷ là một huyện trung du - miền núi nằm ở phía Đông Bắc của tỉnh Thái Nguyên. Trung tâm huyện cách thành phố Thái Nguyên 3 km theo quốc lộ 1B. Phía Đông giáp với tỉnh Bắc Giang, phía Tây giáp với huyện Phú Lương, phía Nam giáp với huyện Phú Bình và Thành phố Thái Nguyên, phía Bắc giáp huyện Võ Nhai và tỉnh Bắc Cạn (Phụ lục số 03). Có tọa độ địa lý: 21032' - 21051' độ vĩ Bắc. 105046' - 1060 04 độ kinh Đông. Với đặc trưng của vùng đất trung du miền núi, Đồng Hỷ có thế mạnh về nông nghiệp, địa bàn lại nằm tiếp giáp với thành phố Thái Nguyên có đường quốc lộ 1B đi qua, nên đây là điều kiện thuận lợi để huyện tiêu thụ các mặt hàng nông, lâm sản của mình. Trên địa bàn huyện có sông Cầu chảy qua hàng năm được bồi đắp một lượng phù sa lớn từ con sông Cầu. Trên địa bàn huyện có nhiều khu vực đất bằng phẳng, các khu ruộng nối liền với nhau thành một cánh đồng lớn, có hệ thống tưới tiêu tốt rất thuận tiện cho phát triển trồng trọt và chăn nuôi. Huyện Đồng Hỷ nằm gần thành phố Thái Nguyên, gần khu công nghiệp, gần các trung tâm văn hoá, khoa học, giáo dục của các tỉnh trung du và miền núi Bắc Bộ nên chịu sự tác động lớn về giao lưu trong nhiều lĩnh vực Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.Lrc-tnu.edu.vn 49 kinh tế - xã hội, đây là điều kiện thuận lợi cho việc tiêu thụ, phổ biến và quảng bá sản phẩm hàng hoá sản xuất ra của trang trại và hộ nông dân trong huyện. 2.1.1.2. Địa hình Là một huyện điển hình cho vùng trung du và miền núi phía Bắc, nên địa hình phức tạp không thống nhất. Với độ cao trung bình khoảng 100 mét so với mặt nước biển, địa hình thấp dần từ Đông Bắc xuống Tây Nam, cao nhất là xã Văn Lăng 600 mét, thấp nhất là xã Đồng Bẩm, Huống Thượng độ cao chỉ 20 mét. Vùng Bắc giáp với Huyện Võ Nhai có địa hình núi cao, diện tích đất nông nghiệp ít, chiếm 9% tổng diện tích đất tự nhiên. Vùng trung du nằm ở phía Tây Nam của Huyện tiếp giáp với thành phố Thái nguyên, địa hình tương đối bằng phẳng, diện tích đất nông nghiệp chiếm gần 20% diện tích đất tự nhiên, thích hợp với sản xuất đất nông nghiệp, chăn nuôi (thuỷ sản, gia cầm). Vùng núi phía đông nam tiếp giáp với huyện Yên Thế - Bắc Giang có nhiều đồi núi thấp với diện tích đất nông nghiệp chiếm gần 14% diện tích đất tự nhiên của vùng. Địa hình huyện Đồng Hỷ có nhiều đồi núi xen lẫn nhau với những đồi thấp nên mưa lớn xói mòn, rửa trôi mạnh. Sản phẩm của sự xói mòn đó là sự bồi tụ đất tạo thành nhiều cánh đồng dốc tụ lại phân bố ở khắp mọi nơi, chính vì thế đất dốc tụ thành thung lũng là loại đất trồng lúa, hoa màu chủ yếu của huyện. Đất canh tác nông nghiệp chủ yếu là ruộng bậc thang. Huyện Đồng Hỷ có thể chia thành 3 vùng rõ rệt: - Vùng bằng phẳng (trung tâm) gồm các xã: Hoá Thượng, Cao Ngạn, Chùa Hang, Đồng Bẩm, Linh Sơn, Huống Thượng, Nam Hoà. Vùng này có địa hình thấp, nằm giáp với thành phố Thái Nguyên. Vùng này phát triển sản xuất nông nghiệp như: Trồng lúa, rau, màu, chăn nuôi tiểu gia súc và dịch Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.Lrc-tnu.edu.vn 50 vụ. Là trung tâm y tế, giáo dục, thương mại của huyện, người dân có cuộc sống khá ổn định, sản xuất hàng hoá đã phát triển, trình độ dân trí khá hơn so với các vùng khác. - Vùng đồi dốc (phía Nam) gồm các xã: Khe Mo, Văn Hán, Cây Thị, Trại Cau, Tân Lợi, Hợp Tiến. Vùng này chủ yếu là đất đồi dốc với độ cao, đất đai bị rửa trôi, xói mòn, có đất ruộng nhưng ít. Ở đây chủ yếu trồng cây lâm nghiệp, cây chè, cây ăn quả, chăn nuôi đại gia súc, trồng lúa nước. - Vùng cao (phía Bắc) gồm các xã: Văn Lăng, Hoà Bình, Tân Long, Quang Sơn, Hoá Trung, Minh Lập, Sông Cầu. Vùng này đất đồi dốc và núi đá là chủ yếu, đất lúa rất ít, vùng này thuận lợi cho phát triển lâm nghiệp, cây công nghiệp, cây ăn quả, chăn nuôi đại gia súc, trồng lúa nương. 2.1.1.3. Đất đai và thổ nhưỡng * Đất đai Diện tích đất tự nhiên là 47.037,94 ha, Đồng Hỷ là huyện có diện tích tự nhiên lớn thứ 3 của tỉnh (sau huyện Võ Nhai và Đại Từ), bình quân diện tích tự nhiên trên đầu người là 0,49 ha/ người, cao hơn bình quân của tỉnh 0,14 ha/ người. Cơ cấu diện tích các loại đất trong huyện được thể hiện ở bảng sau: Tổng diện tích đất tự nhiên của huyện Đồng Hỷ là 47.037,94 ha, đất lâm nghiệp của huyện chiếm 45,5% tổng diện tích đất tự nhiên, sau đó đến đất nông nghiệp là 12.488,92 ha chiếm 26,55% tổng diện tích đất tự nhiên của huyện và đất chưa sử dụng còn rất lớn chiếm 21,64% tổng diện tích đất tự nhiên của huyện Đồng Hỷ (bảng 2.1). Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.Lrc-tnu.edu.vn 51 Bảng 2.1. Tình hình sử dụng đất đai của huyện Đồng Hỷ năm 2008 Loại đất Diện tích (ha) Cơ cấu (%) Tổng diện tích đất tự nhiên 47.037,94 100,00 I. Đất nông nghiệp 12.488,92 26,55 1. Đất trồng cây hàng năm 6.969,83 55,81 2. Đất vườn tạp 1.357,06 10,87 3. Đất trồng cây lâu năm 3.989,74 31,95 172,29 1,38 II. Đất lâm nghiệp có rừng 21.402,61 45,5 1. Rừng tự nhiên 12.071,84 56,40 2. Rừng trồng 9.329,44 43,59 3. Đất ươm cây giống 1,33 0,006 III. Đất chuyên dùng 2.101,29 4,47 IV. Đất ở 864,79 1,87 1. Đất ở đô thị 105,00 12,14 2. Đất ở nông thôn 759,79 87,86 10.180,33 21,64 384,93 3,78 7.670,39 75,35 33,60 0,33 1.112,26 10,93 5. Núi đá không có rừng cây 463,70 4,55 6. Đất chưa sử dụng khác 515,45 5,06 4. Đất mặt nước nuôi trồng thuỷ sản V. Đất chƣa sử dụng 1. Đất bằng chưa sử dụng 2. Đất đồi núi chưa sử dụng 3. Đất có mặt nước chưa sử dụng 4. Sông, suối 7. Hệ số sử dụng ruộng đất 1,99 (Nguồn: Phòng Thống kê huyện Đồng Hỷ) Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.Lrc-tnu.edu.vn 52 * Thổ nhưỡng Với địa hình phức tạp, đất đai đa dạng tạo điều kiện cho huyện Đồng Hỷ phát triển các loại cây ăn quả, cây công nghiệp dài ngày, cây lâm nghiệp. Những cánh đồng ở thung lũng phát triển cây lương thực đảm bảo an toàn lương thực tại chỗ cho toàn huyện, đồng thời phát triển phong phú các cây rau mầu, cây công nghiệp ngắn ngày tạo điều kiện cho phát triển sản xuất hàng hoá. Tổng diện tích tự nhiên của huyện là 47.037,94 ha, phân theo thổ nhưỡng bao gồm các loại đất như sau: đất phù sa bồi tụ có 644 ha phân bố chủ yếu ven sông Cầu thuộc các xã Đồng Bẩm, Huống Thượng. Đất phù sa không được bồi là 1.258 ha, chủ yếu ở xã Đồng Bẩm, Huống Thượng, Linh Sơn, Nam Hoà, Hoà Bình, Minh Lập, Hoá Thượng, Cao Ngạn. Đất phù sa có tầng loang lổ đỏ và vàng là 410,5 ha phân bố nhiều ở Huống Thượng. Đất phù sa ngòi suối có 100,6 ha thuộc các xã Khe Mo, Hóa Trung, Hoá Thượng và Minh Lập. 2.1.1.4. Điều kiện khí hậu, thời tiết Huyện Đồng Hỷ nằm trong vùng có khí hậu mang tính đặc trưng của các tỉnh miền núi và trung du phía Bắc, do đó từng vùng khác nhau có đặc điểm khí hậu khác nhau: - Nhiệt độ trung bình hàng năm từ 22 - 270C - Về độ ẩm không khí trung bình, thay đổi từ 78 - 86% Khí hậu huyện Đồng Hỷ nói trung là nóng và ẩm thuận lợi cho việc phát triển ngành nông nghiệp và lâm nghiệp, với điều kiện nhiệt độ cao có thể làm nhiều vụ trong một năm mà vòng sinh trưởng của cây trồng vẫn có thể đảm bảo, điều kiện mưa ẩm tạo điều kiện cho nhiều loại cây rau phát triển. Nếu làm thuỷ lợi tốt biết cách giữ điều hoà nước có thể đảm bảo cung cấp nước cho cây trồng trong cả năm. Khí hậu huyện Đồng Hỷ chia thành hai mùa rõ rệt là mùa hè và mùa đông khô lạnh. Mùa hè từ khoảng tháng 5 đến tháng 10, mùa hè nhiệt độ trung bình là 27 - 290C có lúc lên tới 30 - 310C, mùa này thường có mưa, mưa nhiều Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.Lrc-tnu.edu.vn 53 nhất là tháng 7, tháng 8, trung bình lượng mưa trong tháng này là 300 - 500 mm và chiếm tổng số 40 - 46% lượng mưa cả năm. Mùa này nói trung thời tiết khí hậu thuận lợi cho sinh trưởng và phát triển của cây trồng. Song vào mùa mưa, thỉnh thoảng có gió bão gây mưa to, gió lớn, úng lụt làm ảnh hưởng đến sản xuất nông lâm nghiệp. Đồng thời do địa hình miền núi nên những trận mưa to ở đầu nguồn dẫn đến xói mòn đất, gây bạc màu cho đất. Mùa đông khô hanh từ tháng 11 đến tháng 3 năm sau, nhiệt độ trung bình là 150 - 220C, có lúc xuống thấp dưới 150C. Mùa này mưa ít thường hay bị hạn vào tháng 12, tháng 1 có những đợt gió mùa Đông Bắc kèm theo thời tiết lạnh, đôi khi có sương muối kéo dài, rét đậm gây ảnh hưởng đến sản xuất nông nghiệp. Nhìn chung điều kiện thời tiết khí hậu có những thuận lợi cho sinh trưởng phát triển cây trồng, vật nuôi. Tuy nhiên khi xẩy ra hạn hán, lũ lụt, sâu bệnh…cũng gây khó khăn cho sản xuất lâm nghiệp. 2.1.1.5. Thuỷ văn Sông suối của huyện đều bắt nguồn từ khu vực núi cao phía Bắc và Đông Bắc, mật độ sông suối bình quân 0,2km/km2. Huyện Đồng Hỷ có các sông suối lớn là: - Sông Cầu là con sông lớn nhất chảy theo hướng Bắc Nam, chảy qua phía Tây của huyện dài khoảng 47 km là nguồn nước chính cung cấp cho Đồng Hỷ. Chế độ dòng chảy thất thường nhiều năm gây úng lụt, về mùa cạn nước sông xuống thấp gây hạn hán. - Sông Linh Nham: Bắt nguồn từ huyện Võ Nhai và chảy qua xã Văn Hán, Khe Mo, Hoá Thượng, Linh Sơn ra Sông Cầu, chiều dài chảy qua huyện Đồng Hỷ là 28 km. Do rừng đầu nguồn bị chặt quá nhiều lên lưu lượng nước giữa mùa mưa và mùa khô chênh lệch rất lớn, mùa mưa thường gây lũ lớn, mùa khô mực nước sông xuống rất thấp. - Sông Ngòi Trẹo bắt nguồn từ xã Văn Hán chảy qua Nam Hoà dài 19 km; suối Ngàn Khe bắt nguồn từ Cây Thị chảy qua thị trấn Trại Cau và Nam Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.Lrc-tnu.edu.vn 54 Hoà dài 21 km. Ngoài ra còn hàng chục con suối lớn nhỏ khác cộng với hàng chục hồ nước lớn, nhỏ phục vụ sản xuất và sinh hoạt. 2.1.1.6. Tài nguyên rừng và khoáng sản Huyện Đồng Hỷ có 21.402,61 ha rừng, trong đó diện tích rừng trồng là 9.329,44 ha. Huyện Đồng Hỷ có nhiều loại khoáng sản như: Quặng sắt, kẽm, chì, vàng sa khoáng, đá vôi.. điều này tao điều kiện thuận lợi cho huyện trong việc phát triển ngành công nghiệp khai khoáng, công nghiệp vật liệu xây 2.1.2. Điều kiện về kinh tế xã hội 2.1.2.1. Tình hình nhân khẩu và lao động Dân số toàn huyện Đồng Hỷ năm 2008 là 127.279 người, tốc độ tăng trưởng dân số năm 2004 - 2008 là 2,17%. Mật độ dân số phân bố không đều, nơi có mật độ dân số cao nhất là thị trấn Chùa Hang 3.124 người/km2 trong khi đó nơi có mật độ dân số thấp là xã Văn Lăng 71 người/km2. Điều này ảnh hưởng tới quy hoạch đầu tư và phát triển kinh tế xã hội của vùng. Nơi có mật độ dân số đông, thì vấn đề giải quyết việc làm rất cấp bách nếu không giải quyết được sẽ kéo theo tệ nạn xã hội sẽ tăng. Còn nơi có mật độ dân số thấp thì không có đủ nguồn lực để khai thác tiềm năng tự nhiên. Đây chính là vấn đề cần giải quyết của Huyện trong những năm tới. Huyện Đồng hỷ có nhiều dân tộc anh em sinh sống, dân tộc Kinh chiếm chủ yếu 93,26%, dân tộc Nùng 2,44%, Sán Dìu 2,28%, Dao 0,84%, Tày 0,47%, Sán Chay 0,1%, H Mông 0,23%, Hoa 0,05% các dân tộc khác 0,44%. Trình độ dân trí ở các vùng khác nhau, vùng sâu vùng xa trình độ dân trí thấp, cơ sở hạ tầng được đầu tư ít, kém phát triển, đời sống vấn còn nghèo. Qua bảng 2 ta thấy dân số của huyện có sự biến động tăng qua các năm cụ thể là năm 2004 là 124.566 người, năm 2006 là 125.811 người tăng 1% so với năm 2004, đến năm 2008 là 127.279 người tăng 1,17% so với năm 2006. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.Lrc-tnu.edu.vn 55 Bình quân giai đoạn 2004 - 2008 dân số tăng 1,09%. Đây là tỷ lệ tăng dân số chưa phải là cao, nhưng để ổn định và phát triển kinh tế xã hội huyện cần phải làm tốt công tác tuyên truyền kế hoạch hoá gia đình cho từng vùng, thôn, xóm... Đồng Hỷ là huyện phần lớn là sản xuất nông nghiệp tính đến năm 2008 dân số nông nghiệp là 89.238 người chiếm 70,11% tổng dân số toàn huyện có mức tăng bình quân qua 3 năm là 0,57%, nhân khẩu phi nông nghiệp chiếm 29,89% trong tổng dân số toàn huyện mức tăng bình quân năm là 2,32% khá cao. Đây chính là dấu hiệu tốt cho việc phát triển các ngành nghề dịch vụ, ngành nghề tiểu thủ công nghiệp. Bên cạnh sự gia tăng dân số thì số lao động trong huyện cũng tăng lên năm 2004 là 67.119 lao động, năm 2006 là 67.879 lao động tăng 1,13% so với năm 2004, năm 2008 là 68.563 lao động tăng 1% so với năm 2006. Bình quân năm tăng 1,06%.Trong đó lao động nông nghiệp chiếm phần lớn, nhưng tỷ trọng của nó trong cơ cấu lao động lại có xu hướng giảm. Năm 2004 chiếm 71,16% trong tổng số lao động đến năm 2008 chiếm 71,09% trong tổng số lao động. Số lao động phi nông nghiệp mặc dù chiếm tỷ trọng nhỏ hơn trong tổng số lao động, ngược lại nó lại có xu hướng tăng lên về cơ cấu nhưng không đáng kể năm 2004 là 28,84% trong tổng lao động, đến năm 2008 chiếm 28,91% trong tổng lao động. Khi dân số tăng kéo theo số hộ cũng sẽ tăng, bình quân tăng 1,06%. Trong đó cả hộ nông nghiệp tăng 1,33%, số hộ phi nông nghiệp tăng cao hơn 8,18%. Như vậy qua tình hình dân số và lao động của huyện Đồng Hỷ ta thấy lực lượng lao động tập trung vào sản xuất nông nghiệp và sản xuất công nghiệp. Một bộ phận nhỏ làm ngành nghề khác. Đây là điều kiện thuận lợi để phát triển nền nông nghiệp theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp nông thôn. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.Lrc-tnu.edu.vn 56 Bảng 2.2. Tình hình nhân khẩu và lao động của huyện Đồng Hỷ Năm 2004 Năm 2006 Năm 2008 SL CC (%) SL CC (%) SL CC (%) 06/04 08/06 BQ Ngƣời 124.566 100 125.811 100 127.279 100 101,00 101,17 101,09 1.Nhân khẩu nông nghiệp Người 88.232 70,83 88.368 70,24 89.238 70,11 100,15 100,99 100,57 2. Nhân khẩu phi nông nghiệp Người 36.334 29,17 37.443 29,76 38.041 29,89 103,05 101,59 102,32 II. Tổng số hộ Hộ 27.611 100 28.177 100 29.866 100 102,05 105,99 104,02 1. Hộ nông nghiệp Hộ 19.075 69,02 19.126 67,88 19.858 66,49 100,27 102,39 101,33 2. Hộ phi nông nghiệp Hộ 8.554 30,98 9.051 32,12 10.008 33,51 105,8 110,57 108,18 III. Tổng số lao động LĐ 67.119 100 67.879 100 68.563 100 101,13 101,00 101,06 1. Lao động nông nghiệp LĐ 47.763 71,16 48.259 71,15 48.738 71,09 101,11 100,99 101,05 2. Lao động phi nông nghiệp LĐ 19.356 28,84 19.584 28,85 19.825 28,91 101,18 101,23 101,21 IV. Bình quân LĐNN/hộ NN LĐ/hộ 2,51 - 2,53 - 2,45 - 100,75 96,83 98,79 V. Bình quân NKNN/hộ NN Ng/hộ 4,63 - 4,62 - 4,56 - 99,79 98,70 99,25 Chỉ tiêu ĐVT I. Tổng nhân khẩu Tốc độ phát triển (%) ( Nguồn: Phòng Thống kê huyện Đồng Hỷ) Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.Lrc-tnu.edu.vn 57 2.1.2.2. Cơ sở vật chất kỹ thuật của huyện - Hệ thống đường giao thông: Mạng lưới giao thông huyện Đồng Hỷ đã đảm bảo nhu cầu cơ bản cho việc đi lại, phát triển kinh tế - xã hội. Từ Thành phố đi qua trung tâm huyện là tuyến đường quốc lộ, tỉnh lộ dài 47,5 km. Hệ thống đường sông khoảng 45 km từ xã Văn Lăng đến xã Huống Thượng. Hiện nay giao thông Đồng Hỷ có tổng số 667 km. Đến nay toàn bộ 20 xã thị trấn của huyện đã có đã có đường giao thông nông thôn và trung tâm xã, ôtô đi lại thuận tiện, giao lưu kinh tế - văn hoá - xã hội, phục vụ an ninh quốc phòng của nhân dân và các dân tộc toàn huyện Đồng Hỷ. Tuy nhiên hệ thống giao thông ở khu vực vùng sâu, vùng xa còn khó khăn, chưa có đường nhựa, có những đường rải sỏi, đá ong, đường gồ ghề, lầy lội khi trời mưa cũng ảnh hưởng đến việc giao lưu kinh tế - xã hội. Do vậy cần phải có những biện pháp, giải pháp để nâng cao chất lượng hệ thống giao thông của huyện để đáp ứng nhu cầu lưu thông hàng hoá và phát triển kinh tế xã hội. - Thuỷ lợi của huyện: Những năm qua bằng nguồn vốn của tỉnh hỗ trợ và ngân sách địa phương, huyện đã xây dựng được nhiều công trình thuỷ lợi lớn, vừa và nhỏ. Toàn huyện có 49 hồ chứa nước; 52 đập dâng 68 trạm bơm và 147,915 km kênh mương nội đồng được xây dựng kiên cố hoá, phân bố đều trên địa bàn huyện. Trạm thuỷ nông: Công tác quản lý khai thác bảo vệ các công trình thuỷ lợi được đảm bảo trong mùa mưa lũ, phục vụ tưới tiêu kịp thời theo yêu cầu sản xuất. Trong vụ xuân diện tích tưới nước bằng các công trình thuỷ lợi khoảng trên 2.200 ha; vụ đông khoảng trên 1.100 ha rau màu các loại. Tuy nhiên, ở một số xã vùng cao do địa bàn, địa hình chủ yếu là đồi núi nên hệ thống thuỷ lợi còn gặp nhiều khó khăn, hầu hết là tưới nhờ nước trời, vì vậy hạn chế cho việc luân canh cây trồng nhất là đối với cây trồng vụ đông xuân. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.Lrc-tnu.edu.vn 58 - Trường học trạm xá: Toàn huyện có 47 trường phổ thông, trong đó có 2 trường phổ thông trung trường trung học; 20 trường trung học cơ sở và toàn huyện có 22 trường mầm non. Đến nay đã có 100% số phòng học được ngói hoá, đã xoá bỏ được chế độ học ba ca, các xã và thị trấn đã có phòng học cao tầng. Toàn huyện có 1 bệnh viện một trung tâm y tế, 2 phòng khám khu vực, 20 trạm xá, đủ điều kiện chăm sóc sức khoẻ và khám chữa bệnh cho người dân của huyện. - Các công trình xây dựng khác: Như vấn đề nước sạch nông thôn, điện... đã được chính quyền huyện quan tâm. Tại các xã vùng cao đã ổn định được vấn đề du canh du cư, giải quyết nước sạch ở các vùng xa đô thị, đưa điện lưới quốc gia tới 20/20 xã thị trấn của huyện. Đồng hỷ có 6 tuyến lưới 35 KV và 4 tuyến 6KV, số trạm biến áp toàn huyện là 49 trạm. Các xã và thị trấn của huyện đã có điểm bưu điện văn hoá xã, số máy điện toại của toàn huyện là hơn 6000 máy. 100% các xã đã có báo đọc trong ngày. 2.1.2.3. Tình hình kinh tế của huyện Đồng Hỷ Năm 2007 sản xuất nông - lâm nghiệp thực hiện chuyển đổi cơ cấu kinh tế, đưa tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất, hô trợ giá giống và đưa giống mới vào sản xuất, tích cực phòng trừ sâu, dịch bệnh hại cây trồng, vật nuôi. Vì vậy về diện tích, năng suất, sản lượng đều hoàn thành các chỉ tiêu. Tổng sản lượng lương thực cả năm 2007 đạt 40.160 tấn/39.000 tấn KH = 102,9%. Đã thực hiện chăm bón, thâm canh 1.100 ha chè, cải tạo 50 ha, trồng mới 120,55 ha, sản lượng chè đạt 18.500 tấn [3]. Sản lượng cây ăn quả các loại đạt 5000 tấn. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.Lrc-tnu.edu.vn 59 Trong chăn nuôi một số con giống như: gà, bò, lợn, ong đã có hiệu quả trong tăng năng suất, có lợi cho nhà nông. Hiện nay toàn huyện có đàn trâu: 15.789 con. Đàn bò 5.375 con; Đàn lợn 53.869 con. Tổng đàn gia cầm là 530.950 con. Về rừng đã trồng mới được được 1.325 ha, ươm được 125 vạn hom cây giống tai vườn ươm chuẩn bị cho việc trồng rừng năm 2008 [3]. Công tác khuyến nông: Thực hiện chuyển giao kỹ thuật theo nhu cầu của nông dân tại các xã và thị trấn được 185 lớp cho gần 7.000 hộ nông dân. Tổ chức hội thảo tổng kết mô hình 15 cuộc cho gần 1000 người tham dự. Các mô hình đều thu được kết quả tốt. Đó là các mô hình: Nuôi giun quế tại Cao Ngạn, Nuôi ong nội tại xã Hoà Bình. Chăn nuôi gà an toàn sinh học tại Khe Mo. Gieo cấy giống lúa mới tại Minh Lập, Linh Sơn, Hoá Trung… Công nghiệp - Tiểu thủ công nghiệp - Thương mại dịch vụ: Giá trị sản lượng năm 2007 ước tính đạt 410 tỷ đồng, đạt 100% kế hoạch năm 2007. Trong đó giá trị sản xuất công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp địa phương ước đạt 248 tỷ đồng. Hoạt động thương mại dịch vụ tiếp tục tăng trưởng, tổng mức bán lẻ hàng hoá và doanh thu dịch vụ tiêu dùng xã hội đạt 183 tỷ đồng, trong đó của các hộ cá thể đạt 158 tỷ đồng, các doanh nghiệp 25 tỷ đồng Công tác giao thông: Di tu bảo dưỡng trên 300 km đường giao thông, nâng cấp 59 km, đổ bê tông 17,5 km Mặc dù nền kinh tế của huyện Đồng hỷ có những bước tăng trưởng và phát triển. Tuy nhiên huyện Đồng Hỷ vẫn là một huyện thuần nông, sản xuất mang tính tự cung tự cấp. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.Lrc-tnu.edu.vn 60 Bảng 2.3. Kết quả sản xuất các ngành kinh tế huyện Đồng Hỷ giai đoạn (2004 – 2008) Năm 2004 Chỉ tiêu Năm 2006 Cơ Giá trị Cơ cấu Giá trị cấu (tr.đ) (%) (tr.đ) (%) Tổng giá trị gia tăng 621.047 Năm 2008 Giá trị (tr.đ) So sánh (%) Tốc độ BQ 04Cơ 08 cấu 06/04 08/06 (%) 100 772.533 100 1.133.682 100 124,4 146,7 135,6 Ngành NLTS 159.998 25,76 211.332 27,36 273.415 24,12 132,1 129,4 130,8 Ngành CN- XDựng 215.617 34,72 259.557 33,60 403.812 35,62 120,4 155,6 138 Ngành DVTM 245.432 39,52 301.644 39,05 456.456 40,26 122,9 151,3 137,1 Nguồn: Phòng Thống kê huyện Đồng Hỷ Trong giai đoạn 2004-2008, cơ cấu kinh tế của huyện có sự chuyển dịch, tỷ trọng về ngành công nghiệp xây dựng và ngành dịch vụ tăng dần. Giá trị gia tăng của ngành thương mại dịch vụ chiếm cao nhất 40,26%. Nhưng xét về tốc độ gia tăng thì ngành công nghiệp xây dựng, xây dựng tăng cao nhất là 38% thấp nhất là ngành nông lâm thủy sản 30,8%. Sản xuất nông lâm thủy sản vẫn chiếm tỷ trọng tương đối lớn trong cơ cấu kinh tế của huyện, vì vậy vai trò mô hình kinh tế trang trại và hộ gia đình càng tương đối quan trọng trong sự phát triển kinh tế của huyện. Trong những năm gần đây do hệ thống giao thông của huyện được nâng cấp và đầu tư, vị trí thuận lợi sẵn có về đường giao thông nên hoạt động thương mại dịch vụ có bước chuyển biến tích cực. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.Lrc-tnu.edu.vn 61 2.1.3. Đánh giá chung về những thuận lợi và khó khăn ảnh hưởng đến sự phát triển sản xuất nông nghiệp theo hướng sản xuất hàng hoá ở Đồng Hỷ tỉnh Thái Nguyên 2.1.3.1. Những thuận lợi - Huyện Đồng Hỷ là một huyện thuộc trung du miền núi, nên được rất nhiều chương trình dự án của Nhà nước cũng như tổ chức phi chính phủ đầu tư. Điều này đã tạo điều kiện cho các hộ nông dân có điều kiện áp dụng các tiến độ khoa học vào sản xuất, nâng cao năng lực, thay đổi hệ thống cây trồng và có giá trị sản lượng cao trên một đơn vị diện tích. - Là huyện có vị trí địa lý liền kề với thành phố Thái Nguyên, gần các trung tâm kinh tế, văn hoá của tỉnh và gần các trường đại học, trung học kỹ thuật, trung tâm nghiên cứu khoa học của vùng, có điều kiện tiếp cận với khoa học, kỹ thuật và công nghệ mới để phát triển. Rất thuận lợi cho các hộ nông dân trong việc ứng dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật vào quá trình sản xuất hàng hoá của mình. - Đội ngũ cán bộ của huyện nhiệt tình, năng động, lực lượng lao động đông đảo, cần cù, chịu khó lao động. Họ làm việc không quản nắng mưa để làm giàu luôn luôn nghĩ cách gia tăng thu nhập cho gia đình và đóng góp cho sự phát triển kinh tế chung của huyện. - Đất đai của huyện tương đối đa dạng, thuận lợi cho việc phát triển nhiều loại nông, lâm nghiệp hàng hoá như chè, cây ăn quả... Mặt khác, diện tích đất chưa sử dụng còn khá lớn có thể mở rộng để phát triển trồng trọt. - Hệ thống sông ngòi, kênh rạch, hệ thống thuỷ lợi, hệ thống giao thông thuận tiện cho phát triển sản xuất hàng hoá. Đặc biệt nó là nhân tố quyết định cây trồng lâu năm, cây ngắn ngày và cây lâm nghiệp. - Về giáo dục, đào tạo, y tế, thông tin liên lạc và các mặt kinh tế - xã hội khác đã và đang phát triển, đời sống người dân từng bước được cải thiện. 2.1.3.2. Những khó khăn - Điểm xuất phát của nền kinh tế còn thấp kém, phần lớn các hộ nông dân còn sản xuất tự cung tự cấp. Các hộ sản xuất hàng hoá chủ yếu phát triển Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.Lrc-tnu.edu.vn 62 ở các xã vùng sâu do đó hệ thống cơ sở hạ tầng rất kém. Thu nhập của người dân còn thấp. - Là huyện có nhiều dân tộc sinh sống, phần lớn dân cư có trình độ dân trí thấp, lao động phổ thông chiếm tỷ lệ cao, số người được đào tạo nghề còn ít, ngoài ra còn có nhiều phong tục tập quán lạc hậu, đã phần nào hạn chế khả năng tiếp thu khoa học kỹ thuật và chuyển giao công nghệ của người lao động. - Hệ thống cơ sở hạ tầng mặc dù đã được quan tâm và chú trọng xong ở các khu vực vùng sâu, vùng cao thì hệ thống này còn thiếu về số lượng, chưa đảm bảo về chất lượng. Hệ thống dịch vụ triển khai ứng dụng khoa học kỹ thuật như trạm giống cây trồng vật nuôi các cơ sở kỹ thuật khác chưa đáp ứng được nhu cầu sản xuất và đời sồng. 2.2 Thực trạng phát triển nông nghiệp theo hƣớng sản xuất hàng hoá ở huyện Đồng Hỷ tỉnh Thái Nguyên 2.2.1. Một số kết quả phát triển nông nghiệp của huyện Đồng Hỷ Nông nghiệp Đồng Hỷ là ngành có vai trò rất quan trọng đối với đời sống của người dân huyện và cũng là hoạt động đặc biệt quan trọng cung cấp các thực phẩm tươi sống như thịt, rau, quả, cá, trứng… cho đời sống của người dân trên địa bàn huyện. Bảng 2.4. Giá trị sản xuất, cơ cấu giá trị sản xuất, giá trị gia tăng ngành nông lâm thủy sản huyện Đồng Hỷ giai đoạn 2004 - 2008 (Theo giá cố định 1994) Chỉ tiêu I. Giá trị sản xuất nông, lâm,ngƣ nghiệp II. Cơ cấu giá trị SX 1. Nông nghiệp + Trồng trọt + Chăn nuôi 2. Thủy sản 3. Lâm nghiệp III. Giá trị gia tăng ngành nông, lâm, ngƣ nghiệp ĐVT 2004 2006 2008 BQ 2004 - 2008 Tr.đ 185.400 202.384 221.003 9% % % % % % 89,16 67,16 22,0 2,19 8,65 85,3 62,2 23 3,2 11,4 84,9 61,1 23,8 3,3 11,7 123.794 132.226 141.369 6,5% Nguồn: UBND huyện Đồng Hỷ Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.Lrc-tnu.edu.vn 63 Qua bảng trên ta thấy: Giá trị sản xuất nông lâm thủy sản qua các năm đều tăng (theo giá cố định 1994). Năm 2008 đạt giá trị là 221.003 triệu đồng (gấp 1,19 lần năm 2004), tốc độ tăng bình quân giai đoạn 1994 – 2008 đạt khoảng 9%/năm. Do lấy giá cố định 1994, nên giá trị sản xuất ngành nông lâm thủy sản không chịu ảnh hưởng của sự biến động giá cả, sự tăng lên đó phản ánh sự gia tăng của lượng hàng hóa nông lâm thủy sản. Như vậy, năng lực sản xuất nông lâm thủy sản của huyện Đồng Hỷ đã có sự tiến bộ đáng kể. Cơ cấu sản xuất nông nghiệp đã có sự chuyển dịch theo hướng tích cực. Tỷ trọng giá trị sản xuất trồng trọt giảm từ 67,16% năm 2004 xuống còn 61,1% năm 2008. Thay vào đó, tỷ trọng giá trị ngành chăn nuôi tăng từ 22,0% năm 2004 lên 23,8% năm 2008. Tỷ trọng ngành thủy sản tăng từ 2,19% lên 3,3% và tỷ trọng ngành lâm nghiệp tăng tương ứng từ 8,65% lên 11,7%. Giá trị gia tăng ngành nông lâm thủy sản (giá cố định 1994) giai đoạn 2004 – 2008 đạt tốc độ tăng bình quân 6,5%, cao hơn mức bình quân của cả nước. Mặc dù tỷ trọng của ngành trong GDP của huyện giảm qua các năm nhưng giá trị của ngành vẫn tăng tuyệt đối. Điều đó phản ánh chuyển dịch cơ cấu kinh tế nói chung và trong nội bộ ngành nói chung đang phản ánh đúng bản chất của chuyển dịch cơ cấu kinh tế. 2.2.2. Thực trạng phát triển nông nghiệp theo hướng sản xuất hàng hóa ở huyện Đồng Hỷ 2.2.2.1. Ngành trồng trọt Trồng trọt vẫn là ngành chính trong sản xuất nông nghiệp của tỉnh. Tuy nhiên, trồng trọt lại chịu tác động lớn nhất của thời tiết, do vây, từ năm 2004 đến nay, tốc độ tăng trưởng của trồng trọt không đều và có xu hướng giảm dần. Từ năm 2004 đến năm 2008, giá trị sản xuất ngành trồng trọt tăng bình Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.Lrc-tnu.edu.vn 64 quân khoảng 4%/năm, do thời tiết diễn biến thất thường đã ảnh hưởng không nhỏ đến năng suất và sản lượng cây trồng. Từ năm 2004 đến 2008, cơ cấu cây trồng đã có sự chuyển dịch theo hướng tăng dần diện tích các loại cây có giá trị kinh tế như rau các loại, ngô và một số cây lấy bột khác, giảm dần diện tích gieo trồng các loại cây có giá trị kinh tế thấp như khoai lang, sắn… Bảng 2.5. Cơ cấu diện tích gieo trồng cây hàng năm huyện Đồng Hỷ giai đoạn 2004 – 2008 Đơn vị: % Chỉ tiêu Năm 2004 Năm 2006 Năm 2008 Tổng diện tích gieo trồng 100,00 100,00 100,00 72,47 74,32 77,42 1. Lúa 59,81 56,64 57,45 2. Ngô 12,66 17,68 19,97 10,27 8,41 6,74 1. Khoai lang 7,00 6,18 4,68 2. Sắn 3,14 2,10 1,97 3. Cây chất bột khác 0,16 8,41 6,74 III. Rau đậu các loại 8,4 0,12 0,08 1. Rau các loại 4,7 6,27 8,26 2. Đậu các loại 3,6 3,9 2,2 8,9 7,11 5,38 1. Đỗ tương 3,71 3,48 2,28 2. Lạc 4,77 3,55 2,85 3. Vừng 0,11 0,02 0,17 4. Mía 0,31 0,07 0,08 I. Cây lƣơng thực có hạt II. Cây chất bột lấy củ IV. Cây công nghiệp hàng năm Nguồn: Phòng thống kê huyện Đồng Hỷ Đồng thời với việc chuyển dịch cơ cấu cây trồng thì việc chuyển dịch cơ cấu mùa vụ, cơ cấu giống được thực hiện ngày càng rộng rãi và dần trở Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.Lrc-tnu.edu.vn 65 thành tập quán sản xuất. Đến nay ở Đồng Hỷ diện tích lúa xuân muộn và mà sớm được gieo cấy chiếm khoảng 80%, đã xuất hiện một số mô hình sản xuất trái vụ đem lại hiệu quả cao. Nhiều tiến bộ kỹ thuật mới về giống, về biện pháp thâm canh, về bảo quản và tiêu thụ nông sản sau thu hoạch… được áp dụng đã nâng cao hiệu quả và thu nhập từ sản xuất nông nghiệp. Đã hình thành và ổn định tập quán sản xuát 3 vụ/năm trên diện tích canh tác cây hàng năm; bước đầu xuất hiện vùng sản xuất hàng hóa với một số cây trồng có thị trường tiêu thụ như rau,hoa, cây ăn quả, cây dược liệu, cây làm thức ăn gia súc…Nhiều mô hình trang trại chuyên canh và sản xuất kinh doanh tổng hợp được hình thành và phát triển. Kết quả trồng trọt cụ thể đạt được như sau:  Nhóm cây lượng thực có hạt (lúa, ngô) Là nhóm cây trồng chủ lực trên diện tích gieo trồng cây hàng năm của huyện. Từ năm 2004 đến nay, diện tích gieo trồng cây lương thực cua huyện có xu hướng giảm dần, nguyên nhân do một phần diện tích đất nông nghiệp chuyển mục đích sử dụng để phát triển các ngành kinh tế khác, một phần do chuyển dịch cơ cấu cây trồng sang các cây trồng khác có hiệu quả kinh tế cao hơn. Nhờ áp dụng có hiệu quả các biện pháp kỹ thuật trong thâm canh nên mặc dù diện tích gieo trồng giảm nhưng năng suất, sản lượng cây lương thực của huyện có xu hướng tăng. Sản lượng lương thực tăng, vừa đảm bảo an ninh lương thực trên địa bàn, dành một phần phục vụ chăn nuôi và bước đầu có hàng hóa phục vụ nhu cầu của các địa phương khác. Kết quả đạt được như sau: - Cây lúa: Diện tích gieo cấy bình quân đạt khoảng 6.568 ha/năm. Do tích cực áp dụng các tiến bộ kỹ thuật mới về giống, kỹ thuật canh tác và đặc biệt do chuyển đổi cơ cấu mùa vụ từ chính vụ sang gieo cấy trà xuân muộn, mùa sớm nên năng suất lúa đã tăng từ 41,52 tạ/ha năm 2004 lên 43,8 tạ/ha Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.Lrc-tnu.edu.vn 66 năm 2006, năm 2008 đạt 45,41 tạ/ha. Nhờ vậy, sản lượng lúa tăng chủ yếu là do năng suất tăng . Giá trị sản xuất năm 2008 đạt 85.362,15 triệu đồng (cao gấp 1,23 lần năm 2004). Đối với sản xuất lúa gạo ở huyện Đồng Hỷ , sản phẩm làm ra chủ yếu đáp ứng nhu cầu tiêu dùng của bản thân hộ , tỷ suất giá trị sản phẩm hàng hóa ở mức thấp, dao động trong khoảng từ 10 - 16% trong giai đoạn 2004 - 2008. Bảng 2.6. Diện tích, năng suất và sản lƣợng cây lƣơng thực huyện Đồng Hỷ giai đoạn 2004 - 2008 Chỉ tiêu Năm 2004 Năm 2006 Năm 2008 1. Diện tích (ha) 6.656 6.784 6.265 2. Năng suất (tạ/ha) 41,52 43,8 45,41 3. Sản lượng (tấn) 27.641 29.745,6 28.454 69.102,50 80.313,12 85.362,15 11,03 12,50 15,49 1. Diện tích (ha) 2.306 2.251,1 2.352 2. Năng suất (tạ/ha) 31,1 32,9 40,03 3. Sản lượng (tấn) 7.151 7.412,9 9.416 13.586,90 15.567,09 20.715,20 45,90 50,43 60,14 I. Cây lúa 4. Giá trị sản xuất (tr.đồng) 5. Tỷ suất giá trị hàng hóa (%) II. Cây ngô 4. Giá trị sản xuất (tr.đồng) 5. Tỷ suất giá trị hàng hóa (%) Nguồn: Phòng thống kê huyện Đồng Hỷ Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.Lrc-tnu.edu.vn 67 - Cây ngô: Sản xuất thâm canh ngô là thế mạnh của Đồng Hỷ, nhất là trồng ngô vụ đông. Đến nay 100% diện tích ngô của huyện được gieo trồng bằng các giống ngô lai, chủ yếu là lai đơn, lai 3 cho năng suất cao. Nhờ vậy, mặc dù diện tích trồng ngô không tăng nhưng sản lượng ngô cả năm của huyện Đồng Hỷ tăng lên một cách đáng kể, từ 7.151 tấn năm 2004 lên 9.416 tấn năm 2008 (tăng gấp hơn 1,3 lần). Giá trị sản phẩm hàng hóa năm 2008 đạt 20.715,20 triệu đồng (tăng 1,524 lần so với năm 2004). Đối với sản xuất ngô , sản phẩm làm ra một phần các hộ dùng làm thức ăn chăn nuôi, khoảng một nửa còn lại được bán trên thị trường . Tỷ suất giá trị sản phẩm hàng hóa năm 2008 đạt 60.14%. * Nhóm cây thực phẩm (rau, đậu các loại): Trong những năm gần đây, Đồng Hỷ cũng là một trong những huyện sản xuất rau với khối lượng sản phẩm lớn của tỉnh Thái Nguyên, đáp ứng nhu cầu ngày càng tăng của người dân địa phương và người dân ở địa phương khác. Do thị trường tiêu thụ lớn, mặt khác cây rau là loại cây trồng đem lại thu nhập khá cao và thường xuyên so với các loại cây khác nên được nông dân huyện Đồng Hỷ chú trọng phát triển. Từ năm 2004, huyện Đồng Hỷ quan tâm đẩy mạnh ứng dụng và chuyển giao các tiến bộ kỹ thuật trong sản xuất rau, nhất là quản lý dịch hại tổng hợp trên rau (IPM) và hướng sản xuất rau theo hướng an toàn. Nhờ đó, năng suất và chất lượng rau ngày càng được nâng cao. Năng suất rau năm 2008 đạt 166,8 tạ/ha, cao gấp 1,36 lần năm 2004 và gấp 1,46 lần năm 2006. Nhờ đó, sản lượng rau tăng lên đáng kể, đạt 17.544,8 tấn năm 2008. Có thể nói, rau là cây trồng có hiệu quả kinh tế , phù hợp với cơ cấy : Lúa xuân muộn – Lúa mùa sớm – cây rau vụ đông và điều kiện các xã ven đô . Nhiều diện tích cho thu nhập trên 50 triệu đồng và trên 100 triệu đồng /ha. Tổng giá trị sản xuất rau các loại năm 2008 đạt 70.179,20 Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.Lrc-tnu.edu.vn 68 triệ u đồng (tăng 1,71 lần so với năm 2004), tỷ suất giá trị sản phẩm hàng hóa những năm qua dao động khoảng trên dưới 70%. Bảng 2.7. Diện tích, năng suất và sản lƣợng cây thực phẩm huyện Đồng Hỷ giai đoạn 2004 – 2008 Chỉ tiêu Năm 2004 Năm 2006 Năm 2008 1. Diện tích (ha) 1.115,9 1.271,5 1.052,1 2. Năng suất (tạ/ha) 122,69 114 166,8 3. Sản lượng (tấn) 13.691 14.494 17.544,8 41.073,01 50.729,12 70.179.20 60,17 72,47 78,90 1. Diện tích (ha) 534 541 701 2. Năng suất (tạ/ha) 4,50 5,03 8,61 3. Sản lượng (tạ) 2.403 2.721,23 6.035,61 13.216,50 16.327,38 36.213,66 58,42 60,11 61,05 I. Rau các loại 4. Giá trị sản xuất (tr.đồng) 5. Tỷ suất giá trị sản phẩm hàng hóa (%) II. Đậu các loại 4. Giá trị sản xuất (tr.đồng) 5. Tỷ suất giá trị sản phẩm hàng hóa (%) (Nguồn: Phòng thống kê huyện Đồng Hỷ) Đối với đậu các loại , diện tích bình quân đạt 592 ha/năm, năng suất tăng nhờ đầu tư thâm canh , nhưng diện tích gieo trồng có xu hướng giảm do nhu cầu thị trường giảm . Giá trị s ản xuất năm 2008 đạt 36.213,66 triệu đồng (tăng 2,74 lần so với năm 2004). Tỷ suất giá trị sản phẩm hàng hóa đạt mức trung bì nh khoảng từ 50 - 60% qua các năm. * Nhóm cây công nghiệp hàng năm (đậu tương, lạc) Là nhóm cây trồng có khối lượng và giá trị sản phẩm hàng hóa lớn, có thị trường tiêu thụ. Đây là nhóm cây có giá trị kinh tế cao, có thị trường tiêu thụ và có khả năng phát triển theo hướng thâm canh tăng năng suất, kết quả cụ thể của từng loại cây như sau: Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.Lrc-tnu.edu.vn 69 + Cây đậu tương: Là cây công nghiệp được phát triển khá và được trồng chủ yếu trong vụ đông. Nhờ thâm canh tăng năng suất và tăng cường sử dụng giống tốt nên năng suất cao hơn qua các năm. + Cây lạc: Nhờ tăng cường đưa giống mới vào sản xuất như S Đ, LD2, sen lai, L14, L15… và thực hiện tốt các biện pháp kỹ thuật trong thâm canh nên năng suất, sản lượng tăng khá, đặc biệt là lạc gieo trồng vụ đông. Năm 2008, diện tích đạt 347 ha, năng suất đạt 10,8 tạ/ha, sản lượng đạt 375,7 tấn. Diện tích , năng suất , sản lượng , giá trị s ản lượng và tỷ suất giá trị sản phẩm hàng hóa cây công nghiệp hàng năm của huyện được thể hiện quả bảng số liệu sau: Bảng 2.8. Diện tích, năng suất và sản lƣợng cây công nghiệp hàng năm huyện Đồng Hỷ giai đoạn 2004 – 2008 Chỉ tiêu Năm 2004 Năm 2006 Năm 2008 1. Diện tích (ha) 266 214,3 140,2 2. Năng suất (tạ/ha) 12 12,3 12,6 3. Sản lượng (tấn) 326 263 176,9 4. Giá trị sản xuất 1.630 1.446,5 1.061,4 5. Tỷ suất giá trị sản phẩm hàng hóa (%) 54,14 57,62 58,01 1. Diện tích (ha) 331 277,7 347 2. Năng suất (tạ/ha) 10 9,9 10,8 3. Sản lượng (tấn) 341 275 375,7 4. Giá trị sản xuất (tr.đồng) 2.728 2.337,5 3.381,3 5. Tỷ suất giá trị sản phẩm hàng hóa (%) 67,04 70,11 72,48 I. Đậu tƣơng II. Lạc (Nguồn: Phòng thống kê huyện Đồng Hỷ) * Cây chè và cây ăn quả Đồng Hỷ là một huyện có diện tích đất tự nhiên đứng thứ 3 của tỉnh Thái Nguyên (sau huyện Võ Nhai và Đại Từ). Có khoảng 13.946,59 ha đất gò đồi chiếm 30,20% so với tổng diện tích đất tự nhiên. Phần lớn diện tích đất Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.Lrc-tnu.edu.vn 70 vườn đồi của huyện được phân bố gần nhà và chủ yếu là ở vùng cao, vùng giữa của huyện. Diện tích đất nông nghiệp của huyện được phân theo mục đích sử dụng và khả năng gieo trồng như sau: Đất trồng cây hàng năm chiếm tỷ lệ cao nhất là 52,76% diện tích đất nông nghiệp, và chủ yếu là đất ruộng lúa và lúa màu. Thứ hai là diện tích cây lâu năm chiếm 32,57% diện tích nông nghiệp, trong đó chỷ yếu là cây chè và cây ăn quả là chính được phân bố không đồng đều, ở vùng giữa 2.093,05 ha chiếm 53,17% diện tích cây lâu năm, vùng thấp có diện tích thấp nhất 352,8 ha chiếm 8,96% diện tích cây lâu năm của huyện. Trong phát triển kinh tế vườn đồi chủ yếu là cây công nghiệp dài ngày (chè), cây ăn quả (vải, nhãn, na). Diện tích, năng suất và sản lượng cây chè, cây ăn quả huyện Đồng Hỷ được thể hiện ở bảng số liệu duới đây: Bảng 2.9. Diện tích, năng suất và sản lƣợng cây chè, cây ăn quả huyện Đồng Hỷ giai đoạn 2004 – 2008 Chỉ tiêu Năm 2004 Năm 2006 Năm 2008 1. Diện tích chè trồng mới 70,5 214,3 81,3 2. Diện tích chè cho thu hoạch 1628 1759 1981 2. Năng suất (tạ/ha) 73,5 74 98,2 3. Sản lượng (tấn) 11.964 13.146 20.319 4. Giá trị sản lượng (tr.đồng) 35.892 46.011 81.276 5. Tỷ suất giá trị sản phẩm hàng hóa (%) 80,04 85,07 90,17 2105 2.500 5000 2. Giá trị sản lượng (tr.đồng) 23.155 34.500 67.500 3. Tỷ suất giá trị sản phẩm hàng hóa (%) 62,12 64,14 64,70 I. Cây chè II. Cây ăn quả 1. Sản lượng (tấn) (Nguồn: Phòng thống kê huyện Đồng Hỷ) Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.Lrc-tnu.edu.vn 71 + Cây chè: Nhờ áp dụng giống mới và đầu tư thâm canh, áp dụng các biện pháp kỹ thuật thích hợp như ủ gốc, che nắng thích hợp nên năng suất chè tăng lên rất nhanh. Năm 2008, năng suất chè đạt 98,2 tạ/ha cao gấp 1,33 lần năm 2004, gấp 1,32 lần năm 2006.Cây chè là loại cây trông hiện đang là cây công nghiệp đem lại thu nhập cao và ổn định cho các hộ nông dân tỉnh Thái Nguyên và đặc biệt là các hộ vùng cao của huyện. Với các giống chè PH1, TRI 77, do viện nghiên cứu chè Phú Hộ nhập từ nước ngoài về và cho sản phẩm ổn định. Hai dòng chè này có năng suất rất cao, chị nóng, chịu hạn, chịu rét rất tốt . Chè có hương thơm đặc trưng , có thể chế biến chè đen và các loại chè đặc sản có chất lượng cao phù hợp với nhu cầu thị trường rộng lớn . Đối với huyện Đồng Hỷ , chè có lợi thế sản xuất . Tổng giá trị chè nă m 2008 đạt 81.276 triệu đồng (tăng 2,26 lần so với năm 2004). Phần lớn chè được sản xuất ra là để bán, chiếm trên 80% tổng khối lượng chè sản xuất . + Cây ăn qủa: Các loại cây ăn quả như nhãn, vải, cam chanh, chuối, xoài, bưởi, na, hồng… đã được trồng phổ biến trên vùng gò đồi với các giống nổi tiếng được người dân trồng bằng phương pháp nghép cành. Mặc dù trong những năm gần đây do có sự biến động về giá cả sản phẩm, nhưng các giống cây ăn quả đó vẫn là nguồn thu nhập chính cho các hộ nông dân trên vùng gò đồi, nhất là đối với các hộ sống ở vùng phía Bắc của huyện, nơi có nhiều đồng bào dân tộc thiểu số đang sinh sống. Hiện nay, một số loại cây ăn quả đem lại thu nhập khá là chuối 18,8 triệu đồng/ha, nhãn 31,6 triệu đồng/ha, vải 10 – 15 triệu đồng/ha. Sản phẩm cây ăn quả trên địa bàn huyện đã bước đầu đáp ứng được nhu cầu thị trường trong huyện và cung cấp cho các huyện lân cận. 2.2.2.2. Thực trạng phát triển ngành chăn nuôi Những năm gần đây, chăn nuôi trên địa bàn huyện phát triển khá mạnh cả về số lượng và chất lượng, đây là một trong những hướng mũi nhọn mà huyện Đồng Hỷ đã xác định nhằm chuyển dịch cơ cấu kinh tế trong nông Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.Lrc-tnu.edu.vn 72 nghiệp. Từ năm 2004 đến năm 2008, huyện đã triển khai nhiều dự án về cải tạo và phát triển đàn lợn, bò thịt và bò sữa, thực hiện hỗ trợ giá giống lợn ngoại, hỗ trợ 100% chi phí thụ tinh nhân tạo từ bò thịt, bò sữa, hỗ trợ lãi suất cho nông dân mua bò sữa… Kết quả giai đoạn 2004 – 2008, giá trị sản xuất ngành chăn nuôi tăng bình quân 12 %/năm. Số lượng gia súc, gia cầm tăng khá, đàn lợn tăng bình quân 2,01 %/năm, đàn gia cầm tăng 25 %/năm, đàn bò tăng 18 %/năm. Riêng đàn trâu giảm 6,5 %/năm do việc áp dụng cơ giới hóa trong khâu làm đất tăng lên, nhu cầu về sức kéo giảm. Tỷ trọng chăn nuôi trong cơ cấu nội bộ ngành tăng chậm từ 22% năm 2004 lên 23,8% năm 2008. Nhiều tiến bộ kỹ thuật mới về giống, thức ăn, thú y và các phương thức chăn nuôi mới được ứng dụng vào sản xuất. Chất lượng đàn gia súc, gia cầm được nâng lên. Nhiều giống gia súc, gia cầm mới có năng suất, chất lượng cao được đưa vào sản xuất trên địa bàn huyện. Đã hình thành nhiều trang trại chăn nuôi lợn thịt hướng nạc, gia cầm, thủy cầm… với quy mô khá lớn. Phương thức nuôi công nghiệp và bán công nghiệp đang được mở rộng, vừa giải quyết việc làm cho lao động nông nghiệp, vừa đem lại hiệu quả cao cho người sản xuất. Theo kết quả điều tra nông nghiệp nông thôn, áp dụng tiêu chí trang trại mới sửa đổi năm 2003, thì số lượng mô hình kinh tế trang trại hiện nay của huyện là 102 trang trại. Tỷ lệ trang trại sản xuất kinh doanh tổng hợp chiếm 52/102 trang trại. Trang trại chuyên chăn nuôi còn ít chiếm 12/102 trang trại. Việc phát triển mô hình kinh tế trang trại là tất yếu của nền sản xuất hàng hóa của huyện Đồng Hỷ, đặc biệt là hướng phát triển trang trại chăn nuôi. Kết quả cụ thể ngành chăn nuôi như sau: * Chăn nuôi lợn: Chăn nuôi lợn là thế mạnh truyền thống của Đồng Hỷ. Từ năm 2004, trên địa bàn huyện đã triển khai một số dự án cải tạo giống và phát triển chăn nuôi lợn hướng nạc, sản xuất giống và chăn nuôi lợn ngoại bước đầu thu được kết quả tốt, đã xuất hiện nhiều mô hình chăn nuôi công nghiệp với quy mô hàng trăm nái có thu nhập cao. Tổng đàn lợn năm 2008 đã đạt 51.951con (tăng 7,6 % so với năm 2004). Sản lượng thịt lợn hơi xuất chuồng tăng mạnh, Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.Lrc-tnu.edu.vn 73 giai đoạn 2004 – 2008 có tốc độ tăng bình quân 28,5 %/năm, năm 2008 đạt 4.250 tấn, tăng gấp 2,7 lần so với năm 2004. Mỗi năm Đồng Hỳ đã cung cấp vài nghìn tấn thịt lợn cho các thị trường lân cận. Bảng 2.10.Kết quả ngành chăn nuôi huyện Đồng Hỷ giai đoạn 2004- 2008 T T Chỉ tiêu Đơn vị tính 2004 2006 2008 Tốc độ tăng bình quân 20042008 (%) 11,73 I Tổng giá trị sản xuất Tr.đ 48.488 54.622 60.524 1 Chăn nuôi gia súc Tỷ suất hàng hóa Tr.đ % 36.785 70,01 40528 73,02 44346 77,51 9,8 2 Chăn nuôi gia cầm Tr.đ 2.172 2.520 2.732 12,15 Tỷ suất hàng hóa % 62,2 62,9 70,08 Tr.đ % Tr.đ 3.638 51,14 5.853 4.850 55,72 6.446 5.457 57,19 7.726 % 63,34 65,17 66,92 3 4 Chăn nuôi khác Tỷ suất hàng hóa Sản phẩm không qua giết thịt Tỷ suất hàng hóa 22,48 14,89 II 1 2 Số lƣợng gia súc, gia cầm Tổng đàn trâu Tổng đàn bò Con Con 15.116 3.600 15.587 5.078 13.017 4824 -6,5 18 3 Tổng đàn lợn Con 48.288 54.020 51.951 2,01 Con 250.000 508.237 505.961 25 Tấn 204 171 190 10,82 4 Tổng đàn gia cầm III Sản phẩm chăn nuôi chủ yếu 1 Thịt trâu hơi 2 3 Thịt bò hơi Thịt lợn hơi Tấn Tấn 196 1600 214 3.696 250 4.250 15,72 28,50 4 Thịt gia cầm Tấn 387 433 493 14,52 (Nguồn: Phòng thống kê huyện Đồng Hỷ) * Chăn nuôi trâu, bò: Những năm gần đây, đàn trâu trên địa bàn huyện có xu hướng giảm dần do tỷ lệ cơ giới hóa trong khâu làm đất tăng, nhu cầu sức kéo giảm và hiệu Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.Lrc-tnu.edu.vn 74 quả chăn nuôi trâu không cao. Năm 2008, toàn huyện có 13.017 con, bình quân giai đoạn 2004 – 2008 tổng đàn trâu giảm 6,5%. Sản lượng thịt trâu xuất chuồng năm 2008 đạt 190 tấn, tăng bình quân 10,82% giai đoạn 2004 – 2008. Đàn bò cũng được xác định là một trong các con vật nuôi chủ lực trong quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp, đàn bò đã phát triển ở hầu hết các xã. Sản lượng thịt bò hơi xuất chuồng tăng bình quân 15,72%/năm, năm 2008 đạt 250 tấn, tăng gấp 1,27 lần so với năm 2004. * Chăn nuôi gia cầm: Chăn nuôi gia cầm của huyện nhìn chung phát triển khá. Thời gian qua, nhiều giống gia cầm mới cho năng suất và chất lượng cao, phù hợp với điều kiện chăn nuôi đã được nuôi thích nghi, chọn lọc, khảo nghiệm đưa vào sản xuất như vịt SuperM, CV2000, ngan Pháp, vịt trứng Triết Giang; các giống gà thả vườn như Tam Hoàng, Lương Phượng, Kabir… Năm 2008, tổng đàn gia cầm đạt 505.961 con. Năm 2004, do ảnh hưởng của dịch cúm, chăn nuôi gia cầm của huyện chịu thiệt hại lớn. Nhờ thực hiện tốt các biện pháp phòng chống dịch bệnh và khắc phục nên những năm gần đây chăn nuôi gia cầm phát triển tốt. 2.2.2.3. Dịch vụ nông nghiệp Cùng với sự phát triển của các lĩnh vực sản xuất, hoạt động dịch vụ cũng có sự tăng trưởng khá. Giai đoạn 2004 – 2008, giá trị sản xuất dịch vụ nông nghiệp tăng bình quân 8%/năm. Kết quả một số hoạt động dịch vụ cụ thể như sau: - Dịch vụ làm đất: Do tình trạng ruộng đất manh mún còn phổ biến nên việc áp dụng cơ giới hóa trong khâu làm đất còn rất thấp. Năm 2008, với chỉ có khoảng 30% tổng diện tích gieo trồng được thực hiện dịch vụ làm đất, còn Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.Lrc-tnu.edu.vn 75 lại là do bà con nông dân tự làm. Giá trị sản xuất của dịch vụ làm đất mới chỉ chiếm khoảng 20% trong giá trị sản xuất ngành dịch vụ sản xuất nông nghiệp. - Sản xuất, kinh doanh giống cây trồng, vật nuôi được thực hiện tốt trong thời gian qua. Các đơn vị được giao đã cung ứng đủ giống tốt phục vụ sản xuất. Công tác quản lý nhà nước về giống cây trồng, vật nuôi được tăng cường nên chất lượng các loại giống cây, con trên địa bàn huyện được đảm bảo. - Dịch vụ tiêu thụ nông sản hàng hóa: Do hoạt động của HTX dịch vụ nông nghiệp còn yếu, vốn ít, mới chỉ thực hiện được một số khâu dịch vụ như thủy lợi, điện, bảo vệ sản xuất… chưa tổ chức được dịch vụ tiêu thụ nông sản hàng hóa cho nông dân, nên việc tiêu thụ hàng hóa chủ yếu thông qua các doanh nghiệp, các hộ kinh doanh trong huyện. - Công tác khuyến nông, khuyến lâm, khuyến ngư trên địa bàn luôn được cấp chính quyền quan tâm, đây được coi là lĩnh vực quan trọng thúc đẩy sản xuất phát triển. Toàn bộ các xã trên địa bàn huyện đều thành lập các tổ khuyến nông cơ sở. Hoạt động khuyến nông cơ sở những năm qua đã đi vào nề nếp và hoạt động có hiệu quả, góp phần tích cực trong thực hiện chuyển dịch cơ cấu kinh tế và phát triển nông nghiệp – nông thôn. Tuy nhiên, trong quá trình hoạt động, khuyến nông cơ sở đã bộc lộ một số khó khăn như: khối lượng công việc quá nhiều, cơ sở vật chất kỹ thuật phục vụ cho hoạt động quá thiếu, mức phụ cấp không còn phù hợp… đã ảnh hưởng nhất định đến hiệu quả của hoạt động khuyến nông. - Công tác bảo vệ thực vật được duy trì thường xuyên, kịp thời, nhất là công tác dự tính dự báo, hướng dẫn phòng trừ sâu bệnh, chuột hại, mở rộng áp dụng các biện pháp quản lý dịch hại tổng hợp (IPM)… nên tỷ lệ thiệt hại do sâu bệnh, chuột hàng năm đều ở mức thấp. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.Lrc-tnu.edu.vn 76 - Công tác thú y: Trong thời gian qua, công tác thú y luôn được các cấp, các ngành, hộ nông dân quan tâm, nhất là công tác tiêm phòng, vệ sinh thú y, kiểm dịch, kiểm soát vận chuyển và giết mổ gia súc, gia cầm. việc xây dựng vùng an toàn dịch bệnh cho đàn gia súc, gia cầm bước đầu đã có hiệu quả. Nhìn chung, công tác thú y trong những năm qua được thực hiện khá tốt, do vậy không có dịch bệnh lớn xảy ra, chỉ xuất hiện cục bộ ở một số thôn và đã được dập tắt kịp thời. * Đánh giá chung: Sản xuất nông nghiệp huyện Đồng Hỷ những năm gần đây đã đạt được những kết quả quan trọng và đang dần từng bước chuyển sang sản xuất hàng hóa. Nhiều giống cây trồng, vật nuôi mới có năng suất cao, chất lượng tốt được đưa vào sản xuất. Bước đầu hình thành vùng sản xuất hàng hóa tập trung, nhiều mô hình sản xuất có hiệu quả. Năng suất, sản lượng các loại cây trồng, vật nuôi không ngừng tăng, góp phần nâng cao thu nhập trên một đơn vị diện tích . Những sản phẩm hàng hóa Đồng Hỷ có thế mạnh trong sản xuất là chè , rau, chăn nuôi lợn , gia cầm. Tuy nhiên, nông nghiệp Đồng Hỷ còn chưa thực sự phát triển theo chiều sâu, chưa có sản phẩm chủ lực, khối lượng sản phẩm còn ít, sản phẩm chưa có thương hiệu riêng, chất lượng và sức cạnh tranh không cao. Ruộng đất manh mún, quy mô sản xuất nhỏ lẻ…. đó là những hạn chế lớn cần được khắc phục trong quá trình phát triển nông nghiệp trong những năm tới. 2.2.3. Thực trạng và các loại hì nh tổ chức sản xuất 2.2.3.1. Tình hình phát triển kinh tế hợp tác, hợp tác xã nông nghiệp * Tình hình phát triển các Tổ hợp tác: Hiện nay trên địa bàn huyện có 05 tổ hợp tác đang hoạt động + Một tổ hợp tác thuộc xã Khe Mo (liên xóm) hoạt động theo hình thức câu lạc bộ khuyến nông. Nội dung hoạt động chủ yếu là dự tính, dự báo sâu bệnh, thực hiện các chương trình ô mẫu chuyển giao KHKT. Tổng số 64 hộ Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.Lrc-tnu.edu.vn 77 gia đình tham gia, số lao động trực tiếp trong tổ là 120 người (khi mới thành lập). Hiện nay, số tổ viên giảm chỉ có 41 người (80 lao động). Hướng hoạt động của câu lạc bộ: giữ nguyên mô hình hoạt động vì chưa có nhu cầu phát triển thành HTX. + Một tổ hợp tác nghèo thuộc xã Cây Thị, đây là mô hình thử nghiệm của Sở NN & PTNT tỉnh Thái Nguyên hỗ trợ xây dựng từ năm 2001. Nội dung hoạt động chủ yếu là chuyển giao KHKT, vay vốn của ngân hàng chính sách xã hội để thực hiện một số ô mẫu về trồng trọt và chăn nuôi. Tổng số tổ viên 50 hộ. Hướng phát triển của tổ: Tiếp tục giúp đỡ các hộ nghèo phát triển kinh tế, xóa nghèo. + Hai tổ hợp tác do tổ chức Plan hỗ trợ xây dựng từ năm 2006: 01 tổ hợp tác chè an toàn thuộc xã Minh Lập với 69 hộ gia đình tham gia. Nội dung hoạt động chủ yếu trong tổ hợp tác là các tổ viên đã biết ứng dụng KHKT, sử dụng phương pháp bón phân hữu cơ cho cây chè đến nay tổ hợp tác hoạt động khá mạnh và có xu hướng phát triển thành HTX. + Một tổ hợp tác người nghèo xã Tân Lợi được thành lập vào cuối năm 2006, với tổng số thành viên của tổ hợp tác là 55 thành viên do Chi cục HTX & PTNT tỉnh Thái Nguyên đầu tư, hỗ trợ vốn, tuy mới được thành lập nhưng các thành viên trong tổ hợp tác đã được tập huấn về kỹ thuật trồng trọt và chăn nuôi, được chuyển giao KHKT vào sản xuất, vay vốn ưu đãi của ngân hàng chính sách xã hội. Hướng phát triển của tổ là tiếp tục phát triển sản xuất, phấn đấu xóa đói, giảm nghèo cho người dân. * Tình hình phát triển các Hợp tác xã nông nghiệp Hiện nay, tổng số HTX nông nghiệp trên địa bàn huyện là 28 HTX với tổng số vốn cố định là 5.015 triệu đồng, vốn lưu động là 356,8 triệu đồng. Hợp tác xã nông nghiệp hiện nay chủ yếu là làm dịch vụ nông nghiệp. Các Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.Lrc-tnu.edu.vn 78 hình thức dịch vụ đa dạng nhưng chủ yếu là dịch vụ thủy lợi, dịch vụ vật tư giống, phân bón và kỹ thuật nông nghiệp. Dịch vụ chế biến và tiêu thụ sản phẩm: chè hữu cơ, sấy vải quả, rau an toàn. + Dịch vụ thủy lợi: Hầu hết các HTX đã ký hợp đồng sử dụng nước với hộ nông dân hoặc trưởng xóm: hệ thống kênh mương được kiên cố, thường xuyên tu sửa, nạo vét đảm bảo tưới tiêu chủ động cho các hộ xã viên. Các HTX đã làm tốt khâu dịch vụ thủy lợi, tiết kiệm được chi phí, đảm bảo thu đủ chi và đã có lãi (HTX Đoàn Kết – Cao Ngạn, HTX Hồng Thái – Hóa Thượng). Bên cạnh đó còn một số HTX còn không thu được tiền nước của nhân dân, còn nợ đọng nhiều như HTX dịch vụ nông nghiệp Thành Công – Linh Sơn. Một số HTX quản lý hồ đập, nước tự chẩy chưa phát huy được vai trò quản lý thủy nông thường không thu được thủy lợi phí và nợ đọng tiền quản lý phí trong dân (HTX Na lay – Quang Sơn; HTX Cây Thị - Cây Thị). Hiện nay, việc thu thủy lợi phí và quản lý sử dụng số tiền này chưa đồng bộ, có xã giao cho HTX, có xã giao cho xóm quản lý do vậy chưa phát huy được hiệu quả tiền thủy lợi phí ở cơ sở. + Dịch vụ vật tư nông nghiệp: Đối với các HTX nhận khâu dịch vụ này hầu hết còn thiếu vốn để hoạt động, chủ yếu các HTX kinh doanh theo phương thưc cung ứng trả chậm hưởng hoa hồng nên lãi không đáng kể. Tuy nhiên, hàng năm HTX đã cung ứng hàng trăm tấn phân bón và các loại giống lúa, giống ngô cho nhân dân đúng thời gian, kịp thời vụ. + Dịch vụ bảo vệ thực vật: HTX đã tổ chức bảo vệ thực vật phối hợp với Trạm bảo vệ thực vật huyện làm nhiệm vụ dự tính, dự báo sâu bệnh, hướng dẫn khuyến cáo xã viên biện pháp phòng trừ sâu bệnh tổng hợp, hạn chế việc dùng thuốc trừ sâu, phân hóa học; sử dụng phân hữu cơ và áp dụng Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.Lrc-tnu.edu.vn 79 các biện pháp IPM (Tổ hợp tác sản xuất chè an toàn xã Minh Lập), sản phẩm chè hữu cơ của tổ hợp tác đã được thị trường chấp nhận. + HTX chế biến và tiêu thụ sản phẩm nông nghiệp: Các HTX kinh doanh loại hình dịch vụ này bước đầu đã tiếp cận được thị trường, áp dụng các tiến bộ KHKT vào sản xuất, thu hút vốn đầu tư của các tổ chức nước ngoài như HTX rau an toàn Ngọc Lâm – Linh Sơn. Hiện nay HTX đã phát triển ngày càng ổn định. Tuy nhiên, các HTX còn gặp một số khó khăn về vốn và chưa xây dựng được thương hiệu cho sản phẩm của mình như vải khô. + Nhìn chung các HTX nông nghiệp hoạt động có hiệu quả, tuy lãi chưa cao song các HTX đã năng động, mở rộng dịch vụ và hoạt động theo phương án: một số HTX đã năng động, mở rộng dịch vụ và hoạt động theo phương án: một số HTX đã có thù lao cho BQL và trích trả cổ phần cho xã viên như HTX Đoàn Kết – Cao Ngạn, HTX Hồng Thái – Hóa Thượng, HTX Ngọc Lâm – Linh Sơn. Bên cạnh đó còn một số HTX sau hội nghị thành lập không thu được vốn điều lệ không làm theo phương án, không tiếp cận được thị trường, chưa làm các thủ tục đăng ký kinh doanh như HTX Sa Lung – Tân Long, HTX Na Lay, HTX La Đường – Khe Mo, HTX Đồng Bẩm, HTX Cây Thị - Cây Thị. Mặc dù còn nhiều khó khăn, lúng túng trong hoạt động dịch vụ và kinh doanh, song những năm qua vai trò của kinh tế tập thể cũng đã góp phần quan trọng đóng góp vào sự tăng trưởng chung của nền kinh tế. Đây cũng là thành phần chủ yếu làm cầu nối chuyển giao tiến bộ khoa học kỹ thuật và công nghệ mới vào khu vực nông nghiệp nông thôn, tạo động lực quan trọng góp phần xóa đói giảm nghèo xây dựng nông thôn mới. Tuy nhiên bên cạnh những kết quả đạt được, các hợp tác xã nông nghiệp ở Đồng Hỷ còn gặp nhiều khó khăn và hạn chế: Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.Lrc-tnu.edu.vn 80 - Hoạt động dịch vụ của HTX chủ yếu mang tính phục vụ cho kinh tế hộ xã viên, thực hiện theo khả năng của HTX mà chưa xuất phát từ nhu cầu của thị trường, năng lực cạnh tranh kém, các hoạt động dịch vụ thường không mang lại lợi nhuận mà theo kiểu hoạt động công ích. Số HTX kinh doanh có lãi chủ yếu lại do được chuyển giao một số quỹ đất để thầu khoán, kinh doanh điện, dịch vụ cung cấp giống. Đa số các HTX vẫn duy trì chế độ hoạt động kinh doanh theo kiểu cũ, thiếu năng động sáng tạo, không phát huy được sức mạnh tập thể, chất lượng dịch vụ không cao, không hấp dẫn do vậy vai trò HTX bị mờ nhạt không thu hút được bà con nông dân. - Bộ máy cán bộ HTX hiện nay vừa thiếu lại vừa yếu, trình độ năng lực còn hạn chế. - Vốn, tài sản của HTX nhỏ bé, lại chủ yếu nằm ở tài sản cố định, các loại máy móc và cơ sở phục vụ sản xuất, chế biến hầu như không có, vốn lưu động của HTX bị chiếm dụng do nợ nần kéo dài. - Công nợ còn tồn đọng nhiều, nhiều khoản nợ nhiều năm không xử lý được. Đây là một khó khăn không nhỏ cho hoạt động của HTX. - Đa số các HTX không có giao dịch với hoạt động tín dụng, ngân hàng, vốn trong sản xuất kinh doanh không có, trong khi đó vốn góp của xã viên lại hạn chế, do đó ảnh hưởng rất nhiều đến kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh, một số HTX không có vốn kinh doanh nên không hoạt động được. 2.2.3.2. Tình hình phát triển kinh tế trang trại Sau khi Chính phủ có Nghị quyết 03/2000/NQ – CP về kinh tế trang trại, cung với các địa phương khác trong cả nước, kinh tế trang trại ở huyện Đồng Hỷ cũng đã sớm hình thành và phát triển ngày càng mạnh mẽ. Đến nay toàn huyện có 202 trạng trại (theo tiêu chí mới) với nhiều loại hình sản xuất Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.Lrc-tnu.edu.vn 81 như trồng cây lâu năm, sản xuất kinh doanh tổng hợp, lâm nghiệp, chăn nuôi. Tỷ lệ trang trại kinh doanh tổng hợp chiếm 52/102 trang trại, trang trại chuyên chăn nuôi còn ít chiếm 12/102 trang trại. Vốn sản xuất bình quân một trang trại là 175,5 triệu đồng/trang trại. Kinh tế trang trại phát triển đã giải quyết việc làm cho người lao động, tăng hiệu quả sử dụng đất, là thành phần kinh tế tạo ra một khối lượng sản phẩm hàng hóa lớn, góp phần tích cực trong việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp và có tác dụng tích cực trong việc thúc đẩy snar xuất nông nghiệp hàng hóa phát triển. Tình hình phát triển kinh tế trang trại huyện Đồng Hỷ được thể hiện quả bảng số liệu sau: Bảng 2.11. Một số chỉ tiêu của trang trại huyện Đồng Hỷ năm 2008 Chỉ tiêu STT Đơn vị tính Tổng số 1 Số trang trại Trang trại 102 2. Số lao động bình quân 1 trang trại Lao động 3,58 - Lao động của chủ hộ trang trại Lao động 2,70 - Lao động thuê mướn thường xuyên Lao động 0,88 3. Diện tích đất bình quân một trang trại ha 5,3 4. Tổng số vốn sản xuất kinh doanh bình quân Triệu đồng 125,7 5 Tổng thu từ sản xuất kinh doanh bình quân Triệu đồng 197,3 6. Giá trị sản phẩm dịch vụ nông nghiệp, lâm nghiệp, thủy sản bán ra bình quân Tỷ suất giá trị sản phẩm hàng hóa bình quân một trang trại Thu nhập trước thuế bình quân 1 trang trại Triệu đồng 188,1 % 95.33 Triệu đồng 75,2 7 8 (Nguồn: Phòng Thống kê huyện Đồng Hỷ) Tỷ suất hàng hóa của các trang trại khá cao (95,3%), các loại hình trang trại khác nhau cũng có tỷ suất hàng hóa khác nhau. Các trang trại chăn nuôi có tỷ suất hàng hóa cao nhất là 97%; kế đến là trang trại trồng cây lâu năm 85,8%; trang trại tổng hợp 83,1 % và cuối cùng là trang trại lâm nghiệp 82%. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.Lrc-tnu.edu.vn 82 Thực tế cho thấy các trang trại có tổng thu càng lớn thì tỷ suất hàng hóa càng cao và ngược lại. Theo quan điểm của một số nhà chuyên môn thì tỷ suất hàng hóa từ 60 – 70 % cơ bản vẫn là kinh tế tiểu nông có xu thế phát triển dần lên mô hình kinh tế trang trại. Như vậy, với quan điểm đó thì tỷ suất hàng hóa như nêu trên đã đạt mức cần thiết của mô hình kinh tế trang trại. Đây là bước tiến mới trong quá trình hình thành và phát triển sản xuất nông nghiệp hàng hóa và kinh tế nông thôn trên địa bàn huyện. * Về tình hình chế biến, tiêu thụ sản phẩm của các trang trại Bảng 2.12. Tình hình chế biến và tiêu thụ sản phẩm của trang trại Đơn vị: % Chỉ tiêu Bình quân chung I. Mức độ chế biến Sản phẩm thô 84,1 Sơ chế 15,9 II. Phƣơng thức bán sản phẩm Bán trực tiếp 55,7 Bán gián tiếp 44,3 III. Thị trƣờng tiêu thụ Trong huyện 34,4 Trong tỉnh 20,2 Ngoài tỉnh 45,4 (Nguồn: Phòng thống kê huyện Đồng Hỷ) Bảng trên cho thấy tình hình chế biến và tiêu thụ sản phẩm sản xuất của trang trại trên địa bàn huyện. Về mức độ chế biến thì có tới 84,1% sản phẩm bán ra của các trang trại là sản phẩm ở dạng sản phẩm thô, sản phẩm tươi Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.Lrc-tnu.edu.vn 83 sống không qua chế biến, chỉ có 15,9% là sản phẩm qua sơ chế. Về phương thức bán có tới 55,7% sản phẩm bán ra là bán trực tiếp và 44,3% là bán cho các đầu mối thu mua, cho thương lái, trên địa bàn huyện không có hệ thống kênh thu mua và sự trợ giúp của nhà nước trong việc tiêu thụ sản phẩm. Về thị trường tiêu thụ sản phẩm của các trang trại thì sản phẩm tiêu thụ tại chỗ (trong huyện) chiếm 34,4%, trong tỉnh 20,2% và bán ra tỉnh ngoài là 45,4%. Số bán ra ngoài tỉnh ở đây chủ yếu là thịt lợn hơi của trang trại chăn nuôi bán cho cơ sở chế biến ngoài tỉnh theo hợp đồng kinh tế được ký kết giữa cơ sở chế biến với các chủ trang trại. Ngoài ra còn sản phẩm chế biến chè búp khô của trang trại trồng cây lâu năm cũng được tiêu thụ ở địa bàn tỉnh ngoài khoảng từ 50 - 60% sản lượng sản phẩm bán ra. Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả đạt được, việc phát triển kinh tế trang trại ở huyện Đồng Hỷ vẫn còn gặp nhiều khó khăn: + Các trang trại trên địa bàn còn phát triển mang tính tự phát, các cấp chính quyền chưa có quy hoạch và định hướng cụ thể cho kinh tế trang trại phát triển, vì vậy vẫn chưa hình thành được các mối liên kết trong quá trình phát triển. + Phần lớn các chủ trang trại xuất thân từ nông dân, trình độ văn hóa thấp, thói quen tư duy sản xuất nhỏ, vốn ít, chưa có kinh nghiệm và am hiểu về khoa học kỹ thuật và quản lý sản xuất kinh doanh, hiểu biết về thị trường còn rất hạn chế. Trình độ tay nghề của người lao động còn thấp. + Nội lực của trang trại còn non yếu, chưa có điều kiện để đầu tư chiều sâu nên chất lượng, hiệu quả sản xuất kinh doanh còn thấp. + Kinh tế trang trại đòi hỏi lượng vốn đầu tư lớn hơn nhiều so với kinh tế hộ tiểu nông, đại bộ phận vượt quá khả năng của chủ trang trại. Vì vậy, thiếu vốn là khó khăn chung của hầu hết các chủ trang trại. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.Lrc-tnu.edu.vn 84 + Các cấp ủy Đảng, chính quyền địa phương nói chung chưa có sự thống nhất về nhận thức, chưa có thái độ rõ ràng đối với kinh tế trang trại để tháo gỡ khó khăn, vướng mắc. Điều này đã làm cho cac chủ trang trại còn băn khoăn lo ngại, chưa yên tâm đầu tư phát triển sản xuất kinh doanh, nhất là vấn đề cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất lâu dài cho trang trại cũng như cấp giấy chứng nhận kinh tế trang trại để họ được đảm bảo về địa vị pháp lý cũng như được hưởng các ưu đãi, khuyến khích theo chính sách của nhà nước. 2.2.3.4. Tình hình phát triển kinh tế hộ theo hướng sản xuất hàng hóa Trong quá trình sản xuất phát triển kinh tế, nhất là vào thời kỳ mở cửa nền kinh tế thị trường hiện nay thì các hộ nông dân để tồn tại và phát triển đều phải hướng vào vấn đề thị trường, tức là thực hiện sản xuất hàng hoá. Đối với huyện Đồng Hỷ, mặc dù vấn đề kinh tế thị trường còn là vấn đề mới mẻ, song sản xuất hàng hoá đã được các hộ nông dân biết đến và tiếp cận ở các mức độ khác nhau tuỳ theo cách sắp xếp tổ chức của các hộ. Có hộ sản xuất ra khối lượng hàng hoá nhỏ, ví dụ mỗi năm chỉ xuất chuồng vài tạ lợn hơi, vài tấn thóc… nhưng cũng có hộ sản xuất ra lượng hàng hoá lớn có giá trị hàng chục đến hàng trăm triệu đồng. Quy mô sản xuất, mức độ thu nhập giữa các hộ nông dân sản xuất hàng hoá trong một vùng và giữa các vùng các xã cũng có sự khác nhau, trong luận văn này chúng tôi cũng đi sâu vào nghiên cứu và phân tích. Vì số lượng hộ nông dân sản xuất hàng hoá của huyện Đồng Hỷ là rất lớn cho nên chúng tôi không thể điều tra được toàn bộ, mà chỉ chọn ra những hộ đại diện theo phương pháp chọn điển hình của các xã thuộc các vùng khác nhau để phân tích phục vụ đề tài. Cho nên số liệu đưa ra trong luận văn có thể là chưa chính xác tuyệt đối, nhưng chắc chắn những kết luận rút ra được sẽ mang tính đại diện cho cho toàn huyện. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.Lrc-tnu.edu.vn 85 Dựa trên tiêu chí xếp loại hộ nông dân theo quy mô hàng hoá. Qua quá trình xét chọn chúng tôi đã chọn được 90 hộ nông dân tiêu biểu cho các loại hộ nông dân theo quy mô hàng hoá của 3 xã thuộc ba vùng của huyện Đồng Hỷ. Bảng 2.13. Cơ cấu hộ nông dân theo quy mô hàng hoá ở các xã điều tra năm 2008 Xã Chỉ tiêu Xã Hóa Khe Mo SL Thƣợng CC SL CC ( hộ) (%) 8 26,67 6 Hộ sản xuất hàng hoá 10 33,33 Hộ sản xuất hàng hoá lớn ( hộ) (%) Tổng số Xã Hòa SL Bình CC SL CC ( hộ) (%) ( hộ) (%) 20,00 5 16,66 19 21,11 11 36,67 11 36,67 32 35,56 trung bình Hộ sản xuất hàng hoá nhỏ 12 40,00 13 43,33 14 46,67 39 43,33 Tổng cộng 30 100 30 100 30 100 90 100 (Nguồn: Số liệu điều tra ) Qua biểu trên ta thấy nếu nhìn vào tổng thể chung của 3 xã thì các hộ hàng hoá không có sự chênh lệch lớn, Nếu xét theo từng vùng thì có sự chênh lệch rõ rệt: Xã Hoá Thượng nằm ở vùng trung tâm của huyện, hộ hàng hoá lớn chiếm 26,67% cao hơn so với các xã. Do nằm gần trung tâm huyện, thành phần dân tộc Kinh chiếm đa số do vậy khả năng tiếp cận thị trường tốt hơn là xu hướng phát triển của các hộ. Phía Nam là xã Khe Mo có nhiều lợi thế phát triển nông nghiệp (cây công nghiệp, cây ăn quả). Hộ hàng hoá nhỏ chiếm 43,33%, thấp nhất là hộ hàng hoá lớn chiếm 20%. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.Lrc-tnu.edu.vn 86 Xã Hoà Bình nằm ở vùng cao, phía Bắc của huyện, chính vì vậy hộ hàng hoá nhỏ là chủ yếu chiếm 46,67%. Ở đây các hộ nông dân chủ yếu sản xuất ra để tiêu dùng là chủ yếu. * Về tình hình sản xuất hàng hóa của các hộ điều tra Các sản phẩm hàng hoá của hộ nông dân chủ yếu là nông sản. Rừng ở đây đang trong thời kỳ tu bổ và trồng mới nên phần lớn là chưa khai thác, chỉ có khai thác phần nhỏ ở diện tích khoanh nuôi và bảo vệ song chưa nhiều, cho nên sản phẩm hàng hoá còn rất ít. Qua bảng 2.16 ta thấy, quy mô giá trị sản phẩm hàng hoá bình quân của hộ điều tra là 12,514 trệu đồng, trong đó ngành trồng trọt 8,14 triệu đồng, chăn nuôi 3,954 triệu đồng, lâm nghiệp 0,42 triệu đồng. Cơ cấu giá trị sản phẩm hàng hoá của các nhóm hộ rất đa dạng. Tỷ trọng ngành trồng trọt chiếm 65%, chủ yếu là các sản phẩm cây hàng năm như lúa, ngô, lạc...; cây công nghiệp lâu năm như chè, na, bưởi...Ngành chăn nuôi chiếm tỷ trọng 31,6% chủ yếu là chăn nuôi lợn và gia cầm. Tỷ trọng hàng hoá của hộ có ngành lâm nghiệp rất thấp. Phân tích giá trị sản phẩm hàng hoá theo vùng, cao nhất là xã Hoá Thượng 12,729 triệu đồng trong đó trồng trọt 8,753 triệu đồng, chăn nuôi 3,651 triệu đồng, lâm nghiệp 0,325 triệu đồng; thấp nhất là xã Khe Mo 12,293 triệu đồng, trong đó giá trị sản hẩm hàng hoá ngành trồng trọt là 7,845 triệu đồng, chăn nuôi 4,025 triệu đồng, lâm nghiệp 0,423 triệu đồng. Cơ cấu sản phẩm hàng hoá ngành trồng trọt cao nhất là xã Hoá Thượng 68,8%, thấp nhất là xã Hoà Bình 62,5%; ngành chăn nuôi cao nhất là xã Hoà Bình 33,4%, thấp nhất là xã Hoá Thượng 28,7%; lâm nghiệp cao nhất là xã Hoà Bình 4,1%, thấp nhất là xã Hoá Thượng 2,5%. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.Lrc-tnu.edu.vn 87 Bảng 2.14. Quy mô và cơ cấu giá trị sản phẩm hàng hoá bình quân ở hộ nông dân điều tra năm 2008 Tổng Phân loại hộ GTSPHH SL Tỷ lệ Trồng trọt Trong đó Chăn nuôi SL Tỷ lệ SL Tỷ lệ Lâm nghiệp SL Tỷ lệ (tr.đ) (%) (tr.đ) (%) (tr.đ) (%) ( tr.đ) (%) 12,514 100 8,14 65 3,954 31,6 0,42 3,4 - Xã Hóa Thượng 12,729 100 8,753 68,8 3,651 28,7 0,325 2,5 - Xã Khe Mo 12,293 100 7,845 63,8 4,025 32,7 0,423 3,5 - Xã Hoà Bình 12,520 100 7,822 62,5 4,186 33,4 0,512 4,1 - Cây hàng năm 14,792 100 10,835 73,2 3,814 25,8 0,143 1,0 - Cây ăn quả 13,102 100 8,709 66,5 4,050 30,9 0,343 2,6 - Cây CN lâu năm 10,703 100 7,110 66,4 3,272 30,6 0,321 3,0 - Chăn nuôi 14,401 100 2,031 14,1 12,245 85,0 0,125 0,9 8,25 100 2,756 33,4 Bình quân chung 1. Theo vùng 2. Theo hướng sản xuất - Lâm nghiệp 1,962 23,8 3,532 42,8 3. Theo quy mô sản xuất hàng hoá - Hộ hàng hoá lớn 20,439 100 16,769 82,0 3,005 14,7 0,665 3,3 - Hộ hàng hoá TB 14,821 100 11,713 79,0 1,323 8,9 1,785 12,0 - Hộ hàng hoá nhỏ 9,533 100 6,184 2,339 24,5 1,010 10,6 64,9 (Nguồn: Số liệu điều tra) Theo cơ cấu ngành có sự khác nhau đáng kể giữa các nhóm hộ, Nhóm hộ cây hàng năm là chính có cơ cấu giá trị sản phẩm hàng hoá chiếm 73,2%, hộ chăn nuôi chiếm 85%, hộ trồng cây lâm nghiệp chiếm 42,8% trong cơ cấu giá trị sản phẩm hàng hóa của hộ. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.Lrc-tnu.edu.vn 88 Phân tích giá trị sản phẩm hàng hoá theo quy mô sản xuất hàng hoá, thì không có sự chênh lệch nhiều về cơ cấu giá trị hàng hoá giữa các ngành, điều khác nhau chủ yếu là về quy mô giá trị hàng hoá. Nhóm hộ hàng hoá lớn có quy mô giá trị sản phẩm hàng hoá là: 20,439 triệu đồng, nhóm hộ hàng hoá trung bình là: 14,821 triệu đồng, nhóm hộ hàng hoá nhỏ là 9,533 triệu đồng. Như vậy các hộ có hướng sản xuất khác nhau thì quy mô hàng hoá và cơ cấu sản phẩm hàng hoá rất khác nhau. Nhóm hộ hàng hoá lớn có quy mô giá trị sản phẩm hàng hoá gấp 1,38 lần hộ hàng hoá trung bình và gấp 2,14 lần hộ hàng hoá nhỏ. Vậy là khoảng cách quy mô sản xuất hàng hoá giữa các hộ chênh lệch chưa cao, thể hiện mức độ sản xuất hàng hoá còn hạn chế. * Đời sống của các hộ sản xuất hàng hóa Huyện Đồng Hỷ mặc dù là huyện nằm giáp với Thành phố Thái nguyên nhưng cuộc sống của các hộ nông dân ở các xã trong huyện chưa thực sự cao, sản phẩm của các hộ làm ra chủ yếu là phục vụ cho nhu cầu tiêu dùng nhiều hơn là sản phẩm đem bán ra thị trường. - Mức thu nhập: Mức thu nhập bình quân chung của các hộ ở các xã điều tra là 3,592 triệu đồng/ khẩu và 6,337 triệu đồng/ lao động ( Bảng 2.19) Như vậy mức sống của các hộ nông dân phụ thuộc rất nhiều vào sản xuất nông lâm nghiệp chiếm 80,81%, ngoài sản xuất nông lâm nghiệp chiếm 19,19%. Nếu phân theo các xã điều tra thì xã Hoá Thượng có mức sống của khẩu cao nhất 3,630 triệu đồng, thấp nhất là xã Hoà Bình 3,279 triệu đồng. Nếu phân tích theo hướng sản xuất thì mức sống của các nhóm hộ cũng khác nhau, nhóm hộ trồng cây hàng năm và cây ăn quả có mức sống cao hơn nhóm hộ chăn nuôi và cây lâu năm, thấp nhất là nhóm hộ trồng cây lâm nghiệp đạt 2,866 triệu đồng/khẩu. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.Lrc-tnu.edu.vn 89 Bảng 2.15. Mức thu nhập bình quân theo lao động và nhân khẩu của hộ nông dân điều tra Phân loại hộ Tổng thu nhập Khẩu LĐ 3,592 6,337 Bình quân chung 1. Theo vùng - Xã Hóa Thượng 3,630 - Xã Khe Mo 3,379 - Xã Hoà Bình 3,297 2. Theo hướng sản xuất - Cây hàng năm 3,511 - Cây ăn quả 3,480 - Cây CN lâu năm 3,382 - Chăn nuôi 3,287 - Lâm nghiệp 2,866 3. Theo quy mô sản xuất hàng hoá - Hộ hàng hoá lớn 5,554 - Hộ hàng hoá TB 3,186 - Hộ hàng hoá nhỏ 2,558 6,406 5,962 5,818 Trong đó Từ NLN Từ ngoài NLN Khẩu LĐ Khẩu LĐ 2,903 5,123 0,688 1,214 2,864 2,722 2,656 5,053 4,803 4,688 0,766 0,657 0,641 1,353 1,159 1,130 6,445 6,172 6,092 6,027 6,321 2,952 2,939 2,837 2,678 2,272 5,556 5,521 5,216 4,820 5,397 0,559 0,541 0,545 0,609 0,594 0,889 0,651 0,876 1,207 0,924 7,535 5,883 5,594 4,534 2,566 2,048 6,151 4,738 4,477 1,020 0,620 0,510 1,384 1,145 1,116 (Nguồn: Số liệu điều tra) Nếu phân tích theo quy mô sản xuất hàng hoá, nhóm hộ hàng hoá lớn có mức thu nhập 5,554 triệu đồng gấp 1,74 lần so với hộ hàng hoá TB và gấp 2,2 lần nhóm hộ hàng hoá nhỏ. - Tình hình chi tiêu của hộ: Qua bảng phụ lục ta thấy, do thu nhập của các hộ nông dân ở huyện Đồng Hỷ chưa cao nên mức chi cho đời sống còn nhiều hạn chế. Mức chi tiêu bình quân chung của hộ điều tra là 6,964 triệu đồng. Chủ yếu là chi cho ăn uống, lương thực, thực phẩm, chất đốt, hút thuốc, rượu...chiếm 59,63%. Còn lại 40,37% là chi giáo dục, y tế, điện nước, mua sắm thiết bị sản xuất, quần áo… Nếu theo vùng thì xã Hoá Thượng có mức chi tiêu cao nhất là 7,170 triệu đồng, thấp nhất là xã Hoà Bình 6,788 triệu đồng. Theo cơ cấu chi tiêu cho thấy xã Hoà Bình mặc dù thu nhập thấp nhưng cơ cấu chi tiêu cho ăn uống chiếm tỷ Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.Lrc-tnu.edu.vn 90 trọng cao 59,66%, xã Hoá Thượng có thu nhập cao nhưng chi tiêu cho ăn uống chiếm tỷ trọng thấp 51,19% và chi cho đời sống khác cao 48,81%. Phân tích mức chi tiêu theo quy mô sản xuất hàng hoá, hộ hàng hoá lớn có mức chi tiêu là 5,894 triệu đồng, hộ hàng hoá TB là 7,177 triệu đồng, hộ hàng hoá nhỏ là 6,642 triệu đồng. Theo cơ cấu chi tiêu thì hộ hàng hoá lớn có tỷ trọng chi tiêu cho ăn uống, hút chiếm tỷ trọng thấp ( 51,7%), chi cho hoạt động khác chiếm tỷ trọng cao ( 48,3%). Nếu tính riêng cho ăn uống thì nhóm hộ hàng hoá nhỏ và trung bình gấp từ 1,36-1,40 lần hộ hàng hoá lớn, nếu tính chi cho các hoạt động khác thì hộ hàng hoá lớn chi gấp 1,1-1,3 lần hộ hàng hoá TB và nhỏ. Nguyên nhân nhóm hộ hàng hoá lớn chi tiêu cho đời sống thấp là do bình quân nhân khẩu của một hộ hàng hoá lớn thấp hơn so với các nhóm hộ khác. Do vậy, các hộ hàng hoá lớn để dành phần thu nhập chi cho sản xuất nhiều hơn. 2.2.3.5. Tổng hợp một số chỉ tiêu về thực trạng các loại hì nh tổ chức nông nghiệp theo hướng sản xuất hàng hóa Bảng 2.16.Tổng hợp một số chỉ tiêu về các loại hì nh tổ chƣ́c sản xuất Giá trị sản xuất bình quân (Tr.đ) 16,57 Giá trị sản phẩm hàng hóa bình quân (Tr.đ) 7,34 Tỷ suất giá trị sản phẩm hàng hóa (%) 44,32 2. Kinh tế trang trại 197,3 188,1 95,33 3. HTX nông nghiệp 312,14 248,46 87,96 Loại hình tổ chức sản xuất 1. Kinh tế hộ (Nguồn: số liệu điều tra năm 2009) Qua bảng số liệu trên ta thấy kinh tế trang trại và hợp tác xã có tỷ suất giá trị sản phẩm hàng hóa cao hơn hẳn so với kinh tế hộ . Do vậy, để phát triển nông nghiệp theo hướng sả n xuất hàng hóa ở huyện Đồng Hỷ cần phải thúc đẩy các hì nh thức tổ chức sản xuất nông nghiệp theo hướng phát triển kinh tế trang trại và kinh tế hợp tác xã . Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.Lrc-tnu.edu.vn 91 2.2.4. Đánh giá chung về thực trạng sản xuất nông nghiệp theo hướng sản xuất hàng hóa ở huyện Đồng Hỷ *Những kết quả đạt được: Trong những năm qua, sản xuất nông nghiệp theo hướng hàng hóa ở huyện Đồng Hỷ đã đạt được nhiều kết quả quan trọng, cụ thể là: + Tốc độ tăng trưởng hàng năm của ngành nông nghiệp đạt khá, giá trị sản xuất liên tục tăng, năm sau cao hơn năm trước. + Cơ cấu giá trị sản xuất nông nghiệp chuyển dịch đúng hướng, tỷ trọng trồng trọt giảm dần, tỷ trọng chăn nuôi và dịch vụ nông nghiệp tăng mạnh. Cơ cấu mùa vụ, cơ cấu cây trồng đã có sự chuyển dịch tích cực theo hướng tăng diện tích cây có giá trị kinh tế cao, giảm diện tích cây có giá trị kinh tế thấp phù hợp với nhu cầu thị trường. Đã xuất hiện nhiều mô hình trang trại sản xuất hàng hóa quy mô lớn, đem lại hiệu quả kinh tế cao. + Năng suất, sản lượng các loại cây trồng không ngừng tăng qua các năm, nâng cao giá trị sản xuất trên một ha gieo trồng, góp phần nâng cao thu nhập, cải thiện đời sống, xóa đói giảm nghèo cho bà con nông dân. + Ngành chăn nuôi đang từng bước phát triển vững chắc, trở thành lĩnh vực mũi nhọn trong sản xuất nông nghiệp huyện Đồng Hỷ. Tổng đàn gia súc, gia cầm tiếp tục tăng, chất lượng đàn bò, đàn lợn đã được nâng lên. + Các hoạt động dịch vụ nông nghiệp phục vụ nông nghiệp như tưới, tiêu, cung ứng giống cây, con,… được chú trọng, đáp ứng nhu cầu sản xuất nông nghiệp. Công tác khuyến nông, bảo vệ thực vật, thú y, cải tạo giống gia súc… được triển khai thực hiện tốt, đã góp phần quan trọng vào kết quả sản xuất nông nghiệp trong những năm qua. + Kinh tế hộ nông dân ở huyện Đồng Hỷ không ngừng phát triển theo hướng sản xuất hàng hoá. Trên cơ sở kết hợp đa dạng hoá và chuyên môn hoá sản xuất theo yêu cầu của thị trường. Cơ cấu đất trồng cây công nghiệp và cây ăn quả có xu hướng tăng sản lượng cây ăn quả các loại năm 2008 đạt 5000 Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.Lrc-tnu.edu.vn 92 tấn, huyện tiếp tục chỉ đạo thâm canh tăng năng suất, nâng cao chất lượng sản phẩm, tuyển chọn các loại cây mới phù hợp với nhu cầu của thị trường như: Xoài, na, nhãn, vải chín muồi, cam, chanh, quýt… để trồng mới hoặc thay thế. Trong chăn nuôi tiếp tục đẩy mạnh phát triển chăn nuôi đại gia súc ở các xã vùng cao của huyện, ở xã thấp thì phát triển. * Những hạn chế, tồn tại: + Cơ cấu kinh tế nội bộ ngành nông nghiệp đã có sự chuyển dịch nhưng tộc độ chuyển dịch còn chậm, giá trị sản xuất ngành trồng trọt vẫn chiếm tỷ trọng lớn và tỷ trọng thủy sản còn rất thấp trong cơ cấu giá trị sản xuất của toàn ngành. + Quy mô sản xuất còn nhỏ lẻ, chủ yếu theo hình thức hộ gia đình, số mô hình trang trại sản xuất hàng hóa lớn chưa nhiều. Chất lượng sản phẩm nông nghiệp còn thấp, sức cạnh tranh trên thị trường chưa cao. + Sự đa dạng hóa cây trồng còn chậm, chủ yếu vẫn gieo trồng lúa để đáp ứng nhu cầu tiêu dùng tại chỗ. Do đó, thu nhập từ trồng trọt còn thấp. + Công nghệ sản xuất còn lạc hậu, mức độ áp dụng kỹ thuật – công nghệ và cơ giới hóa, hiện đại hóa trong sản xuất còn hạn chế. Việc ứng dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật còn chậm, các mô hình sản xuất có hiệu quả chưa được nhân rộng, nhất là đối với các xã vùng sâu, xa. + Hiệu quả hoạt động của các hợp tác xã nông nghiệp còn thấp, hợp tác xã chưa phát huy được vai trò trong việc tổ chức sản xuất và tiêu thụ sản phẩm của xã viên. + Vấn đề bảo quản và chế biến nông sản, nhất là chế biến cây ăn quả chưa được chú trọng phát triển, do vậy vẫn xảy ra tình trạng được mùa rớt giá dẫn đến hiệu quả sản xuất giảm. + Vấn đề ô nhiễm do rác thải, nước thải sinh hoạt và chăn nuôi tại khu vực nông thôn, nhất là những xã đông dân đang trở thành vấn đề bức xúc. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.Lrc-tnu.edu.vn 93 * Nguyên nhân: + Công tác định hướng, quy hoạch, kế hoạch hóa trong sản xuất chưa được các cấp các ngành chú ý đúng mức. + Do ruộng đất manh mún, diện tích đất canh tác bình quân trên đầu người thấp dẫn đến quy mô sản xuất nhỏ lẻ, sản xuất hàng hóa với khối lượng lớn còn ít. + Một số chủ trương, chính sách như dồn điền đổi thửa, cơ giới hóa nông nghiệp,... thực hiện còn chậm. Việc triển khai một số chương trình dự án còn chưa hiệu quả. Công tác kiểm tra, đánh giá, rút kinh nghiệm chưa thường xuyên. + Kinh phí đầu tư cho cơ sở hạ tầng phục vụ cho sản xuất và bảo vệ môi trường nông thôn còn hạn chế. + Việc thực hiện chính sách khuyến khích phát triển nông nghiệp chưa đồng bộ. Các chính sách về hỗ trợ vốn, kỹ thuật, mặt bằng sản xuất, hỗ trợ hợp tác xã chưa được chú ý triển khai. Trước thực trạng và những vấn đề đặt ra trên đây, để tiếp tục phát triển nông nghiệp huyện Đồng Hỷ theo hướng sản xuất hàng hóa, một vấn đề then chốt là phải xác định đúng phương hướng phát triển, đồng thời cần có một hệ thống các giải pháp hữu hiệu để thực hiện các mục tiêu đề ra. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.Lrc-tnu.edu.vn 94 CHƢƠNG 3 MỘT SỐ GIẢI PHÁP CHỦ YẾU NHẰM PHÁT TRIỂN NÔNG NGHIỆP THEO HƢỚNG SẢN XUẤT HÀNG HÓA Ở HUYỆN ĐỒNG HỶ TỈNH THÁI NGUYÊN 3.1. Một số quan điểm chủ yếu 3.1.1. Phát triển nền nông nghiệp theo hướng sản xuất hàng hóa một cách bền vững. Nhằm khai thác có hiệu quả tiềm năng, lợi thế từng vùng trên địa bàn huyện Hướng vào thị trường, khai thác lợi thế và nguồn lực là tiền đề bảo đảm tính hiệu quả của nền sản xuất nông nghiệp hàng hóa. Khi định hướng hay quy hoạch phát triển nông nghiệp hàng hóa ở mỗi địa phương phải căn cứ vào nguồn lực và khả năng sản xuất tập trung, chuyên môn hoá để khai thác được những lợi thế của mỗi địa phương, lấy hiệu quả kinh doanh làm mục đích. Hiện nay do yêu cầu thâm canh ngày càng tăng, nhu cầu thị trường tiêu dùng đòi hỏi ngày càng nhiều sản phẩm nông lâm nghiệp để đáp ứng tiêu dùng của toàn xã hội. Với cách nhìn nhận không đúng đắn về phát triển sản xuất hàng hoá nên nhiều địa phương đã không cân nhắc đầy đủ đến tính hợp lý trong sử dụng đất đai, phát triển ồ ạt, khai thác quá mức đã dẫn đến thoái hoá đất, cạn kiệt nguồn nước; sử dụng quá mức các hoá chất trong nông nghiệp vượt mức an toàn thực phẩm. Chúng ta đã có những bài học đắt giá khi chặt phá hàng loạt rừng để trồng cà phê, trồng ồ ạt, song giống không đảm bảo, phân bón không đủ, nước tưới thiếu, sâu bệnh không khống chế được, giá thành cao, tiêu thụ chậm nông dân thấy không có lợi lại chặt phá chuyển sang trồng cây khác... và còn nhiều ví dụ khác nữa. Điều này cho thấy sản phẩm hàng hoá trong nông nghiệp thiếu tính ổn định, bền vững, phát triển mang Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.Lrc-tnu.edu.vn 95 tính chủ quan, duy ý chí. Do vậy, phát triển nông nghiệp hàng hoá bền vững ở Việt Nam cần đảm bảo yêu cầu sau: - Mỗi địa phương, vùng lãnh thổ, tiểu vùng lãnh thổ phải căn cứ vào lợi thế của mình (lợi thế đất đai thích hợp; lợi thế về điều kiện tự nhiên; khả năng về nhân lực vốn liếng, thị trường, công nghệ sản xuất... để phát triển một loại hoặc hai, ba loại sản phẩm nông nghiệp hàng hoá ổn định trong một thời gian nhất định và có một thị trường tương đối ổn định cả về số lượng, chất lượng và giá cả. - Những hoạt động ưu tiên để phát triển nông nghiệp hàng hoá chỉ có thể là sản xuất vừa chuyên môn hoá, vừa đa dạng hoá, áp dụng công nghệ cao, sạch và hệ thống quản lý hiệu quả trên phạm vi toàn vùng, toàn ngành cũng như trên phạm vi trang trại, doanh nghiệp. - Đẩy mạnh quá trình chuyển đổi ruộng đất ở những vùng ruộng đất manh mún, đồn điền đổi thửa để tạo điều kiện thích hợp cho canh tác theo những phương thức lớn, hiện đại (gắn sản xuất với chế biến và thị trường). 3.1.2. Phát triển nền nông nghiệp theo hướng sản xuất hàng hoá phải gắn với quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế, với quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp nông thôn, với quá trình hội nhập vào nền kinh tế trong nước và nước ngoài Để đưa nông nghiệp và kinh tế nông thôn lên sản xuất hàng hoá lớn phải bắt đầu từ chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng tiến bộ, gắn liền với quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá trong phát triển nông nghiệp và xây dựng nông thôn. Đó chính là cơ sở để ổn định tình hình kinh tế, chính trị, xã hội, củng cố liên minh giai cấp công nhân và tầng lớp trí thức những nhà khoa học. - Đẩy mạnh chuyển dịch cơ cấu kinh tế, gắn phát triển nông nghiệp với công nghiệp chế biến, ngành nghề, gắn sản xuất với thị trường để hình Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.Lrc-tnu.edu.vn 96 thành sự liên kết nông- công nghiệp- dịch vụ và thị trường ngay trên địa bàn nông thôn. - Công nghiệp hoá nông nghiệp tức là áp dụng quy trình công nghiệp vào từng khâu và tiến tới tất cả các khâu của sản xuất nông nghiệp, bao gồm các khâu trước và sau thu hoạch. Hiện nay ở nhiều nước, các công đoạn như tưới nước, làm đất, gieo trồng, bón phân, chọn giống, thu hoạch... đã được công nghiệp hoá (tất nhiên mức độ cơ giới hoá phụ thuộc vào từng loại cây trồng). Nhờ những tiến bộ trong khoa học kỹ thuật cho phép sản xuất nông nghiệp được thực hiện theo phương pháp sản xuất và quản lý theo kiểu công nghiệp.Ví dụ hiện nay phương pháp trồng rau, hoa trong nhà kính đã phát triển. Cũng giống như ngành công nghiệp, người ta có thể tính trước được nguyên liệu "đầu vào" và sản lượng "đầu ra" của ngành trồng rau, hoa. Xu hướng trong tương lai, các cây trồng khác đang từng bước được thực hiện theo hướng công nghiệp hoá. - Hiện đại hoá nông nghiệp là ứng dụng những kiến thức, những thành tựu khoa học tiên tiến nhất vào sản xuất. Nhờ có hoạt động nông nghiệp mà vùng nông thông có thể tiến kịp thành thị, sản xuất nông nghiệp đạt được hiệu quả cao. 3.1.3. Phát triển nông nghiệp theo hướng sản xuất hàng hoá phải gắn liền với xây dựng nông thôn mới và bảo vệ môi trường bền vững Công tác xoá đói giảm nghèo trước mắt đang là nhiệm vụ quan trọng vì đất nước ta còn nghèo, nhất là ở nông thôn miền núi. Sự phát triển được coi là bền vững là sự phát triển mà trong đó các giá trị kinh tế, môi trường và xã hội luôn tương tác với nhau. Phát triển một nền nông nghiệp hàng hoá là phát triển một nền nông nghiệp giàu có, một nông thôn mới đô thị hoá. Trong chiến lược đầu tư cho phát triển, bước đầu chú ý đến các cơ sở hạ tầng phục vụ dân sinh, cho việc xoá đói giảm nghèo là cần thiết song cần chú ý đến một số yếu tố nền tảng cho sự phát triển đó là cơ sở hạ tầng trực tiếp phục vụ cho phát triển nông nghiệp hàng hoá. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.Lrc-tnu.edu.vn 97 Một thực tế nông nghiệp nông thôn nước ta là nguồn nhân lực rất dồi dào về số lượng nhưng chất lượng còn thấp kém dẫn đến sự đủ cung về nguồn lao động trong khi cầu về lao động cũng lớn nhưng không có nguồn cung lao động có chất lượng, gây trở ngại cho quá trình chuyển đổi cơ cấu kinh tế công – nông – thương trong tương lai gần. Giải pháp cho phát triển nguồn nhân lực trong phát triển nông nghiệp theo hướng sản xuất hàng hoá trên địa bàn huyện được đặt ra cấp bách. 3.1.4. Phát triển nông nghiệp theo hướng sản xuất hàng hoá phải có sự điều hành, quản lý của Nhà nước So với nhiều lĩnh vực sản xuất hàng hoá, lĩnh vực nông nghiệp có những đặc trưng riêng, đòi hỏi sự can thiệp nhiều mặt của nhà nước là chủ thể quản lý vĩ mô nền kinh tế. Hơn thế nữa, nền kinh tế nông nghiệp và đời sống nông thôn đã trải qua thời gian dài được bao cấp của Nhà nước, làm theo sự chỉ đạo của Nhà nước. Trong điều kiện chuyển sang nền kinh tế hàng hoá, sản xuất nông nghiệp tiếp tục cần sự hướng dẫn, chỉ đạo, giúp đỡ của Nhà nước. Đó là tiền đề hết sức cần thiết nhằm bảo đảm ổn định, phát triển kinh tế xã hội và đời sống nông thôn. Sự giúp đỡ của Nhà nước, bên cạnh tạo ra các trung tâm, các tụ điểm kinh tế mũi nhọn của vùng, của tỉnh, của mỗi địa phương, lấy các thị xã, thị trấn, thị tứ làm hạt nhân, còn phải tạo ra môi trường kinh doanh ổn định, hướng dẫn và tổ chức việc kinh doanh trên mỗi vùng, truyền bá thông tin thị trường và kinh doanh, giúp đỡ và hỗ trợ trong việc tạo ra hệ thống cơ sở hạ tầng, tạo điều kiện vay vốn đầu tư sản xuất, giúp đỡ phát triển và chuyển đổi ngành nghề, hình thành các trung tâm tư vấn dịch vụ, nghiên cứu và phát triển sản xuất hàng hoá nông sản theo lợi thế của mỗi địa phương, để khai thác tốt hơn tiềm năng của từng vùng. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.Lrc-tnu.edu.vn 98 3.2. Định hƣớng và giải pháp chủ yếu nhằm phát triển nông nghiệp theo hƣớng sản xuất hàng hoá ở huyện Đồng Hỷ đến năm 2010 và 2015 3.2.1. Định hướng chung: Để phát triển nông nghiệp theo hướng sản xuất hàng hóa ở huyện Đồng Hỷ cần phát huy lợi thế, khai thác tiềm năng, sử dụng có hiệu quả các nguồn tài nguyên thiên nhiên, nguồn vốn và nguồn nhân lực sẵn có xây dựng một nền nông nghiệp sản xuất hàng hoá, có năng suất, chất lượng và hiệu quả. Phát triển với tốc độ cao và bền vững trên cơ sở ứng dụng các thành tựu và tiến bộ khoa học kỹ thuật và khoa học quản lý. Xây dựng nông thôn mới, có cơ cấu kinh tế nông - công nghiệp thương mại và dịch vụ hợp lý, đưa nền sản xuất nông nghiệp và nông thôn tiến lên công nghiệp hoá và đô thị hoá để từng bước tăng thu nhập cho nông dân và các tầng lớp khác ở nông thôn. *Mục tiêu phát triển nông nghiệp theo hướng sản xuất hàng hóa đến năm 2015: - Giá trị tổng sản phẩm và tổng sản phẩm hàng hóa nông nghiệp ngày càng tăng: mục tiêu này có ý nghĩa to lớn và bao trùm trong việc phát triển nông nghiệp theo hướng sản xuất hàng hóa. Sản lượng một số sản phẩm hàng hóa ngày càng tăng, thể hiện hướng sản xuất nông nghiệp hàng hóa của nông dân ngày càng nâng lên, từ đó tăng thu nhập và tích lũy cho nông dân và các tầng lớp khác ở nông thôn. - Nâng cao giá trị sản phẩm hàng hóa trên một đơn vị diện tích canh tác. Đây là chỉ tiêu chất lượng quan trọng để đánh giá hiệu quả sử dụng đất đai, đánh giá trình độ và khả năng thâm canh của ngành nông nghiệp. Do đó muốn đạt được giá trị sản phẩm hàng hóa cao trên một đơn vị diện tích canh tác cần phải lựa chọn giống, cây trồng, vật nuôi có năng suất, chất lượng cao, áp dụng khoa học kỹ thuật tiên tiến phù hợp điều kiện của vùng. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.Lrc-tnu.edu.vn 99 - Chuyển dịch cơ cấu kinh tế nội bộ ngành nông nghiệp theo hướng giảm tỷ trọng giá trị sản xuất ngành trồng trọt, tăng tỷ trọng thuỷ sản trong cơ cấu giá trị sản xuất của toàn ngành. 3.2.2. Các giải pháp chủ yếu 3.2.2.1. Công tác định hướng, quy hoạch, kế hoạch hoá trong sản xuất nông nghiệp trên cơ sở khai thác, phát huy tốt tiềm năng, lợi thế của từng vùng phát triển nền kinh tế nông nghiệp hàng hóa - Để khai thác có hiệu quả nguồn tài nguyên, đất đai, hình thành được các vùng chuyên canh sản xuất hàng hoá, công tác quy hoạch phải đảm bảo tính chiến lược, phát triển ổn định và bền vững. Căn cứ vào điều kiện tự nhiên, địa hình, đất đai, kiểm tra rà soát lại từng loại đất cụ thể để quy hoạch vùng phát triển kinh tế trang trại cho từng vùng. Tập trung ưu tiên quy hoạch phát triển trang trại tại các vùng đất trống đồi núi trọc, đất hoang hoá, ao đầm mặt nước có thể nuôi trồng thuỷ sản, tăng dần tỷ trọng thuỷ sản trong cơ cấu giá trị sản xuất của toàn ngành. Tiếp tục quy hoạch chuyển một phần diện tích trồng lúa và các loại cây trồng có năng suất thấp, thị trường tiêu thụ khó khăn sang trồng cây khác nhằm đạt được hiệu quả kinh tế cao hơn, kể cả cây trồng làm thức ăn cho chăn nuôi, trồng cây lâm nghiệp có giá trị cao. - Căn cứ vào điều kiện đất đai thổ nhưỡng và điều kiện sinh thái từng vùng quy hoạch sản xuất cho các loại hình trang trại, lựa chọn các loại cấy trồng vật nuôi phù hợp, Ưu tiên lựa chọn các loại cây trồng vật nuôi là lợi thế, đặc sản của vùng, cho năng suất và giá trị kinh tế cao. Quy hoạch, xây dựng các mô hình sản xuất tiêu biểu để làm mẫu nhân điển hình. - Trên cơ sở quy hoạch đất đai, quy hoạch mạng lưới giao thông thuỷ lợi và các công trình cơ sở hạ tầng khác để từng bước đầu tư phát triển, nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho việc thu hút các thành phần đầu tư phát triển kinh tế tại các vùng khó khăn, vùng sâu, vùng xa. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.Lrc-tnu.edu.vn 100 - Hoàn chỉnh quy hoạch các vùng sản xuất hàng hoá tập trung gắn với chế biến và thị trường tiêu thụ. Phát triển các loại sản phẩm có lợi thế, có tiềm năng và thị trường tiêu thụ...Phát triển chăn nuôi, chú trọng các loại con có thế mạnh của địa phương và có thị trường tiêu thụ ổn định trong và ngoài nước. - Để phát huy sức mạnh tổng hợp và ưu thế của các vùng trong địa bàn huyện, nhằm khai thác hợp lý những ưu thế tại chỗ vừa đảm bảo định hướng có tính chiến lược lâu dài, đồng thời xác định cây con mũi nhọn để có kế hoạch đầu tư hợp lý phát triển mô hình công nông kết hợp. Huyện chia làm ba vùng kinh tế với nhiệm vụ chủ yếu sau: + Vùng sinh thái I gồm các xã: Vân Lăng, Tân Long, Quang Sơn, Cây Thị, Hợp Tiến, Tân Lợi, Văn Hán) Có địa hình núi cao chia cắt phức tạp tạo thành nhiều khe suối. Nhiệm vụ chủ yếu của vùng là khai thác diện tích hiện có. Tăng cường xây dựng hồ, đập, trạm bơm để chủ động thời vụ mở rộng diện tích cây trồng vụ đông, ngô đông. Giải quyết tốt lương thực và góp phần trao đổi hàng hóa, phát triển chăn nuôi. Tập trung phát triển nghề rừng, bằng cách tu bổ vốn rừng có sẵn, bảo vệ rừng đầu nguồn, tiếp tục trồng rừng theo Quyết định 661 của Chính phủ về 5 triệu ha rừng. Xác định cho khai thác lâm nghiệp trong vườn rừng, rừng PAM kém hiệu quả để chuyển đổi cây trồng. Thực hiện có hiệu quả các chương trình định canh định cư giúp nhân dân ổn định đời sống, xác định cây trồng vật nuôi có hiệu quả kinh tế là: trồng chè, trồng quế, trồng cây ăn quả (vải, nhãn). Trên đất đồi và vườn gia đình tập trung phát triển theo chương trình 327, vốn 120 tăng cường cải tạo vườn tạp trồng cây ăn quả vải, nhãn, hồng không hạt. Phát triển nhanh mô hình trang trại nông lâm kết hợp để giải quyết Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.Lrc-tnu.edu.vn 101 việc làm, khai thác tiềm năng đất đai. Là vùng núi có địa bàn rộng, dân cư thưa, có tiềm năng về chăn nuôi đại gia súc, do vậy cần đẩy mạnh phát triển chăn nuôi theo hướng giữ ổn định đàn trâu, tăng nhanh phát triển đàn bò, đàn dê là nguồn thực phẩm hàng hóa cho các vùng: thành phố Thái Nguyên, khu công nghiệp Gang thép và các tỉnh miền xuôi. Do vậy với ưu thế của vùng phải hướng các hộ nông dân phát triển kinh tế đồi rừng. Xây dựng tốt mô hình kinh tế VAC, VACR. + Vùng sinh thái II gồm các xã: Hòa Bình, Minh Lập, Hóa Trung, Hóa Thương, Khe Mo, Nam Hòa, một phần Tân Lợi, thị trấn Trại Cau Có địa hình thấp, đồi bát úp xe kẽ các cánh đồng nhỏ, là vùng có nhiều thuận lợi trong việc sản xuất và tiêu thụ sản phẩm đa dạng hóa cây trồng, vật nuôi phát huy lợi thế đó nhiệm vụ kinh tế của vùng là: Đẩy mạnh xây dựng trạm thủy lợi, kiên cố hóa kênh mương phục vụ sản xuất thâm canh tăng vụ trên đất ruộng với các giống chủ lực là giống lúa thuần, lúa lai, ngô lai cho năng xuất cao tăng sản lượnng để sản xuất hàng hóa, phát triên cây nông nghiệp ngắn ngày. Xác định cây chè là cây kinh tế mũi nhọn đến nay diện tích chè kinh doanh của huyện là 1,13 ha trong đó tập trung ở vùng này. Do vậy cần đầu tư vốn, lao đọng, ứng dung KHKT vào sản xuất chè. Đồng thời cải tạo những nương chè đã xuống cấp, trồng chè giống mới thay thế đồi chè già cỗi phẩm chất kém. Đẩy mạnh công tác tiếp thị và chế biến. Đến nay trên địa bàn có 05 đơn vị ngoài quốc doanh tham gia sản xuất và tiêu thụ chè, ước tính 60% sản lượng chè búp tươi được chế biến qua công nghiệp đã tạo thuận lợi cho nông dân tiêu thụ sản phẩm. Xây dựng cây chè là cây kinh tế hàng hóa của huyện nói chung, của vùng nói riêng. Trong chăn nuôi phát triển đàn lợn hướng nạc để đáp ứng nhu cầu tiêu dùng ngày càng cao và xuất khẩu. Tăng cường chăn nuôi gia cầm với những Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.Lrc-tnu.edu.vn 102 giống có chất lượng cao như gà siêu thịt, siêu trứng. Tận dụng ao hồ phát triển nuôi cá xác định là nơi cung cấp sản phẩm hàng hóa cho thành phố. Đồng thời đây cũng là vùng tập trung trồng cây ăn quả, với quy mô vừa và nhỏ bước đầu tạo nguồn hàng hóa cung cấp cho khu vực và thị trường lân cận. Đẩy mạnh mô hình công nông kết hợp nhằm giải quyết việc phát triển tiểu thủ công nghiệp và dịch vụ. Nhằm tăng thu nhập tích lũy tái sản xuất mở rộng, nhanh chóng cơ khí hóa nông nghiệp nông thôn. - Vùng sinh thái III gồm các xã: Cạo Ngạn, Đồng Bẩm, Huống Thượng, thị trấn Chùa Hang, một phần xã Hóa Thượng, xã Linh Sơn. Có địa hình thấp, tương đối bằng phẳng, tầng phù sa dầy, là khu vực sản xuất hàng hóa và cây thực phẩm lớn của huyện. Nhiều cánh đồng rộng lớn, thuận tiện cho sản xuất nông nghiệp, vùng này chủ yếu trồng cây ăn quả, trồng lúa, rau màu, chăn nuôi tiểu gia súc và dịch vụ. Trung tâm huyện đặt tại đây nên các điều kiện về kinh tế, văn hóa, xã hội khá phát triển 3.2.2.2. Quy hoạch sản xuất hàng hoá gắn liền với chuyên môn hóa, đa dạng hóa nhằm thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp theo hướng sản xuất hàng hoá. Cơ cấu sản xuất nông nghiệp ở Đồng Hỷ đã có sự chuyển dịch nhất định nhờ sự đổi mới cơ cấu sản xuất của các hộ nông dân. Tuy nhiên kết quả và hiệu quả sản xuất đạt được còn chưa cao.Trong thời gian tới huyện cần phải tiếp tục chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp theo hướng sản xuất hàng hóa, thực hiện chuyên môn hóa hợp lý kết hợp với đa dạng hóa sản xuất kinh doanh tổng hợp, khắc phục tình trạng sản xuất manh mún. Tạo điều kiện thuận lợi để tăng mô hình trang trại sản xuất hàng hoá lớn. Chuyên môn hóa sản xuất phải kết hợp với đa dạng hóa sản xuất mới có thể giảm được tính thời vụ trong việc sử dụng các nguồn lực ở nông thôn. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.Lrc-tnu.edu.vn 103 Ngoài sản xuất một loại sản phẩm chính mỗi hộ có thể chọn cho mình các sản phẩm khác hỗ trợ cho sản phẩm chính để có thể đem lại hiệu quả kinh tế cao hơn. Đa dạng hoá sản xuất hàng hoá: Nguồn tài nguyên sử dụng trong "đầu vào" của hộ nông dân rất đa dạng, gồm đất đai, lao động, vật tư kỹ thuật, thậm chí cả khí hậu... Do vậy cần đa dạng hóa sản xuất hàng hóa để đạt hiệu quả cao mà vẫn không mâu thuẫn với chuyên môn hoá. Mỗi nhóm hộ nông dân có thể tự chọn cho mình sản xuất loại sản phẩm nào là chính, các sản phẩm khác hỗ trợ cho sản phẩm chính, làm cho nó có hiệu quả hơn. Trong tương lai, đa dạng hoá sản phẩm nông nghiệp trên cơ sở chuyên môn hoá là hướng đi tất yếu của Đồng Hỷ cũng như của ngành nông nghiệp tỉnh Thái Nguyên. Ví dụ như: Sản xuất hàng hoá của hộ nông dân càng phát triển họ càng có nhu cầu liên kết, hợp tác với nhau về vốn, kỹ thuật, lao động, thị trường... Cơ sở của mọi sự hợp tác của hộ nông dân là tự nguyện, dựa trên lợi ích kinh tế. Nếu sự hợp tác có lợi thì các hộ nông dân sẽ liên kết, hợp tác với nhau thành từng tổ, nhóm, hợp tác xã (kiểu mới). 3.2.2.3. Phát huy vai trò và nâng cao hiệu quả hoạt động của mô hình hợp tác xã nông nghiệp. Hiện nay ở Đồng Hỷ, các hợp tác xã đang chuyển đổi từ chức năng tổ chức và điều hành sản xuất sang hoạt động dịch vụ. Tuy vậy, số hợp tác xã hoạt động dịch vụ có hiệu quả chiếm tỷ trọng nhỏ, một số hợp tác xã tồn tại chỉ là hình thức. Cần thiết phải đổi mới căn bản theo Luật hợp tác xã và các Nghị định của Thủ tướng Chính phủ. Vì vậy Huyện cần căn cứ vào điều kiện cụ thể để có văn bản hướng dẫn cụ thể, phù hợp và có hiệu quả thiết thực trong việc tổ chức đăng ký hoạt động của các hợp tác xã. Nâng cao hiệu quả hoạt động nhằm phát huy vai trò trong việc tổ chứuc sản xuất và tiêu thụ sản phẩm của xã viên. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.Lrc-tnu.edu.vn 104 3.2.2.4. Đẩy mạnh ứng dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật nông nghiệp để năng cao trình độ chuyên môn kỹ thuật, tổ chức sản xuất hàng hoá nông nghiệp. - Cần cải tiến khâu chọn và làm giống, tăng cường đưa giống mới có năng suất cao, chất lượng sản phẩm tốt nhằm đáp ứng nhu cầu thị trường… Áp dụng giống mới là biện pháp kinh tế nhất trong sản xuất hàng hoá nông nghiệp. - Trong chăn nuôi cần cần phổ biến tới các hộ nông dân về kỹ thuật chăm sóc, phòng trừ dịch bệnh… - Tổ chức tốt các hoạt động khuyến nông, truyền bá kiến thức, khoa học kỹ thuật, kinh nghiệm ứng dụng vào sản xuất nông nghiệp - Tổ chức các lớp tập huấn ngắn hạn bồi dưỡng kiến thức tổ chức quản lý, sản xuất kinh doanh cho các chủ hộ sản xuất hàng hoá, đặc biệt là chủ các trang trại. - Cung cấp đầy đủ các tài liệu hướng dẫn kỹ thuật trồng trọt, chăn nuôi... Ứng dụng các tiến bộ kỹ thuật sẽ là một cơ hội, động lực mạnh mẽ để phát triển kinh tế nông nghiệp theo hướng sản xuất hàng hoá ở huyện Đồng Hỷ, giúp người nông dân vươn lên thoát khỏi nghèo đói. 3.2.2.5. Đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng phục vụ cho sản xuất và bảo vệ môi trường nông thôn Những hạn chế về cơ sở hạ tầng như giao thông, hệ thống thuỷ lợi, hệ thống bảo quản, công nghiệp chế biến… là những trở ngại cho Đồng Hỷ đối với việc khuyến khích hộ nông dân phát triển sản xuất hàng hoá. Xây dựng và từng bước hoàn chỉnh đường giao thông liên xã, liên thôn, đường ra đồng ruộng để đảm bảo cho lưu thông hàng hoá nông sản được thuận lợi, chắc chắn sẽ kích thích hộ nông dân sản xuất hàng hoá. Tỉnh cần Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.Lrc-tnu.edu.vn 105 đầu tư một phần, nông dân sẽ góp công lao động trên tinh thần "Nhà nước và nhân dân cùng làm" để làm đường nông thôn, đường nội đồng… Đây là lĩnh vực đầu tư rất tốn kém, phải xây dựng trong nhiều năm liên tục. - Hoàn chỉnh hệ thống thuỷ lợi, khắc phục tình trạng kênh mương xuống cấp…nhằm đảm bảo tưới tiêu chủ động và ổn định sản xuất nông nghiệp. - Cải tạo hệ thống cung cấp điện ở nông thôn: Do thực trạng hiện nay hầu hết các xã, thôn ở Đồng hỷ đều đã có điện cho sinh hoạt và phục vụ sản xuất nhưng mạng lưới điện thô sơ, tổn thất điện năng quá lớn, giá mua điện lại cao. Muốn phát triển sản xuất hàng hoá ở nông thôn không thể thiếu điện năng. Đầu tư cho ngành điện để phục vụ tưới tiêu, chế biến nông sản là biện pháp thực sự thúc đẩy sản xuất hàng hoá ở nông thôn. Giá trị hàng hoá của vùng sẽ tăng thêm nhiều nếu được đầu tư thêm lao động, chế biến. Việc nâng cấp hoàn chỉnh cơ sở hạ tầng không những giúp cho nông dân phát triển sản xuất hàng hoá mà còn làm thay đổi bộ mặt nông thôn, góp phần trực tiếp nâng cao đời sống của nông dân. Bên cạnh đó quan tâm tới công tác bảo vệ môi trường nông thôn trong quá trình thực hiện xây dựng cơ sở hạ tầng nhằm giải quyết tốt vấn đề ô nhiễm do rác thải, nước thải sinh hoạt và chăn nuôi tại khu vực nông thôn... 3.2.2.6. Đầu tư phát triển nguồn nhân lực - Tuyển dụng có lựa chọn đội ngũ cán bộ vào các bộ phận, cơ quan quản lý nông lâm nghiệp cấp huyện, vào đội ngũ cán bộ khuyến nông, vào các ban quản trị HTX nông nghiệp dịch vụ, vào các cơ quan hoạch định chính sách của Đảng và pháp luật Nhà nước với những quy định về chế độ trách nhiệm, quyền hạn và lợi ích. - Tiến cử và tuyển chọn theo một quy trình chặt chẽ khách quan những con em nông dân đi đào tạo bồi dưỡng theo yêu cầu của sản xuất và quản lý Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.Lrc-tnu.edu.vn 106 nền sản xuất nông nghiệp hàng hoá theo các hệ bồi dưỡng ngắn ngày, dài ngày và ký hợp đồng sử dụng. Thu nhận những con em địa phương được đào tạo chính quy tại các trường đại học về công tác, trả lương thoả đáng (Nhà nước hỗ trợ trả lương, hoặc địa phương trả). - Có chính sách khuyến khích cán bộ thực sự tâm huyết với nông nghiệp nông thôn về với địa phương, hợp tác hỗ trợ phát triển ứng dụng khoa học kỹ thuật, thúc đẩy nông nghiệp phát triển cả về lượng và chất. Nên áp dụng kinh nghiệm nhiều địa phương đã thực thi sự kết hợp 4 nhà: Nhà nông, nhà khoa học, nhà quản lý và nhà thương mại – dịch vụ. - Nguồn nhân lực đông đảo đó là lực lượng lao động nông nghiệp cần phải làm cho họ thông suốt từ cách nghĩ, cách làm của một nền sản xuất theo hướng công nghiệp hoá và hiện đại hoá để dần loại bỏ được những ý nghĩ thiển cận, hẹp hòi, luẩn quẩn trong vòng xoáy tự cung tự cấp. Ở nông thôn, lực lượng lao động nữ chiếm số đông và đóng vai trò quan trọng trong chuyển dịch cơ cấu sản xuất nông nghiệp cần thiết tạo việc làm, tăng tiếp cận của phụ nữ tới tín dụng và khuyến nông, nâng cao trình độ và kỹ năng của phụ nữ thông qua hoạt động tập huấn, sinh hoạt câu lạc bộ phụ nữ. Củng cố và phát triển các mô hình làm ăn giỏi của phụ nữ. Can thiệp mọi hành động bất bình đẳng đối với phụ nữ ở nông thôn. Một nguồn nhân lực khác quan trọng là lực lượng trẻ ở nông thôn, để chuyển đổi cơ cấu kinh tế cần mở các lớp học nghề tại địa phương, mời các chuyên gia thợ giỏi về dạy, tạo điều kiện hỗ trợ kinh phí cho các lớp học. 3.2.2.7. Giải pháp về đất đai đối với các hộ nông dân sản xuất hàng hoá - Hoàn chỉnh về quy hoạch sử dụng đất đai theo từng vùng để làm cơ sở cho việc cấp đất cho nông dân. Trong điều kiện hiện nay quy hoạch đất đai sẽ giúp nông dân khai thác có hiệu quả đất đai, tránh tình trạng các chủ hộ khai thác đất bừa bãi dẫn đến lãng phí đất, phá hoại môi trường, giảm hiệu quả sản Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.Lrc-tnu.edu.vn 107 xuất kinh doanh của các hộ nông dân, tạo điều kiện cho các hộ đi vào tập trung sản xuất hơn. Cần khuyến khích các hộ tích cực chuyển đổi tích tụ ruộng đất, khắc phục tình trạng ruộng đất manh mún sẽ tạo điều kiện đi vào sản xuất tập trung. - Khuyến khích tập trung đất đai và nguyện vọng của những người muốn nhận đất ở những vùng đất trống, đồi trọc để hình thành các hộ nông dân có quy mô sản xuất hợp lý. - Khắc phục tình trạng ruộng đất manh mún. Để trở thành các trang trại thì các hộ phải có quy mô ruộng đất nhất định. Cần tiếp tục khuyến khích quá trình tập trung ruộng đất. Tuy nhiên việc tập trung ruộng đất phải tiến hành một cách thận trọng, phải có sự quản lý, kiểm soát chặt chẽ của nhà nước, nhất là các cấp chính quyền địa phương. Đối với huyện Đồng Hỷ trước hết cần quy hoạch đất đai cho từng vùng, từng xã có các hộ phát triển về trồng trọt và chăn nuôi đảm bảo cho các hộ trồng trọt và chăn nuôi phát triển bền vững, mở rộng sản xuất, đảm bảo vệ sinh môi trường. 3.2.2.8. Tăng cường đầu tư vốn phục vụ sản xuất hàng hóa. Cải tiến điều kiện cho vay vốn: - Đối với các hộ giàu vay nhiều vốn, vay dài hạn, cần có thế chấp tài sản nhà cửa, các vật dụng quy định, máy móc dùng trong sản xuất. Tài sản thế chấp không phải là trở ngại đối với các nhóm hộ này. - Nhóm hộ trung bình và nghèo thường không có tài sản thế chấp khi vay vốn. Cho nhóm hộ này vay vốn theo nhóm, vay ít và trả vốn khi kết thúc vụ thu hoạch. Kiểu vay này có tác dụng rất rõ rệt. Đại bộ phận hộ nông dân sau vụ thu hoạch đều trả được nợ vay của ngân hàng. Như vậy là ngay cả những hộ nông dân nghèo vẫn có thể vay được. Tuy nhiên, việc tổ chức, Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.Lrc-tnu.edu.vn 108 năng lực của các ngân hàng nông nghiệp địa phương phải kiểm tra cho vay đúng mục đích sản xuất với số lượng vốn cho vay hợp lý để hộ nông dân có thể trả được. 3.2.2.9. Các giải pháp về tổ chức và quản lý * Phát huy vai trò các thành phần kinh tế Trong nền kinh tế sản xuất hàng hoá theo cơ chế thị trường có sự quản lý Nhà nước cần kiên trì thực hiện nhất quán lâu dài chính sách kinh tế nhiều thành phần. Thực hiện đầy đủ các chính sách hiện hành của Nhà nước cùng với việc giúp đỡ cho nông dân khắc phục những khó khăn trong sản xuất và đời sống để hộ nông dân trở thành đơn vị kinh tế tự chủ, mạnh dạn đầu tư vốn vào sản xuất, mở rộng quy mô sản xuất. Hoàn thành nhanh việc giao quyền sử dụng đất ổn định, lâu dài cho hộ, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng ruộng đất, thực hiện khuyến nông, khuyến lâm, cung cấp thông tin thị trường, cho nông dân vay vốn để phát triển sản xuất, hướng dẫn và tổ chức tiêu thụ nông sản cho kinh tế hộ. Các biện pháp về quản lý: Quản lý là động thái của các chủ sở hữu chủ thể ban hành các quy định thể lệ cơ chế chính sách. Quản lý là nhằm thực hiện các mục tiêu đề ra muốn quản lý tốt phải có những biện pháp quản lý thích ứng với từng đối tượng. Trong quản lý có phân cấp cho từng ngành từng địa phương để hình thành một hệ thống quản lý có hiệu lực. Quản lý chặt chẽ các tài nguyên hiện có bao gồm đất đai, rừng, tài nguyên lòng đất... quản lý nguồn nhân lực, thực thi các chính sách, các dự án đầu tư hỗ trợ sản xuất là những nội dung cơ bản. Trên đây là một số giải pháp, từng giải pháp có nội dung cụ thể của nó, song có mối liên kết hữu cơ, cần được thực hiện một cách đồng bộ và tính toán cụ thể các bước thực hiện. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.Lrc-tnu.edu.vn 109 KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 1. Kết luận Thời gian qua, nông nghiệp là một trong những ngành kinh tế chủ yếu của nền kinh tế quốc dân đã đạt được kết quả bước đầu trong chuyển dịch cơ cấu sản xuất theo hướng sản xuất hàng hoá, công nghiệp hoá và hiện đại hoá. Song, kết quả đạt được còn nhiều hạn chế, sản xuất hàng hoá nhỏ vẫn là chủ yếu. Trong điều kiện hiện nay, với việc chúng ta tham gia thực hiện AFTA, tham gia APEC và vừa gia nhập WTO. Đây là thuận lợi nhưng cũng là vấn đề rất khó khăn, phức tạp cho phát triển nông nghiệp. Với thế mạnh về đất đai, lao động và có khả năng đa dạng hóa sản phẩm, nhưng chúng ta có nhiều điểm yếu: cơ sở vật chất kỹ thuật, khoa học công nghệ, công nghệ chế biến, kinh nghiệm thương trường, trình độ tổ chức quản lý… Những hạn chế đó làm cho chất lượng sản phẩm còn thấp, giá thành sản xuất cao, làm hạn chế tính cạnh tranh của hàng hóa. Để hội nhập với thị trường khu vực và quốc tế, giữ được thị trường trong nước, chúng ta cần phải phát triển nông nghiệp theo hướng sản xuất hàng hóa. Đồng Hỷ - huyện phía Bắc của tỉnh Thái Nguyên là một huyện trung du miền núi với 17 xã và 3 thị trấn thời gian qua đã đạt được những kết quả nhất định về phát triển nông nghiệp theo hướng sản xuất hàng hoá. Tuy nhiên bên cạnh những mặt tích cực vẫn còn những tồn tại, nhiều tiềm năng nông lâm nghiệp chưa được khai thác, hiệu quả sản xuất nông nghiệp còn thấp, đời sống của nông dân trong khu vực nông thôn còn nhiều khó khăn, việc áp dụng khoa học kỹ thuật vào sản xuất nông lâm nghiệp đã có nhưng còn chậm so với yêu cầu đề ra, nhiều tiến bộ khoa học đưa vào chưa thực sự phát huy được hiệu quả. Trong sản xuất chưa có quy hoạch và lựa chọn cây trồng vật nuôi phù Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.Lrc-tnu.edu.vn 110 hợp với điều kiện sinh thái của từng tiểu vùng để đầu tư thâm canh. Mặt khác trình độ thâm canh đang còn thấp các loại sâu bệnh hại chưa có biện pháp phòng trừ thích hợp. Vốn đầu tư sản xuất chưa cao nên hiệu quả sản xuất còn thấp… Chính vì vậy, nghiên cứu phát triển nông nghiệp theo hướng sản xuất hàng hóa là hết sức cần thiết nhằm góp phần thiết thực vào việc khai thác có hiệu quả tiềm năng, phát triển kinh tế nông nghiệp, nông thôn trên địa bàn huyện. Đế phát triển nông nghiệp theo hướng sản xuất hàng hoá ở huyện Đồng Hỷ cần phải thực hiện một số giải pháp: Quy hoạch và bố trí các cụm kinh tế nông nghiệp hàng hoá trên cơ sở khai thác, phát huy tốt tiềm năng, lợi thế của từng vùng phát triển nền kinh tế nông nghiệp hàng hóa; Quy hoạch sản xuất hàng hoá gắn liền với chuyên môn hóa, đa dạng hóa nhằm thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp theo hướng sản xuất hàng hoá; Đẩy mạnh ứng dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật nông nghiệp để nâng cao trình độ chuyên môn kỹ thuật, tổ chức sản xuất hàng hoá nông nghiệp; Phát huy vai trò và nâng cao hiệu quả hoạt động của mô hình hợp tác xã nông nghiệp cũng như đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng kết hợp với bảo vệ môi trường nông thôn; Tăng cường đầu tư vốn vào phục vụ sản xuất hàng hoá; Phát triển nguồn nhân lực... Với những giải pháp trên đây, nếu thực hiện đồng bộ và tính toán cụ thể sẽ đạt được hiệu quả cao trong việc khai thác có hiệu quả tiềm năng, phát triển nông nghiệp theo hướng sản xuất hàng hoá ở huyện Đồng Hỷ. 2. Kiến nghị Đối với Nhà nước: đề nghị các cơ quan chức năng có thẩm quyền cần sớm rà soát lại quy hoạch các vùng kinh tế và hoạch định hướng chuyển dịch cơ cấu kinh tế cho từng vùng để địa phương có điều kiện xác định sát đúng Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.Lrc-tnu.edu.vn 111 hơn định hướng chuyển dịch cơ cấu kinh tế phát triển nông nghiệp theo hướng sản xuất hàng hóa. Đối với địa phương: Tạo điều kiện thuận lợi, nhanh chóng trong việc giao quyền sử dụng đất, thực hiện các chương trình khuyến nông, khuyến lâm, cung cấp thông tin thị trường; có chương trình cho nông dân vay vốn để phát triển sản xuất, hướng dẫn và tổ chức tiêu thụ nông sản cho kinh tế hộ... Đối với các thành phần kinh tế: Các trang trại, hộ nông dân cũng như các hợp tác xã cần mở rộng liên kết hợp tác theo hướng đa dạng hoá gắn với chuyên môn hoá, tập trung hoá, thường xuyên nắm bắt, cập nhật các thông tin liên quan cũng như mạnh dạn ứng dụng rộng rãi những thành tựu khoa học kỹ thuật vào sản xuất và dịch vụ. Với tính khả thi của đề tài tác giả mong rằng việc triển khai thực hiện các giải pháp, kiến nghị trên sẽ góp phần vào việc phát triển nông nghiệp theo hướng sản xuất hàng hóa trên địa bàn huyện Đồng Hỷ ngày một hiệu quả hơn./. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.Lrc-tnu.edu.vn 112 TÀI LIỆU THAM KHẢO 1. Báo các tổng kết tình hình sản xuất nông nghiệp từ năm 2004 đến năm 2008 của Ủy ban nhân dân huyện Đồng Hỷ. 2. Báo cáo tình hình thực hiện kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội từ năm 2004 đến năm 2008 của Ủy ban nhân dân huyện Đồng Hỷ. 3. Báo cáo tình hình phát triển kinh tế - xã hội từ năm 2004 đến năm 2008 của Ủy ban nhân dân huyện Đồng Hỷ. 4. Báo cáo quy hoạch sử dụng đất đai huyện Đồng Hỷ giai đoạn 2006 - 2010. 5. Báo cáo kết quả thực hiện các chỉ tiêu kế hoạch và phướng hướng, nhiệm vụ phát triển nông nghiệp huyện Đồng Hỷ từ năm 2004 đến năm 2008. 6. Báo cáo tình hình kết quả sản xuất nông nghiệp vụ chiêm, vụ mùa huyện Đồng Hỷ các năm 2007, 2008. 7. Đảng Cộng sản Việt Nam (2006), Văn kiện Đại Hội Đảng Toàn quốc lần thứ X. 8. Đảng Cộng sản Việt Nam, Tổng kết lý luận và thực tiễn qua 20 năm đổi mới, Nxb Chính trị quốc gia. 9. Tổng cục Thống kê (2007), Kết quả tổng điều tra nông thôn, nông nghiệp và thủy sản năm 2006, Nxb Thống kê Hà Nội. 10. Đặng Kim Oanh (2007), Chiến lược phát triển nông nghiệp - nông thôn ở một số nước Châu Á, Học viện Chính trị - Hành chính Quốc gia Hồ Chí Minh. 11. Trần An Phong, Phát triển nông nghiệp nông thôn bền vững, Hội thảo dự án VIE/01/021. 12. Đặng Kim Sơn, Phát triển một nền nông nghiệp bền vững, Hội Dự án VIE/01/021. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.Lrc-tnu.edu.vn 113 13. Đặng Kim Sơn, Nông nghiệp - nông thôn Việt Nam 20 năm đổi mới và phát triển, Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia. 14. Nguyễn Từ, Phương hướng và giải pháp chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn, Đề tài cấp bộ (1995). 15. Nguyễn Văn Thường, Kinh tế Việt Nam năm 2005 trước ngưỡng cửa WTO, Nhà xuất bản Đại học Kinh tế quốc dân năm 2006. 16. Nguyễn Đình Thắng (2006) Giáo trình Kinh tế Nông nghiệp, Nxb Đại học Kinh tế Quốc dân Hà Nội. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.Lrc-tnu.edu.vn
- Xem thêm -