Tài liệu Skkn một số biện pháp giúp học sinh lớp 3 học tốt môn tin học (năm 2021)

  • Số trang: 22 |
  • Loại file: DOCX |
  • Lượt xem: 107 |
  • Lượt tải: 0

Mô tả:

I. PHẦN MỞ ĐẦU 1. Lý do chọn đề tài Ngày nay với sự phát triển vượt bậc của khoa học công nghệ nói chung và ngành Tin học nói riêng, với những tính năng ưu việt thì Tin học là một phẩn không thể thiếu được trong cuộc sống hiện này. Đảng và nhà nước đang xây dựng và phát triển xã hội đã xác định được tầm quan trọng của Tin học và công nghệ thông tin. Đất nước ta đang trên đà phát triển, đòi hỏi người lao động phải không ngừng nâng cao về tri thức để đáp ứng với sự thay đổi và phát triển của xã hội. Chính vì xác định được tầm quan trọng đó nên ngành giáo dục đã đưa môn Tin học vào trong nhà trường. Bắt đầu là môn tự chọn và hiện nay trong chương trình GDPT 2018 đã đưa môn Tin học vào là môn bắt buộc trong trường tiểu học. Ngay từ bậc tiểu học, học sinh được tiếp xúc với môn Tin học để làm quen dần với lĩnh vực CNTT, tạo nền móng ban đầu để học lên những phần nâng cao trong các cấp học tiếp theo. Môn tin học là môn học mới đối với các em học sinh nhưng sau một thời gian học và tiếp xúc với máy tính, các em đã trở nên yêu thích, say mê với môn học này. Do vậy tôi luôn kích thích sự tò mò, hứng thú ở các em, đặc biệt là trong giờ lý thuyết và cả trong giờ thực hành. Các em biết vận dụng vào các môn học khác, đặc biệt máy tính là phương tiện cực ký hữu ích trong việc tìm tòi kiến thức, thử sức với các cuộc thi như Trạng nguyên tiếng việt, IOE, Violympic, … Xuất phát từ những yêu cầu thực tiễn, môn tin học ở trường tiểu học bước đầu để học sinh làm quen với một số kiến thức cơ bản về CNTT như: một số bộ phận của máy tính, một số thuật ngữ thông dụng, rèn kĩ năng sử dụng máy tính,…. Môn tin học giúp học sinh hình thành một số phẩm chất và năng lực cần thiết như: - Góp phần hình thành ý thức và tư duy máy tính - Bước đầu hình thành năng lực tổ chức và xử lý thông tin - Có ý thức thói quen sử dụng máy tính trong học tập, lao động xã hội hiện đại - Có thái độ tích cực khi sử dụng máy tính - Hiểu khả năng sử dụng CNTT trong hoạt động học tập - Có ý thức tìm hiểu CNTT trong các hoạt động xã hội Mặc dù với số đông học sinh đều là gia đình khá giả, phụ huynh rất quan tâm đến việc học của các em, ở nhà các em đã có máy tính. Song tôi vẫn băn khoăn, lo lắng làm sao để giúp các em có thể tiếp thu được bài và học tập tốt hơn trong điều kiện dịch bệnh Covid -19 đang hoành hành khắp nơi trên thế giới. Là giáo viên tin học tôi luôn trăn trở làm sao để các em hứng thú tìm tòi máy tính, sử dụng nhanh 2 và linh hoạt các bộ phận của máy tính, đặc biệt là các em học sinh lớp 3, đa số các em đều mới chỉ được làm quen sơ sơ qua hình ảnh hoặc được bố mẹ cho sử dụng ở nhà nhưng chưa bài bản; các em chưa hiểu rõ về máy tính, chưa biết máy tính hoạt động như thế nào,… Vì vậy tôi mạnh dạn chia sẻ một số ý kiến cũng như suy nghĩ của mình thông qua sang kiến “Một số biện pháp giúp học sinh lớp 3 học tốt môn Tin học” 2. Mục tiêu, nhiệm vụ của đề tài Mục tiêu: Khi thực hiện sáng kiến này, qua thực tế giảng dạy trên lớp, bản thân tôi muốn đưa ra một số biện pháp cho học sinh lớp 3 nhằm nâng cao chất lượng môn Tin học. Qua đó tôi cũng đề xuất một số giải pháp để khắc phục hạn chế cũng như ưu điểm khi giảng dạy môn tin học lớp 3. - Nhiệm vụ: + Học sinh có hiểu biết ban đầu về Tin học và ứng dụng Tin học trong học tập và đời sống. + Có khả năng ứng dụng Tin học vào các môn học khác, trong hoạt động vui chơi giải trí, tìm kiếm tư liệu phù hợp để học tập. + Bước đầu làm quen với cách giải quyết vấn đề có sử dụng công cụ tin học. Góp phần rèn luyện một số phẩm chất cần thiết của người lao động trong thời kì công nghệ 4.0. 3. Đối tượng nghiên cứu Học sinh lớp 3 trường tiểu học Lê Lợi – thị trấn Quảng Phú – huyện Cư M’gar – tỉnh Đắk Lắk 4. Giới hạn của đề tài Nghiên cứu về biện pháp thay đổi phương pháp dạy học, giảng dạy các phần mềm có trong chương trình tin học lớp 3. 5. Phương pháp nghiên cứu Trong quá trình thực hiện sang kiến này, tôi đã áp dụng và phối hợp các phương pháp sau: a. Nhóm phương pháp nghiên cứu lý luận - Đọc các tài liệu, sách báo, truy cập internet nói về các phương pháp nghiên cứu, phương pháp dạy học sinh tiểu học 3 - Tham khảo các bài viết, SKKN của các tác giả đăng trên báo đài, internet hoặc các anh chị ở trường bạn. - Nghiên cứu các báo cáo tổng kết phong trào, chueyen môn và các SKKN có liên quan của anh chị qua từng năm học trước. b. Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn - Phương pháp quan sát: thông qua kiểm tra việc học tập của học sinh (bài cũ và bài mới) - Phương pháp điều tra: phỏng vấn các em học sinh lớp 3. - Phương pháp vấn đáp: trao đổi giữa các giáo viên dạy khối 3 về những khó khan và thuận lợi khi thực hiện dạy tin học ở lớp 3; trao đổi giữa cô và trò khi giảng dạy trên lớp - Phương pháp thực hành - Phương pháp dạy thực nghiệm: tiến hành dạy thực nghiệm trên lớp 3 để tìm hiểu kết quả. - Phương pháp nghiên cứu các sản phẩm hoạt động: giáo viên phải thường xuyên theo dõi các hoạt động của học sinh trong qua trình thực hiện để kịp thời nắm bắt và giải quyết các tình huống đặt ra sao cho có kết quả tốt nhất. Ngoài ra trong quá trình nghiên cứu sáng kiến này tôi còn phối hợp nhiều phương pháp khác như: tổ chức trò chơi, các thủ thuật thực hành khác… 4 II. PHẦN NỘI DUNG 1. Cơ sở lý luận Trong thời kì công nghệ 4.0 như hiện nay, CNTT là vô cùng quan trọng. Trong guồng quay nhanh chóng của công nghệ, đòi hỏi giáo dục phải đem lại cho học sinh tư duy, khả năng sáng tạo, thích ứng với nhu cầu thách thức hiện nay của cuộc sống. Các phương pháp giáo dục cũ đã không còn phù hợp, với phương châm “đưa người học làm trung tâm”. Đảng và nhà nước ta cũng đã có những chủ trương chính sách đầu tư và phát triển ứng dụng Tin học. Chúng ta đều thấy rằng Tin học được áp dụng hầu hết ở các lĩnh vực từ học tập, làm việc đến giải trí. Đưa môn Tin học trở thành môn học bắt buộc trong chương trình giáo dục phổ thông 2018 ở bậc tiểu học hiện nay. Một số thông tư, chỉ thị ban hành như: + Thông tư số 14/2002/TT-BGD&ĐT ngày 1/4/2002 về việc hướng dẫn quán triệt chủ trương đổi mới giáo dục phổ thông + Chỉ thị 29/2001/CT-BGD&ĐT về tăng cường giảng dạy, đào tạo ứng dụng CNTT trong ngành giáo dục đã chỉ rõ: “Nâng cao nhận thức về vai trò của CNTT, ứng dụng và phát triển CNTT trong GD&ĐT sẽ tạo một bước chuyển cơ bản trong quá trình đổi mới nội dung, chương trình, phương pháp giảng dạy, học tập và quản lý giáo dục”. Phấn đấu thực hiện các mục tiêu cụ thể của ngành là: tổ chức tốt việc dạy và học tin học ở tất các các cấp học, bậc học, ngành học nhằm phổ cập tin học trong nhà trường … + Nghị quyết 40/2000/QH10 và chỉ thị 14/2001/CT-TTg ngày 9/12/2000 về việc đổi mới giáo dục phổ thông: Nội dung chương trình là tích cực áp dụng một cách sang tạo các phương pháp tiên tiến, ứng dụng CNTT vào dạy học + Văn bản hợp nhất số 03/VBHN-BGDĐT ngày 28/9/2016 về ban hành quy định đánh giá học sinh tiểu học. + Công văn 958/SGDĐT-GDTH về việc tổ chức dạy học môn Tin học trong trường tiểu học của Sở GD&ĐT Đắk Lắk ngày 24/08/2015 Mục đích của việc ứng dụng CNTT vào nhà trường là sử dụng CNTT như một công cụ lao động trí tuệ, giúp lãnh đạo nhà trường quản lý nâng cao chất lượng nhà trường, giúp các thầy cô giáo nâng cao chất lựng giảng dạy, trang bị thêm kiến thức về CNTT, học sinh sử dụng máy tính như một công cụ học tập nhằm nâng cao chất lượng học tập, góp phần rèn luyện cho học sinh một số phẩm chất cần thiết của người lao động trong thời kì công nghệ 4.0. Trường học là nơi trẻ em được hình thành và phát triển nhân cách toàn diện nhất. Ở đó các em được quan tâm, chỉ bảo của các thầy cô giáo, sự tận tình giúp đỡ 5 của bạn bè và được sống trong tập thể. Các em sẽ có điều kiện để phát triển trí tuệ và năng khiếu cuả bản thân. Đến trường các em sẽ được tham gia vào các hoạt động tập thể và còn được học tập nhiều môn học khác nhau trong đó có môn Tin học. Trước vấn đề đó, người giáo viên phải không ngừng học hỏi tìm tòi khám phá, khai thác và xây dựng nghiên cứu phối hợp các phương pháp dạy học khác nhau sao cho phù hợp với từng bài học, từng đối tượng học sinh theo hướng chủ động tư duy, sáng tạo. Giáo viên phải nỗ lực học tập, sự say mê với nghề và cùng đồng lòng quyết tâm cao thì mới đạt được những yêu cầu của công việc. Vì vậy với suy nghĩ của mình, tôi đưa ra một số biện pháp với mong muốn góp phần tra đổi kinh nghiệm, chia sẻ để học tập lẫn nhau cùng tiến bộ. Đó là mục đích và nội dung hướng tới của sáng kiến kinh nghiệm này. 2. Thực trạng vấn đề nghiên cứu a. Thuận lợi - Trường nơi tôi công tác là trường Tiểu học Lê Lợi được đóng tại địa bàn thị trấn Quảng Phú, huyện Cư M’gar, tỉnh Đắk Lắk. Trường đã được công nhận là trường chuẩn quốc gia mức độ 1 vào năm 2017 nên được chính quyền sở tại quan tâm và chú trọng phát triển cơ sở vật chất. Tin học là một môn học tự chọn nhưng ban giám hiệu nhà trường đã tạo điều kiện để học sinh có thể học từ khối lớp 3, có một phòng máy tính để thực hành, có đủ máy để 2em / một máy tính để có thể thực hành; có một màn hình tivi lớn để chiếu. - Giáo viên: trường có giáo viên chuyên, được đào tạo bài bản về Tin học đáp ứng đầy đủ yêu cầu dạy và học môn Tin học trong bậc tiểu học - Học sinh: vì là môn học trực quan sinh động, môn học khám phá nhiều lĩnh vực nên học sinh rất hào hứng, nhất là trong các tiết thực hành. b. Khó khăn * Thực trạng hoạt động dạy học môn Tin học Để tìm hiểu thực trạng hoạt động dạy môn Tin học, tôi tiến hành khảo sát lấy ý kiến 65 học sinh lớp 3, về sự hứng thú khi học với các phương pháp truyền thống, giáo viên giảng dạy, giải thích làm mẫu, sau đó yêu cầu học sinh thực hành các bài tập, kết quả được tổng hợp bên dưới: Bảng 2.1. Tổng hợp đánh giá của các em về hứng thú trong học môn Tin học 6 STT Nội dung Có Không SL % SL % 25 41.7 % 40 58.3 % 1 Em có thích học Tin học không? 2 Em có hào hứng trong giờ học Tin học không? 27 41.5 % 38 58.5 % 3 Em có vui vẻ chờ đón giờ thực hành Tin học 30 không? 46.1 % 35 53.9 % Qua bảng 2.1 thu được kết quả như sau: - Về hứng thú sự thích học Tin học trả lời 41.7% có, 58.3 % không; - Về hào hứng trong giờ học Tin học trả lời 41.5% có, 58.5% không; - Về chờ đón giờ thực hành Tin học trả lời 46.1% có, 53.9% không. Và thử thực hiện khảo sát các nội dung khác các em điều chọn không chiếm tỷ lệ trên 50%. Như vậy, thể hiện giáo viên áp dụng phương pháp dạy học truyền thống thì mức độ hứng thú không cao. Vì vậy, rất cần áp dụng biện pháp để gây hứng thú cho các em học sinh học môn Tin học. * Những khó khăn học sinh học môn Tin học + Thứ nhất: về giao diện của các phần mềm thực hành đều là Tiếng Anh nên rất khó cho học sinh có thể hiểu, tiếp xúc và sử dụng vì thế cũng có nhiều bất cập trong việc thao tác với phần mềm; + Thứ hai: Đa số các em chỉ được tiếp xúc với máy tính ở trường là chủ yếu; do đó sự tìm tòi khám phá máy tính còn hạn chế, dẫn đến việc học tập còn chậm chạp; + Thứ ba: Số các em có máy tính ở nhà, phụ huynh lại không kiểm soát được con em mình khi sử dụng máy tính do vậy đây cũng là một nguyên nhân các em chưa linh hoạt khi sử dụng máy tính; + Thứ tư: Còn những em không có máy tính ở nhà. Nên việc sử dụng các phần mềm còn gặp nhiều hạn chế như: gõ phím chậm, cầm chuột chưa đúng cách, khởi động và tắt máy tính theo bản năng, chưa khai thác hết các tác dụng của phần mềm; 7 + Thứ năm: Một số em còn xem nhẹ môn Tin học, các em còn nhỏ hay mê chơi nên chưa chú ý vào bài học. Vì môn tin học là môn mới được đưa vào chương trình học lớp 3 nên luôn tồn tại những ưu khuyết điểm khác nhau. Do đó tôi luôn tự học hỏi, rút kinh nghiệm để góp phần nâng cao chất lượng học sinh, giúp các em hứng thú và hiệu quả khi sử dụng máy tính. 3. Nội dung và hình thức của giải pháp a. Mục tiêu của giải pháp Giải pháp, biện pháp được nêu trong đề tài nhằm giúp học sinh lớp 3 học và thực hành các phần mềm một cách hiệu quả, thành thạo các thao tác sử dụng máy tính. Giúp các em hứng thú, vui vẻ khi đến tiết học. Giúp học sinh tăng cường khả năng tư duy trong cách thực hiện các thao tác để thể hiện khả năng vận dụng kiến thức, hình thành cho học sinh kĩ năng thực hành. Thúc đẩy sự sáng tạo của học sinh, từ đó giúp học sinh tò mò khám phá thể giới xung quanh, say mê hứng thú và yêu thích môn học. b. Nội dung và cách thực hiện giải pháp Trong những năm gần đây, tin học được đưa vào các bậc học từ tiểu học, trung học cơ sở đến trung học phổ thông. Khi mới làm quen với máy tính, học sinh tỏ ra rất hào hứng vì đây là môn học trực quan sinh động, hiện đại và mang tính thực tế cao. Tuy nhiên sau một thời gian, khi kiến thức mới trở nên khó hơn thì học sinh lại có thái độ thờ ơ, lơ là trong việc học cũng như vận dụng vào cuộc sống hằng ngày. Học sinh không hứng thú với môn học là do học sinh lười học, lười suy nghĩ, một phần là do giáo viên chưa có phương pháp dạy phù hợp, chưa quan tâm tới suy nghĩ, thái độ của học sinh dẫn đến ngày càng tụt hậu so với yêu cầu chung của xã hội hiện nay. Để tạo cho học sinh niềm hứng khởi khi được học môn Tin học tôi đưa ra một số giải pháp sau: *Giải pháp 1: Biện pháp giáo dục ý thức học sinh Mục tiêu của biện pháp này là giáo dục ý thức cho học sinh, tạo cho học sinh sự nghiêm túc khi tham gia học tập để đạt được kết quả cao. Đối với các em học sinh lớp 3, lần đầu tiên được học môn Tin học, và lần đầu được tiếp xúc với máy tính trên trường. Để có thể đạt được kết quả cao trong tiết học đầu tiên cũng như tiền đề cho các tiết học về sau, tôi đã giáo dục ý thức học tập cho các em, tạo ra sự nghiêm túc cũng không kém phần hứng thú khi bước vào tiết 8 dạy, đạt hiệu quả cao trong học tập. Đầu năm học, tôi quy định rõ khi học sinh tham gia học môn Tin học cần có ý thức nghiêm túc, trong giờ các con không tham các hoạt động nào, hoặc những việc làm không theo yêu cầu của giáo viên. Ví dụ: Khi học sinh vào phòng Tin học. Tôi đưa ra những yêu cầu về nội quy phòng Tin học như sau: + Học sinh ngồi theo sự sắp xếp của giáo viên, học tập theo hướng dẫn của giáo viên; + Không xả rác, ăn kẹo hoặc uống nước trong phòng Tin học; + Thực hành khởi động máy tính khi có yêu cầu; + Trước khi ra về, tắt máy tính đúng hướng dẫn, để ghế ngồi của mình gọn gàng, cũng như bàn phím và chuột phải ngăn nắp. Tất cả những nội quy này giúp các em có được ý thức nghiêm túc trong giờ học, bảo vệ tài sản chung. Tôi luôn kết hợp với giáo viên chủ nhiệm để nhắc nhở, giúp các em tiến bộ. Trong giờ dạy tôi liên hệ nhiều kiến thức vào thực tế đề học sinh thấy được các ứng dụng của CNTT và tầm quan trọng của môn Tin học trong thực tiễn cuộc sống. Ví dụ: Trong bài học “Máy tính và đời sống” học sinh biết được những lợi ích mà máy tính mang lại khi thực hiện công việc ở các cơ quan, bệnh viện, trường học, cửa hàng, siêu thị,…Máy tính có thể nhanh chóng thực hiện chính xác các công việc như tính tiền, in ấn văn bản, tính toán tiền lương, rút tiền tự động ở cây ATM trong ngân hàng, mượn sách thư viện, tổng kết điểm giữa kì, cuối kì ở trường học. Khi đó tôi liên hệ lại? Nếu không có máy tính thì những công việc đó con người chúng ta có thể xử lý được không? Tôi khẳng định với học sinh là hoàn toàn được nhưng sẽ rất mất thời gian và độ chính xác không cao. Chính vì những ứng dụng này giúp học sinh hiểu hơn về CNTT trong đời sống. Và khi học sinh biết được những thiết bị có bộ xử lý giống như máy tính trong gia đình, ngoài đường phố, ở cơ quan như điện thoại di động, tủ lạnh, ti vi, máy giặt, máy điều hòa, đèn điều khiển giao thông, máy quét, … để các em thấy được sự cần thiết của các thiết bị đó như thế nào trong cuộc sống hiện đại. *Giải pháp 2: Tạo tâm lí thoải mái cho học sinh Một trong những yếu tố khiến các em không có hứng thú khi tiếp xúc với bộ môn là do giáo viên tạo áp lực cho học sinh. Một số giáo viên luôn đòi hỏi cao quá 9 so với năng lực vốn có của các em mà không tìm hiểu xem liệu các em có thể đáp ứng được những yêu cầu đó không. Chính vì vậy mà ngay từ khi tiếp xúc với các em tôi đã tạo cho các em tâm lí thoải mái, vui vẻ, thân thiện trong các hoạt động dạy và học. Làm sao để có thể cho học sinh thấy được “mỗi ngày đến trường là một ngày vui”. Ví dụ: Trước khi bắt đầu giờ dạy, tôi luôn cho học sinh khởi động bằng nhiều trò chơi khác nhau, hoặc có thể bật màn hình chiếu để có em có thể nhảy theo các vũ điệu hiện đại như bài Ghen cô vy, Baby shark, … các em vừa được khởi động vừa được khắc sâu việc rửa tay phòng ngừa dịch bệnh covid – 19. Hình ảnh các em học sinh khởi động trước tiết học Trong các tiết học, tôi tạo ra bầu không khí nhẹ nhàng, thân thiện, giúp lớp học trở nên thoải mái, làm giảm khoảng cách giữa cô và trò. + Giúp học sinh cảm thấy yêu trường, yêu lớp, yêu bạn bè thầy cô, tự tin thể hiện bản thân trước lớp. + Giáo viên khơi dậy tình cảm bạn bè giữa các nhóm bằng cách tạo ra các nhiệm vụ nhóm, xây dựng cây tình bạn. + Khuyến khích các em tham gia hoạt động, nhận xét các bạn của mình theo hướng động viên tránh chê bai, dè bỉu khi các bạn thực hiện chưa tốt. Trong quá trình dạy, giáo viên phải có thái độ nhẹ nhàng khi học sinh mắc khuyết điểm, xử lý tốt các tình huống sư phạm xảy ra bất ngờ. Bên cạnh đó, tôi cũng kịp thời động viên đúng lúc, đúng chỗ đối với từng học sinh và có những biện pháp cụ thể để hạn chế những học sinh chưa hoặc không làm bài tập. 10 Giáo viên khi đánh giá nhận xét học sinh phải công bằng, khách quan, công khai kết quả trong các giờ kiểm tra và nhận xét bài làm của các em. Không nên đánh giá quá thấp sẽ gây ra tình trạng chán nản ở các em. Giáo viên phải có kiến thức vững vàng để giải đáp thắc mắc một cách thuyết phục, khuyến khích các em mạnh dạn hỏi khi chưa hiểu bài. Xây dựng cho các em thói quen học tập tích cực xây dựng bài, động viên kịp thời những học sinh tiến bộ, cung cấp các phương pháp học tập đúng đắn, tạo cơ hội để mọi học sinh trong lớp đều tham gia phát biểu trong giờ học. + Xếp vị trí học sinh giỏi ngồi cùng máy tính với học sinh yếu để các em có thể giúp đỡ bạn khi cần. + Yêu cầu học sinh giỏi chỉ giúp bạn chứ không làm bài thay bạn. + Với những em học sinh ngoan, giỏi tôi động viên các em thực hành thêm những phần mềm khác sau khi đã hoàn thành nhiệm vụ học tập của mình như: trò chơi tidy up, blocks, dots ,… *Giải pháp 3: Có kế hoạch bài dạy, thiết kế bài dạy phù hợp - Sử dụng bài giảng điện tử Giáo viên phải có nội dung dạy học cụ thể, rõ ràng. Ý tưởng xây dựng bài phải phong phú, đa dạng giúp học sinh phấn khích, hứng thú khi tham gia vào tiết học và tiếp thu một cách tốt nhất. Do đặc thù của môn Tin học là lĩnh vực đòi hỏi sự gắn kết giữa lý thuyết và thực hành nên cả ngay với những bài đơn giản tôi cũng phải chuẩn bị thật chu đáo. Ngay trong hè, trước khi bắt đầu vào năm học tôi đã cài đặt tất cả các phần mềm học tập cho học sinh vào máy tính để tránh mất thời gian trong tiết học. Tôi cũng sử dụng các phần mềm này nhiều lần để có thể nhận biết được các lỗi mà học sinh dễ gặp trong lúc thực hành. Tôi luôn định hướng sử dụng các phương pháp dạy học: + Học tập trong hoạt động và dạy học sinh thói quen học tập tích cực, tự giác. + Học lý thuyết phải gắn liền với thực hành. + Giáo dục gắn liền với thực tế cuộc sống. Thời gian gần đây, việc ứng dụng CNTT trong dạy học đã được hưởng ứng rất mạnh, phong trào thi đua soạn bài giảng điện tử để đổi mới cách dạy và học đang 11 được hưởng ứng rất tích cực. Đây là phương tiện hiệu quả nhất để truyền đạt kiến thức một cách nhanh nhất nhằm nâng cao chất lượng học sinh trong nhà trường. Muốn đổi mới dạy và ứng dụng CNTT trong nhà trường, trước hết tôi thấy người giáo viên cần phải tự đổi mới bản thân, đổi mới cách dạy học, cần phải có năng lực sử dụng CNTT, xây dựng các phương án để kiểm tra kiến thức của học sinh. Người dạy cần có kỹ năng sử dụng các phần mềm hỗ trợ dạy học nhằm thực hiện tốt các ý tưởng sư phạm. Đồng thời, nhà trường cũng cần tạo điều kiện về cơ sở vật chất để việc ứng dụng CNTT vào dạy học của giáo viên được thực hiện một cách tốt nhất. Hơn nữa để soạn một bài giáo án điện từ, tôi thấy giáo viên phải mất rất nhiều công sức, thời gian. Do đó yếu tố quyết định đến hiệu quả sử dụng CNTT vào dạy học vẫn là bản thân người giáo viên đó có quyết tâm thực hiện hay không? Nếu có quyết tâm thì trong bất kì hoàn cảnh nào chúng ta cũng làm được. Trước mỗi bài dạy, tôi chuẩn bị soạn giảng chu đáo bằng việc sử dụng phần mềm trình chiếu Microsoft Power Point. Đây là phần mềm sử dụng để thiết kế và trình bày bài giảng trên các slide. Mỗi slide có thể chứa nhiều dạng thông tin khác nhau như: chữ, hình ảnh, âm thanh, tranh vẽ có thể chuyển động được. Nhờ vậy mà bài giảng của tôi rất phong phú và sinh động. Tuy nhiên để có thể có được một bài giảng chất lượng, vừa thể hiện được nội dung, vừa đảm bảo được yêu cầu kĩ thuật, các slide trình chiếu cần được thiết kế cẩn thận và phù hợp với bài học và ý tưởng sư phạm. Tôi mạnh dạn đưa ra các bước trình tự để có được một bài giảng vừa ý: Bước 1: Chuẩn bị nội dung và thông tin cần trình bày trên các slide theo trình tự của bài giảng. Bước 2: Phân chia nội dung và thông tin cần trình bày trong mỗi slide. Bước 3: Chuẩn bị các minh họa cho nội dung như: hình ảnh, video, hoạt hình, các mô hình, âm thanh, … bằng các công cụ phần mềm khác Bước 4: Sử dụng phần mềm trình chiếu Power point để tích hợp các nội dung trên vào các slide Bước 5: Quy định cách hiển thị thông tin trong mỗi slide Bước 6: Quy định hình thức chuyển đổi giữa các slide, cách hiệu ứng cho mỗi đối tượng. Tránh sử dụng quá nhiều hiệu ứng sẽ gây ra sự rối rắm trong bài giảng làm phân tán sự tập trung của các em học sinh. Bước 7: Trình diễn thử, chỉnh sửa và đưa vào sử dụng. 12 Tôi luôn xác định những nội dung trong các slide chỉ là dàn ý, trong quá trình dạy tôi vẫn sử dụng kết hợp với bảng lớn, các PPDH một cách tích cực để tăng cường tính chủ động của học sinh trong quá trình dạy học. Trong sách giáo khoa có những thuật ngữ khiến học sinh khó hiểu, tôi phải đọc mẫu, giới thiệu cách độc và hướng dẫn cho học sinh đọc theo. Ví dụ: Mario – đọc là Ma-ri-ô; Blocks – đọc là bờ-lóc; Dots - đọc là đót Ngay từ bài học đầu tiên, tôi chỉ cho học sinh nhận biết được các bộ phận của máy tính và tác dụng của các bộ phận đó bằng cách cho học sinh quan sát trược tiếp ngay trong giờ lý thuyết Ví dụ: bài Chuột máy tính Khi giới thiệu con chuột, tôi giới thiệu những con chuột thường dùng và phổ biến hiện nay: chuột có dây, chuột không dây, …. Tôi sẽ mô tả con chuột máy tính, dù mẫu mã hay kích thước, màu sắc khác nhau như thế nào thì chuột máy tính vẫn có cấu tạo giống nhau: trên thân con chuột có những nút nào, quan sát các nút đó. Tay và ngón tay đặt như thế nào để có thể sử dụng dễ dàng. Học sinh quan sát con chuột, quan sát thao tác hướng dẫn của cô giáo. 13 Tôi luôn kết hợp giữa lý thuyết và thực hành sao cho phù hợp, không xem nhẹ giờ dạy lý thuyết. Lý thuyết có nắm chắc thì thực hành mới tốt được. Cũng như khi thực hành được, sẽ khắc sâu lý thuyết hơn. Hình ảnh học sinh lớp 3A thực hành cầm chuột máy tính Ví dụ: Khi học bài vẽ đường thẳng. Học lý thuyết học sinh mới chỉ biết cách chọn vào công cụ vẽ đường thẳng trong phần mềm Paint. Nhưng đến khi thực 14 hành nếu chỉ sử dụng công cụ đường thẳng mà không có phím Shift thì sẽ không vẽ được đường thẳng Khi dạy thực hành, tôi có giao bài tập cho học sinh cụ thể, rõ ràng kết hợp với kiến thức ở bài học trước. Hướng dẫn theo từ nhóm trước, học sinh quan sát và làm bài tập. Tôi luôn chuẩn bị sẵn thêm bài tập đối với học sinh giỏi. *Giải pháp 4: Tăng cường sử dụng phương pháp dạy học, thực hành Có thể nói rằng phương tiện dạy học góp phần quan trọng và quyết định đến hiệu quả của tiết học. Nếu như không có phương tiện dạy học phù hợp thì giáo viên cần phải làm việc rất nhiều nhưng học sinh lại thu được kiến thức rất ít. Đặc biệt với môn Tin học nếu như không có phương tiện dạy học thì tiết học lại càng trờ nên nhàm chán. Nếu như đối với bài “Làm quen với máy tính” giáo viên kết hợp màn hình chiếu, giới thiệu cho các em các loại máy tính hiện nay như máy tính ban, máy tính xách tay, máy tính bảng, … sẽ giúp các em hình thành rõ hơn về các loại máy tính, cũng như sự phong phú về hình dạng của các máy tính khác nhau. Giáo viên chỉ dạy lý thuyết mà không chú trọng đến thực hành thì sẽ không khắc sâu được kiến thức đồng thời học sinh không biết được sự hấp dẫn của CNTT. Phòng Tin học trường tôi được nhà trường cấp một chiếc tivi lớn. Mỗi khi dạy tôi đều sử dụng phương tiện này để có thể cho các em quan sát rõ ràng những kiến thức, những hình ảnh tôi cần chiếu đến các em. Đối với các em ít được tiếp xúc máy tính thì các em rất háo hức khi đến tiết thực hành. Để giờ học thực hành đạt hiểu quả thì cần có sự chuẩn bị thật tốt. + Về giáo viên: cần phải chuẩn bị kĩ tiến trình bài thực hành, lựa chọn nội dung phù hợp với từng lớp. Giáo viên cần chuẩn bị thêm nội dung nếu có những em thực hành xong nhiệm vụ rồi mà vẫn còn thời gian. Thực hành nội dung trong sách giáo khoa đến nội dung ngoài mà giáo viên cho thêm. + Về phía học sinh: các em cần phải đọc bài trước khi đến lớp, phải mang đầy đủ sách vở cần thiết tránh việc không nắm bắt được nội dung học, như vậy sẽ không chủ động trong việc nắm bắt kiến thức. Trong tiết thực hành, giáo viên có thể sử dụng màn hình chiếu hướng dẫn trước một số công việc để học sinh quan sát sau đó cho các em tự thực hành. Giáo viên cần phải quan sát thường xuyên trong phòng máy, bởi vì có thể có một số em tranh thủ chơi trò chơi hoặc thực hành không đúng yêu cầu của giáo viên đưa ra. 15 Giáo viên phải có hệ thống các bài tập thực hành, từ bài tập đơn giản đến phức tạp giúp học sinh hiểu sâu hơn, tiếp thu bài nhanh chóng hiệu quả. Tôi giao bài tập thực hành cho học sinh theo năng lực từ mức thấp đến mức cao, từ những bài đơn giản trong sách giáo khoa đến những bài phức tạp đến từ yêu cầu của giáo viên. Ví dụ: Với bài “Bàn Phím máy tính”, tôi giúp học sinh đạt được những kiến thức: + Biết: đọc tên được 5 hàng phím chính, vị trí của các phím. Nhận diện được các loại bàn phím khác nhau. + Hiểu: Hiểu được cơ chế truyền tín hiệu từ bàn phím đến màn hình. + Vận dụng: có thể đặt tay theo đúng vị trí trên bàn phím, từ hàng phím cơ sở đến các hàng phím trên, hàng phím số, hàng phím dưới, hàng phím cách. Học sinh thực hành đặt tay trên bàn phím khi sử dụng phần mềm Mario 16 Khi giao bài thực hành, tôi không giao những bài tập quá dài. Các bài tập cần ngắn gọn, dễ hiểu và dần dần từ đơn giản đến phức tạp. Ngoài ra tôi cũng kết hợp với những bài học trước để học sinh ôn lại và vận dụng hiểu hiết một cách có hệ thống. Ví dụ: Ở tiết thực hành bài “Bước đầu soạn thảo”. Tôi cho học sinh gõ lại những phím đơn trước để học sinh nắm lại các vị trí của phím như: Asdfghjkl QwertyuIop Zxcvbnm Sau đó sẽ gõ những từ ghép không dấu như: phong lan chim non hoa sen ban mai rung rinh trong veo bao la long lanh Khi học sinh đã thành thạo, tôi cho luyện gõ không dấu bằng một đoạn thơ: Vui sao khi chom vao he Xon xao tieng se tieng ve bao mua Ron rang la mot con mua Tren dong bong lua cung vua uon cau Ví dụ: Trong bài thực hành “Vẽ đường cong”. Đầu tiên tôi cho học sinh vẽ những con cá, tiếp đến hướng dẫn các em vẽ những con sóng khác nhau. Sau cùng những em nào vẽ tốt, tôi sẽ nâng cao yêu cầu lên là vẽ con thuyền và tô màu theo ý tưởng để hoàn thiện bức tranh “thuyền và biển” 17 Ngoài sử dụng công cụ vẽ đường cong để vẽ con cá, các em còn phải kết hợp với vẽ đường thẳng tạo thành chiếc thuyền kết hợp với tô màu phù hợp các em sẽ có được bức tranh tuyệt vời. Tự do được tô màu theo ý muốn sẽ càng cảm thấy phấn khích, sáng tạo bức tranh theo ý tưởng của các em. Nói chung, ở từng bài cụ thể thì tôi sẽ áp dụng các phương pháp dạy học linh hoạt khác nhau. Giải pháp 5: Tích cực hóa hoạt động nhóm – Nâng cao tương tác giữa cô – trò Xác định quan điểm “Lấy người học làm trung tâm”, đề cao việc tự học, phát huy tính tích cực tự giác của học sinh. Biện pháp này nhẳm giúp các em được cùng làm việc, tăng cường sự giao lưu giữa bạn học sinh với nhau. Phương pháp dạy học theo nhóm là một trong những phương pháp dạy học mới, và ngày càng phát huy được ưu điểm trong giáo dục hiện nay. Làm việc nhóm giúp giáo viên đỡ bớt công việc truyền tải kiến thức đến học sinh, từ đó mà học sinh có thể tự cùng nhau kết hợp và phân công công việc trong nhóm để tìm tòi kiến thức dưới sự chỉ dẫn của giáo viên. Phương pháp này đưa ra những cách thức giải quyết đầy sự sáng tạo, kích thích sự hợp tác giữa các thành viên trong nhóm tham gia vào việc giải quyết vấn đề. Làm việc theo nhóm nhằm thoả mãn nhu cầu học tập cá nhân, người học có thể đưa những giải pháp khác nhau để tìm ra được đáp án hay nhất. Khi thực hiện phương pháp này, giáo viên là người chuyển giao kiến thức, chuẩn bị, tổ chức và theo dõi việc thực hiện, đánh giá tổng kết kết quả làm việc của các nhóm. 18 Ví dụ: Trong giờ học bài “Vẽ đường cong”, tôi cho học sinh làm việc theo nhóm để tìm ra các bước thực hiện vẽ được đường cong. Học sinh có thể tiến hành trực tiếp trên máy tính để tìm ra các bước này. Tôi có thể kiểm tra hiệu quả của các nhóm bằng cách chỉ định một học sinh trong nhóm thực hiện lại các thao tác vừa thảo luận tìm tòi với nhau. Nếu học sinh được chỉ định không hoàn thành nhiệm vụ, trách nhiệm gắn cho các thành viên trong nhóm đặc biệt là nhóm trưởng. Hoặc cho nhóm trưởng kiểm tra kết quả làm việc của bạn mình. Như vậy các em sẽ tự giác và có ý thức hơn trong học tập. Còn đối với việc học ở nhà, tôi có thể ra một số bài tập. Học sinh được làm và thực hành cá nhân hoặc theo nhóm. Bài thực hành có thể làm tại lớp hoặc ở nhà. Khi đến tiết học tôi cho các nhóm, học sinh tự nhận xét bài của nhau, sau đó giáo viên sẽ tổng kết, nhận xét và bổ sung kiến thức. Ví dụ: Khi thực hành về bài vẽ đường cong, tôi giao thêm bài cho học sinh về vẽ thêm các dụng cụ đơn giản trong nhà. Học sinh có thể kết hợp thêm các công cụ khác như vẽ đường thẳng, tô màu,… Học sinh có thể làm việc theo nhóm nhỏ 2-3 em học sinh. Đến tiết học tôi cho học sinh trình bày bài của mình, sản phẩm mà các em hoàn thành trước đó. Các nhóm khác sẽ nhận xét về hình vẽ, màu sắc của đồ vật mà các em đã vẽ. Cuối cùng tôi sẽ đưa ra nhận xét, tổng kết, khen thưởng các nhóm vẽ đẹp, đồng thời động viên các nhóm vẽ chưa đẹp. Để thực hiện phương pháp này giáo viên cần có kế hoạch bài dạy cụ thể và chi tiết. Giáo viên dự kiến chia nhóm, số lượng nhóm, nhiệm vụ và thời gian thực hiện nhiệm vụ sau đó trình bày kết quả thảo luận trước lớp. Thiết kế bài giảng cần chuẩn bị hệ thống câu hỏi, nhằm khuyến khích học sinh tính tích cực, hào hứng suy nghĩ ở mức độ sâu và cao hơn. Đặc biệt với môn Tin học việc chia nhóm thực hiện khá dễ dàng. c. Mối quan hệ giữa các giải pháp Tùy thuộc vào đặc trưng của từng bài học, vào tình hình thực tế của lớp học để giáo viên có thể lựa chọn và thiết kế những hình thức hoạt động và phương pháp khác nhau nhằm phát triển được năng lực, phẩm chất cho học sinh. Vì vậy đòi hỏi người giáo viên trong quá trình giảng dạy phải vận dụng linh hoạt, sáng tạo giữa các phương pháp dạy học truyền thống và phương pháp dạy học hiện đại. Điều quan trọng nhất là giáo viên phải hiểu được đối tượng học sinh của mình, biết các em đang ở mức độ kiến thức nào, nắm bắt được tâm sinh lý của các em từ đó đưa ra 19 được những giải pháp phù hợp để giúp các em đạt được mục tiêu bài học. Nói chung, trong quá trình giảng dạy giáo viên phải linh hoạt, sáng tạo trong mỗi bài học, mỗi đối tượng học sinh. Người giáo viên phải khôn kheo xử lý mọi tình huống xảy ra trong tiết học để giúp học sinh khám phá được trì thức, khám phá được năng lực của bản thân. Đúng với câu nói của ông cha ta “Người thầy cũng là một người nghệ sĩ”, đó chính là thành công của người giáo viên d. Kết quả khảo nghiệm, giá trị khoa học của vấn đề nghiên cứu Sau khi thực hiện các biện pháp trong năm học 2019 – 20, tôi khảo sát lại 65 em học sinh khối lớp 3 của trường tiểu học Lê Lợi, và kết quả sau khi khảo sát lại kết quả như sau: Bảng 2.1. Tổng hợp đánh giá của các em học sinh về hứng thú trong học môn Tin học STT Nội dung Có SL 1 Em có thích học Tin học không? 53 2 Em có hào hứng trong giờ học Tin học không? 54 3 Em có vui vẻ chờ đón giờ thực hành Tin học không? 55 Không % SL % 81.5% 11 18.5% 83% 11 17% 91.2% 10 8.8% Qua bảng 2.1 thu được kết quả như sau: - Về hứng thú sự thích học Tin học trả lời 81.5% có, 18.5% không; - Về hào hứng trong giờ học Tin học trả lời 83% có, 17% không; - Về chờ đón giờ thực hành Tin học trả lời 91.2% có, 8.8% không. Đối với bản thân tôi, kết quả này thực sự chưa phải là cao, nhưng qua sử dụng các biện pháp nói trên, hiệu quả mang lại cho các em học sinh có sự thay đổi đáng kể. Số lượng các em học sinh lớp 3 sử dụng máy tính thành thạo hơn, có thể sử dụng chuột linh hoạt, thực hành tốt các phần mềm có trong chương trình. Tiết học cũng trở nên nhẹ nhàng, đạt hiệu quả tích cực hơn rất nhiếu. Từ đó tạo hứng thú cho học sinh trong quá trình học và niềm vui hứng thú mỗi khi đến tiết Tin học. * Giá trị khoa học của vấn đề nghiên cứu: 20 Qua việc giúp các em học sinh tiếp cận với Tin học, tôi thấy các em học sinh lớp 3 ở trường tôi không hoàn toàn là sử dụng máy tính thành thục, song đa số các em đã không còn ngại ngùng, rụt rè khi sử dụng máy tính như đầu năm học. Các em đã tự tin sử dụng máy tính, mạnh dạn trao đổi với bạn bè và trước cô giáo. Trong quá trình thực hiện các biện pháp trong sáng kiến này, bản thân tôi nhận thấy mình đã nâng cao về chuyên môn, về các nghiệp vụ sư phạm cần thiết trong quá trình giảng dạy. Từ đó việc truyền đạt kiến thức cho các em học sinh trờ nên dễ dàng, linh hoạt hơn. Việc giúp trẻ tiếp cận Tin học sớm và ứng dụng công nghệ thông tin trong giảng dạy giúp giáo viên tiết kiệm được thời gian và công sức. Giúp học sinh trờ nên tích cực chủ động hơn trong việc nắm bắt kiến thức, đảm bảo được chất lượng dạy và học trong nhà trường. Do đó, việc ứng dụng công nghệ thông tin trong giảng dạy là cực kì cần thiết và thực tế đã chứng minh được hiệu quả mà nó mang lại. III. 1. Kết luận PHẦN KẾT LUẬN – KIẾN NGHỊ
- Xem thêm -