Tài liệu Skkn đổi mới kiểm tra, đánh giá môn tin học lớp 11

  • Số trang: 20 |
  • Loại file: DOC |
  • Lượt xem: 269 |
  • Lượt tải: 0

Mô tả:

ĐỔI MỚI KIỂM TRA, ĐÁNH GIÁ MÔN TIN HỌC LỚP 11 I. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI: Kính thưa các quý đồng nghiệp. Đối với môn Tin Học nói chung và Tin Học trong bậc THPT nói riêng là một bộ môn rất hấp dẫn đối với các học sinh ngày nay. Tuy nhiên để học sinh có niềm đam mê thực sự thì đòi hỏi các giáo viên bộ môn cần phải đầu tư, tìm tòi, nghiên cứu và lựa chọn được các giải pháp về mọi mặt (phương pháp giảng dạy, kiểm tra đánh giá...) để đạt hiệu quả cao, chính xác, công bằng đồng thời đánh giá được tương đối thực lực từng đối tượng học sinh của mình, từ đó sẽ nâng cao được chất lượng giảng dạy và học tập. Trong 3 năm học THPT thì (lớp 10 kiến thức chỉ mang tính sơ lược để học sinh nắm được khái quát về Hệ thống Tin Học và thực hiện sử dụng các phần mềm có sẵn như MS-WORD. Lớp 11 kiến thức mang tính tư duy, trừu tượng nên học sinh phải thực hiện kĩ năng tư duy, suy luận và áp dụng vào từng bài toán cụ thể, có tính ứng dụng cao trong thực tế. Lớp 12 có phần đơn giản hơn lớp 11 vì không còn mang tính trừu tượng nữa. Hơn nữa bộ môn Tin Học lớp 11 cần phải có kiến thức tương đối cơ bản của 2 bộ môn khác là Toán (liên quan đến giải thuật) và Anh ngữ (liên quan đến các câu lệnh khi lập trình) nên để đánh giá được thực lực của từng học sinh trong bộ môn Tin Học giáo viên cũng cần phải dành nhiều thời gian hơn so khối 10 và khối 12 hay với một số bộ môn khác trong việc kiểm tra đánh giá. Môn này cũng sẽ khó dạy khi giáo viên hoàn toàn không được dùng máy tính để minh họa hay thực hành các thao tác mẫu của bài học. Nếu thầy và trò trên lớp được học tập hoàn toàn với phấn và bảng (học chay), việc tiếp thu kiến thức bài học có thể suy giảm đến 70%. Mặc dù theo thiết kế của chương trình và cố gắng của các tập thể tác giả sách giáo khoa việc trình bày các kiến thức của bài học đã cố gắng độc lập tối đa với các thao tác cụ thể trên máy tính, nhưng nếu sử dụng phương tiện minh họa là máy tính thì sẽ đạt chất lượng cao hơn. Trang 1 Vấn đề đổi mới phương pháp dạy học và đổi mới kiểm tra đánh giá học sinh thì từ những năm trước các cấp Bộ, Ngành, Sở GD-ĐT, các trường đã triển khai đồng thời mỗi giáo viên cũng từng bước vận dụng để đánh giá chất lượng học tập của học sinh. Tuy nhiên mỗi giáo viên cũng có điều kiện, hoàn cảnh khác nhau nhất định của mình và mỗi bộ môn lại có đặc thù riêng nhất là bộ môn tin học tuy dễ mà lại khó, nên việc đánh giá chất lượng kiến thức cho học sinh còn nhiều hạn chế như thiếu tính khách quan, tính chính xác, tính toàn diện, tính hệ thống, tính công khai, tính phát triển và tính công bằng, kiểm tra đánh giá chỉ qua loa, sơ sài, thiếu lòng tận tâm với nghề với những mầm xanh của tương lai nên chỉ có tính đối phó cho xong việc, xong nhiệm vụ... Chính vì những yếu tố đó mà bản thân tôi không ngừng tìm tòi, học hỏi và nghiên cứu các tài liệu, các phóng sự từ những nhà khoa học giáo dục cũng như các nhà quản lý giáo dục và các cán bộ GV trong Ngành để có cái nhìn tổng thể hơn đồng thời cũng xây dựng cho mình một hệ thống kiến thức về phương pháp kiểm tra đánh giá nhằm áp dụng vào thực tiễn ở phạm vi các lớp học do mình phụ trách từ những năm qua tại trường THPT Sông Ray qua đề tài “Đổi mới kiểm tra đánh giá môn Tin Học lớp 11 tại trường THPT Sông Ray” II. CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN: 1) Cơ sở lí luận: - Theo ý kiến của PGS-TS Nguyễn Công Khanh thành viên Hội đồng khoa học giáo dục Vinschool “Hiện nay, giáo viên sử dụng hầu như rất hạn chế các hình thức đánh giá, phần lớn những đánh giá dựa vào viết luận, làm các bài tập như kiểm tra 15 phút, 1 tiết… , và thông qua một số câu hỏi trắc nghiệm hoặc tự luận mà chính giáo viên cũng không rõ mình định đánh giá kỹ năng hay năng lực gì ở học sinh. Khi giáo viên chưa đa dạng hóa các kiểu đánh giá sẽ làm cho hoạt động học tập nhàm chán, sẽ khó phát triển các năng lực bậc cao ở người học (như năng lực giải quyết vấn đề, năng lực tư duy sáng tạo…). Trong khi đó, yêu cầu của đổi mới kiểm tra đánh giá là phải áp dụng đa dạng các hình thức đánh giá: Đánh giá bằng trắc nghiệm, bằng kiểm tra viết kiểu tự luận, đánh giá thông qua sản phẩm, qua hồ sơ học sinh, qua thuyết trình/ trình bày, thông qua tương tác Trang 2 nhóm, thông qua các sản phẩm của nhóm…, đánh giá bằng các tình huống bài tập, các hình thức tiểu luận… thì giáo viên chưa làm được vì chưa được đào tạo”; “Nếu thực hiện được việc kiểm tra đánh giá hướng vào đánh giá quá trình, giúp phát triển năng lực người học, thì lúc đó quá trình dạy học trở nên tích cực hơn rất nhiều; Quá trình đó sẽ nhắm đến mục tiêu xa hơn, đó là nuôi dưỡng hứng thú học đường, tạo sự tự giác trong học tập và quan trọng hơn là gieo vào lòng học sinh sự tự tin, niềm tin “người khác làm được mình cũng sẽ làm được”… Điều này vô cùng quan trọng để tạo ra mã số thành công của mỗi học sinh trong tương lai..” Nguyên nhân chính là việc đánh giá kết quả một chương, một phần hay một quá trình học, ... giáo viên chưa chú trọng được mục tiêu và thiết kế bài học để học sinh và giáo viên nắm bắt kịp thời thông tin hai chiều nhằm điều chỉnh hoạt động dạy và học. Đồng thời nội dung kiểm tra, đánh giá chưa toàn diện, đa dạng. Bao gồm cả kiến thức, kĩ năng và phương pháp hoặc là chỉ dừng lại tái hiện kiến thức và kĩ năng mà chưa đề cấp đến khả năng sáng tạo của học sinh. Hơn nữa vẫn còn thói quen kiểm tra, đánh giá nặng về công tác cho điểm xếp loại mà chưa chú trọng đến việc đánh giá những ưu điểm và nhược điểm của học sinh khi làm bài, sau khi kiểm tra thì lại bỏ qua việc điều chỉnh hoạt động và học của cả thầy và trò. Thông qua kết quả của HS, giáo viên chưa chú trọng việc củng cố lại kiến kiến thức bị hổng cho học sinh cũng như công tác bồi dưỡng cho học sinh, chưa chú trong đến các biện pháp tự học, tự đánh giá của học sinh... 2) Cơ sở thực tiễn: - Theo PGS.TS Lê Thế Vinh - Trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật Vinh đã đưa ra những phân tích cũng như chia sẻ định hướng về khâu đổi mới đột phá này. “Hoạt động thi, kiểm tra, đánh giá như một thước đo, công cụ được sử dụng thường xuyên của giáo viên trong quá trình dạy học. Thầy cô giáo, là người thực hiện việc lên lớp giảng bài, hướng dẫn cho HS-SV học tập, hoạt động hình thành năng lực và phẩm chất con người tốt cho các em. Để đào tạo được một con người, người thầy dành tâm trí, sức lực, trí thông minh, thời gian để thực hiện.Từng nội dung bài học, kiến thức, kỹ năng, thái độ được thầy cô tổ chức truyền thụ cho học sinh qua việc tổ chức học tập là cả một nghệ thuật với biết bao công sức tìm tòi, Trang 3 nghiên cứu để thực hiện. Trong đó, liên tục lắng nghe, điều chỉnh bằng nhiều cách khác nhau khi truyền đạt thành công một nội dung bài học”. - Trong thực tế lâu nay việc kiểm tra đối với môn tự nhiên trong đó có bộ môn Tin học có hiện tượng thiên về kiểm tra đánh giá mức độ tiếp thu và vận dụng kiến thức của người học thông qua chủ quan đánh giá của mỗi giáo viên. Vì vậy việc kiểm tra đánh giá kết quả học tập còn chưa có tác dụng mạnh mẽ, kích thích, động viên học sinh nỗ lực học tập, cũng có trường hợp ra đề quá khó làm cho học sinh có học lực từ trung bình trở xuống dễ chán hoặc ra đề quá dễ sẽ dẫn đến học sinh có tâm lí thoả mãn, kém nỗ lực phấn đấu. - Kiểm tra đánh giá mới chỉ tập trung vào việc giáo viên đánh giá học sinh, ít tạo điều kiện cho học sinh tự đánh giá mình và đánh giá lẫn nhau. Nhiều giáo viên ra đề kiểm tra với mục đích làm sao để chấm dễ, chấm nhanh nên kết quả đánh giá chưa khách quan. Một số ít giáo viên chưa nắm vững yêu cầu về kiểm tra đánh giá, việc kiểm tra đánh giá chủ yếu được tiến hành tự phát theo kinh nghiệm của từng người và cũng có một số giáo viên chưa bám sát mục tiêu môn học, chuẩn kiến thức, kỹ năng của chương trình. - Những năm gần đây, xu thế áp dụng hình thức kiểm tra trắc nghiệm phát triển khá mạnh trong các trường học, môn học. Hình thức kiểm tra này được giáo viên và học sinh hưởng ứng và áp dụng khá tích cực. Tuy nhiên, trong quá trình thực hiện đã bộc lộ nhiều bất cập, chưa cân đối giữa hình thức tự luận với trắc nghiệm, đa số là hình thức trắc nghiệm lựa chọn, có biểu hiện đơn điệu hoặc lạm dụng hình thức trắc nghiệm làm giảm hiệu quả đánh giá kiến thức của học sinh. Tất cả các giải pháp trên đều đã được các nhà quản lí giáo dục cũng như các thành viên hội đồng khoa học giáo dục có uy tín đưa ra, đồng thời bản thân tôi đã tiếp cận nguồn thông tin này nên không ngừng tìm hiểu học tập, nghiên cứu vấn đề đổi mới phương pháp dạy học và phương pháp kiểm tra đánh giá học sinh từ rất nhiều nguồn khác nhau ở các thế hệ có nhiều kinh nghiệm, Những bài viết phóng sự trên các báo, những đề tài nghiên cứu của các nhà quản lí giáo dục ...Từ đó đã mạnh dạn cải tiến, thay đổi cho phù hợp với đặc thù của học sinh để áp dụng vào các khối lớp học trong đó có khối lớp 11 do tôi đảm nhận trong các năm học qua Trang 4 và có được kết quả đánh giá thật sự chất lượng qua đề tài “Đổi mới kiểm tra đánh giá môn Tin Học lớp 11 tại trường THPT Sông Ray”. III. TỔ CHỨC THỰC HIỆN CÁC GIẢI PHÁP Kiến thức của bộ môn Tin Học lớp 11 thật sự khó khăn cho các học sinh ở vùng sâu, vùng xa như trường THPT Sông Ray vì chất lượng học sinh không đồng đều. Chính vì điều đó giáo viên phải hết sức có tâm huyết thì mới dành nhiều thời gian để tìm các giải pháp kiểm tra đánh giá được học sinh của mình. Muốn vậy giáo viên phải tạo điều kiện cho các em khả năng phát triển tư duy sáng tạo, rèn luyện tính độc lập, tính quy củ và tính kỷ luật đồng thời cũng phải áp dụng nhiều biện pháp kiểm tra đánh giá “đa dạng các hình thức”. Công việc chuẩn bị ra để kiểm tra học sinh sau khi kết thúc một mục, một chương hay một giai đoạn của giáo viên là hết sức quan trọng, cần phải đắn đo và lựa chọn các hình thức kiểm tra, nội dung kiểm tra sao cho phù hợp với các lớp, đồng thời phải đạt được những tiêu chí: Khách quan, tính chính xác, tính toàn diện, tính hệ thống, tính công khai, tính phát triển và tính công bằng, phân hóa được từng học sinh để từ đó sau khi đánh giá sẽ có biện pháp điều chỉnh phương pháp dạy học... Để việc kiểm tra đánh giá đạt hiệu quả cao thì tôi đã áp dụng các giải pháp sau đây: 1) Các giải pháp: - Thứ nhất: Khi nhận lớp giảng dạy ngay từ đầu năm học phải rà soát kiến thức của từng học sinh bằng nhiều cách khác nhau để có cái nhìn tổng quát về lớp đó. - Thứ hai: Chia các nhóm học sinh trong đó có đầy đủ những thành phần giỏi, khá, trung bình đến yếu và kém. - Thứ ba: Sau mỗi bài học có tổng kết kiến thức trọng tâm và cho câu hỏi để học sinh về nhà trả lời. - Thứ tư: Mỗi đầu giờ tranh thủ kiểm tra 2 đến 3 học sinh về kiến thức cũ đồng thời mời thêm một số học sinh khác ý kiến và nhận xét. Trang 5 - Thứ năm: GV cần ghi nhận khả năng tiếp thu bài học cũ đến đâu để trong tiết hôm đó cần nhắc lại nội dung gì cho học sinh nắm. - Thứ sáu: Đến khi kết thúc một dạng nào đó cần dành 10 – 15 phút để kiểm tra kiến thức chung theo từng nhóm (chú ý quan sát việc hoạt động của các nhóm) sau đó kiểm tra ngẫu nhiên thành viên nhóm bằng hình thức phỏng vấn nhanh tránh việc nhóm nhiều người nhưng chỉ có 1 đến 2 người làm việc. Sau đó ghi nhận chung vào sổ theo dõi cá nhân. - Thứ bảy: Đến kì theo phân phối chương trình (PPCT) thì thực hiện ra đề kiểm tra chung và kết hợp 2 hình thức chính là trắc nghiệm và tự luận. - Thứ tám: Cần tranh thủ chấm bài nhanh (bài 15 phút trả ngay vào tuần sau tuần làm bài; bài 45 phút tối đa sau 2 tuần làm bài) và dành 5 phút để lấy ý kiến về nội dung bài làm từ các học sinh, giải đáp thắc mắc cho học sinh đồng thời cũng là củng cố lại kiến thức. 2) Tổ chức thực hiện các giải pháp: - Thứ nhất: Sau khi nhận phân công chuyên môn giảng dạy các lớp, tiết đầu tiên tôi dành khoảng 15 phút để làm quen, giới thiệu tổng quát về nội dung chương trình Tin Học lớp 11. Sau đó đặt ra một số câu hỏi liên quan đến môn Tin Học để kiểm tra kiến thức chung của học sinh. * Ví dụ thực hiện: “Em hãy cho biết các kỹ sư phần mềm máy tính họ thường làm việc gì?”. Ở dạng câu hỏi này tôi thu được rất nhiều câu trả lời khác nhau từ sự hiểu biết nội dung từ bên ngoài trường của các em. Tiếp tục hỏi câu tiếp theo để ôn kiến thức lớp 10: “Để thực hiện được nhiệm vụ này, người kỹ sư đó họ cần phải có sự hỗ trợ của công cụ và kiến thức về lĩnh vực nào?”. Như vậy qua 2 câu hỏi ngắn này tôi đã nhận định sơ lược được kiến thức của tập thể lớp và một số em có kiến thức sâu, rộng của bộ môn. Khi những học sinh trả lời có ý hay và sáng tạo tôi đã tranh thủ ghi nhận vào sổ theo dõi từng lớp của cá nhân mình. Nhờ 2 câu hỏi này mà tạo được sự vận động nhiệt tình, sự thoải mái, tự tin cho từng học sinh trong lớp đồng thời gây được sự thân thiện, mạnh dạn giữa Trò – Thầy ngay từ buổi học đầu tiên. Từ đó học sinh cũng có thể nắm được khái niệm về lập trình. Trang 6 - Thứ hai: Căn cứ vào danh sách lớp do văn phòng nhà trường cung cấp, tiếp theo tôi xuống máy quản lý điểm của học sinh ghi nhận những học sinh có điểm bộ môn Tin học kì 1 lớp 10 từ 6.5 trở lên sau đó dành thời gian lên sơ đồ nhóm học tập trên lớp của học sinh, phân lớp thành 6 nhóm và những học sinh có điểm TB cao được chia đều ra 6 nhóm này (mục đích là để hoạt động theo nhóm cho suốt thời gian học). Vấn đề này làm ngay trong tuần đầu. Không liên quan đến sơ đồ lớp do giáo viên chủ nhiệm phân bổ. Sau đó yêu cầu mỗi nhóm bầu nhóm trưởng của mình xong rồi gửi danh sách nhóm cho giáo viên, giáo viên giữ danh sách này để ghi nhận khi kiểm tra đánh giá học sinh trong suốt năm học và làm căn cứ để lấy điểm vào sổ điểm chính. - Thứ ba: Khi đã vào chương trình học rồi, sau mỗi tiết dạy tôi dành 5 phút, nếu 2 tiết dành 10 phút (vì học kì 1 học 2 tiết/ tuần, học kì 2 học 1 tiết/ tuần) để củng cố và ra câu hỏi về nhà cho học sinh. Như vậy đầu giờ kiểm tra bài cũ 5 phút, củng cố bài học 5 phút thì nội dung chỉ còn 35 phút. Điều này nếu giáo viên mới, hoặc là giáo viên chưa có kinh nghiệm chắc chắn sẽ khó có thể đáp ứng được nội dung yêu cầu của bài. - Thứ tư: Bất kể là bài cũ khó hay dễ, lý thuyết hay bài tập thì đầu giờ vẫn cần phải kiểm tra, nếu tiết trước là kiểm tra viết 15 hay 45 phút thì càng phải kiểm tra lại xem những gì học sinh thể hiện trong bài làm có thực sự là của mình hay không, chỉ cần trích một nội dung đơn giản để đặt câu hỏi. Nên tránh việc đặt câu hỏi theo hình thức học thuộc lòng bài cũ, chỉ dùng những câu hỏi mang tính gợi nhớ, tư duy và trọng tâm của bài đã học. Lưu ý là trước khi giáo viên kết luận thì gọi học sinh khác đánh giá câu trả lời của học sinh ở trên bảng. Sau đó giáo viên rút và nhắc lại kiến thức. Như vậy là đánh giá được khả năng tiếp nhận kiến thức của học sinh về bài cũ hoặc bài kiểm tra trước đó rồi. * Ví dụ thực hiện 1: (Kiểm tra bài cũ theo cá nhân) Sau khi học xong tiết 1 bài 1, ngay đầu giờ tiết 2 ta vẫn cần kiểm tra lại kiến thức của bài 1 bằng cách gọi học sinh đứng tại chỗ trả lời câu hỏi như: “Em hãy phân biệt trình thông dịch với trình biên dịch”. Sau đó gọi một số học sinh khác đánh giá, nhận xét sau đó giáo Trang 7 viên mới kết luận và có thể lấy điểm làm điểm miệng cho học sinh này. Tiếp tục với câu hỏi khác nối tiếp như “chương trình dịch đóng vài trò gì trong lập trình?”... * Ví dụ thực hiện 2: Sau khi học hết bài 1 & 2 Ta phải dành 10 phút củng cố bằng cách tổng hợp các kiến thức trọng tâm lên góc bảng bên phải đó là ở bài 1 cần nắm được 3 ý sau: - Người lập trình cần phải biết làm gì; - Con người sử dụng ngôn ngữ bậc cao, nhưng cần có chương trình để dịch sang ngôn ngữ máy; - Có 2 loại chương trình dịch đó là thông dịch và biên dịch. Ở bài 2 cần nắm được: - Các thành phần của ngôn ngữ lập trình (bảng chữ cái, cú pháp, ngữ nghĩa); - Các loại tên được dùng trong chương trình (tên dành riêng, tên chuẩn, tên do người lập trình đặt); - Các loại hằng (hằng số, hằng logic, hằng xâu) và biến sử dụng trong ngôn ngữ lập trình. Dặn học sinh về nhà học bài theo những nội dung này tiết sau kiểm tra và đúng đầu giờ sau dành 15 phút ra câu hỏi và kiểm tra riêng cho mỗi nhóm; nội dung đều nằm trong phần củng cố; kiểm tra theo hình thức nhóm thảo luận nhưng không xem tài liệu rồi viết vào giấy nộp cho giáo viên. Giáo viên ghi nhận kết quả cho mỗi nhóm, đồng thời giải đáp những thắc mắc của học sinh (nếu có). Riêng phần điểm kiểm tra này giáo viên cộng với điểm kiểm tra viết cá nhân từng đợt trong khung thời gian của tổ và phần kiểm tra định kì của nhà trường cho học sinh sau đó tính trung bình để lấy điểm chính thức. - Thứ năm: Sau khi kiểm tra bài cũ của học sinh, giáo viên đã nắm bắt được khả năng từ học sinh rồi tranh thủ nhắc lại những nội dung trọng tâm của bài để học sinh nắm chắc đồng thời dựa vào đó để điều chỉnh phương pháp dạy học. - Thứ sáu: Ngoài việc kiểm tra thường xuyên theo đúng thời gian quy định của Tổ (kiểm tra 15 phút) và theo phân phối chương trình (PPCT) của Sở giáo dục – Đào tạo cũng như của trường (kiểm tra định kì 45 phút) trong quá trình giảng dạy khi kết thúc dạng, một chương, một mảng... cần phải dành khoảng 30 phút kiểm tra lại những kiến thức trọng tâm đã truyền đạt cho học sinh. * Ví dụ thực hiện: Sau khi kết thúc chương 2; từ bài 3 đến bài 8, cần dành thời gian tổng kết chương và kiểm tra đồng loạt 3 hình thức đó là kiểm tra viết, kiểm tra thực hành và cho bài tập theo nhóm, các nhóm làm xong nộp lại kết quả Trang 8 cho giáo viên, giáo viên lại đưa kết quả này cho các nhóm phân tích chéo bài làm của nhau ở phía dưới. Phần tổng kết chương gồm các nội dung trọng tâm sau: - Sơ đồ tổng quát của một chương trình trong đó có các khai báo (tên chương trình, thư viện, hằng, biến (đã có khi dạy); - Viết một khai báo hằng và một khai báo biến theo cú pháp của ngôn ngữ lập trình Pascal với 1 kiểu dữ liệu đã học và giải thích lại các thông số cho học sinh nắm chắc; - Ví dụ về các phép toán, biểu thức, hàm...và cách gán biểu thức cho biến; - Giới thiệu cách viết thục tục nhập dữ liệu vào từ bàn phím đồng thời giải thích lại sự khác nhau giữa giá trị của biến khi gán trong chương trình với giá trị của biến khi được nhập từ bàn phím và thủ tục xuất kết quả ra màn hình. Riêng phần bài tập cho làm trước theo nhóm ta có thể cho học sinh thời gian 20 phút trong 1 tiết bài tập (chia ra 10 phút nhóm tự làm, 10 phút chấm chéo) rồi nộp lại và giáo viên ghi nhận kết quả để lấy điểm trung bình với các lần khác cho điểm miệng. Cách lấy điểm đó là chấm cả 2 bài (1 tự làm + 1 chấm chéo bài của nhóm kia) sau đó cộng lại chia 2 rồi lấy điểm cụ thể cho nhóm đó. (học sinh không xem tài liệu khi làm bài) * Ví dụ thực hiện: + Nhóm 1: Phân tích sự khác nhau giữa trình thông dịch với trình biên dịch + Nhóm 2: Trong ngôn ngữ lập trình Pascal có các loại tên nào. Cho biết cách viết của hằng số và hằng xâu và lấy 2 ví dụ ứng với mỗi loại. + Nhóm 3: Viết cấu trúc tổng quát của 1 chương trình có đầy đủ 2 phần + Nhóm 4: Nêu các kiểu thuộc kiểu dữ liệu nguyên và cho biết bộ nhớ lưu trữ cũng như phạm vi giá trị mỗi kiểu. + Nhóm 5: Viết 3 khai báo biến khác nhau về kiểu dữ liệu và cho biết tổng số bộ nhớ cấp cho các biến ở 3 khai báo đó. + Nhóm 6: Sử dụng các hàm và biểu thức logic để viết câu lệnh tương ứng cho các biểu thức sau: Trang 9 a) y  (a 2  b2 )  a 2  b2 b) 10  x và 20  x Sau 10 phút giáo viên thu lại và chuyển chéo cho các nhóm để chấm lẫn nhau. Còn lại cho thực hiện kiểm tra giáo viên thực hiện 2 dạng thực hành trên máy và viết. Kiểm tra thực hành ta cho học sinh làm theo nhóm tại phòng thực hành với ví dụ cụ thể để áp dụng các nội dung đã học phần này giáo viên cho học sinh làm trước khi kiểm tra viết trên lớp để tạo được sự hứng thú, kích thích sự tìm tòi cũng như học tập qua bạn mình điều này sẽ giúp học sinh nhớ lâu. Khi kiểm tra viết thì thực hiện riêng rừng cá nhân và học sinh sẽ tự lấy ví dụ làm sao đừng trùng với bài thực hành và giống bài viết của bạn khác là đạt yêu cầu. Giáo viên ghi nhận 2 bài kiểm tra này và lấy kết quả điểm là trung bình cộng. Thứ bảy: Đến thời điểm kiểm tra định kỳ giáo viên cần cho học sinh thực hiện với 2 nội dung là trắc nghiệm và tự luận. Trắc nghiệm sẽ gợi nhớ kiến thức tổng hợp cho học sinh còn tự luận tạo cho sự tư duy được phát triển đồng thời thể hiện được sự khác biệt của mỗi học sinh. Để thực hiện được thì giáo viên phải đầu tư rất nhiều về thời gian cho soạn câu hỏi, vì đề kiểm tra phải rõ ý, chính xác, phải có tính phân hóa và dành thời gian chấm bài sao cho kịp theo quy định, điều này giúp giáo viên sớm có kết quả và điều chỉnh phương pháp giảng dạy. Thậm chí nếu có vấn đề gì ta vẫn còn thời gian cho kiểm tra lại. * Ví dụ thực hiện: (Tôi xin trích phần nội dung của đề cho ngắn gọn) ĐỀ KIỂM TRA 45 PHÚT LẦN 1-HỌC KÌ 1-LỚP 11 I/ Phần câu hỏi trắc nghiệm:(7.5 điểm) Câu 1: Cho biết kết quả của biểu thức sau: 6/3 + 2 div 3 A. 2 B. 3 C. 4 D. 5 Câu 2: Trong NNLT Pascal khai báo nào sai? A. Program 1_vi_du; B. Program vi du; C. Progam vidu; D. Câu A và B sai. Câu 3: Trong ngôn ngữ lập trình, hằng có dạng: Trang 10 A. Hằng số học B. Hằng Xâu C. Hằng logic D. Tất cả đều đúng. Câu 4: Cho biết kết quả của biểu thức sau: (18+12< 29) or (25 div 4 >=1) A. 1 B. 6 C. False D. True Câu 5: Cho biết giá trị của biến X khi thực hiện xong lệnh gán: X:=14 div 5 +2; A. 4 B. 6 C. 0 D. 14 C. Alt+F D. Ctrl+F3 Câu 6: Để đóng cửa sổ tệp tin của Pascal : A. Alt+F4 B. Alt+F3 Câu 7: Từ nào trong các từ dưới đây dùng để khai báo hằng? A. Type B. Uses C. Const D. Var Câu 8: Cho biết Kết quả xuất ra màn hình của các câu lệnh trong chương trình sau: a:=11; Write(‘hoc sinh lop ’ , a); A. hoc sinh lop a B. 11 C. hoc sinh lop D. hoc sinh lop 11 Câu 9: Để tính điểm trung bình cho từng học sinh ta dùng kiểu dữ liệu nào: A. Longint B. Byte C. Real D. Word. Câu 10: Trong ngôn ngữ Pascal để chú thích, ta sử dụng cặp dấu: A. /* … */ B. Câu C và D đều đúng; C. (* … *) D. { … } Câu 11: Câu lệnh gán nào đúng: A. b=x+a; B. x;=a+b; C. a:= x+b; D. a+b:=x; Câu 12: Thủ tục Read hay Readln dùng để: A. Nhập dữ liệu từ bàn phím B. Gán giá trị cho biến C. Hiển thị kết quả ra màn hình D. Tất cả đều sai Câu 13: Để lưu chương trình vào bộ nhớ ngoài, sử dụng phím chức năng: A. F2 B. F1 C. F3 D. F4 Câu 14: Khai báo hằng nào sai trong Pascal: A. Const a=2,1; B. Const a: 2.1; C. Const a ; D. Tất cả đều sai. Câu 15: Để nhập dữ liệu ta dùng thủ tục nào: A. Tất cả đều đúng B. Real(danh sách biến) C. Readln(danh sách biến) D. Readln(danh sách các giá trị) Câu 16: Cho biết kết quả của biểu thức sau:10*((45 mod 3)+12)/6 Trang 11 A. 0 B. 27 C. 20 D. 45 Câu 17: Giá trị 109.21 nhận kiểu dữ liệu nào trong các kiểu dữ liệu sau A. Integer B. Longint C. Word D. Real Câu 18: Phạm vi giá trị của kiểu dữ liệu Integer là A. 0 đến 255 B. -215 đến 215 -1 C. 0 đến 216 – 1 D. 0 đến 215 Câu 19: Kiểu dữ liệu nào sau đây trong Pascal chỉ có hai giá trị true (đúng) và false (sai)? A. Kiểu lôgic B. Kiểu thực C. Kiểu nguyên D. Kiểu ký tự Câu 20: Cho câu lệnh Writeln (x:7:3) thì độ rộng của biểu diễn là A. 3 B. 7 C. 10 D. 4 Câu 21: Trong các khai báo biến sau, khai báo nào là chính xác A Var x;y:Byte; B Var x,y: Interger; C Var x,y: Longint; D Var: x,y:Byte; Câu 22: Trong Pascal cấu trúc khai báo biến A. Var : B. Var :: C. Var : D. Var : Câu 23: Câu lệnh rẽ nhánh có A. 4 dạng B. 1 dạng C. 3 dạng D. 2 dạng Câu 24: Phải sửa bao nhiêu lỗi để chương trình sau thực hiện được trên máy Program vidu; Uses Crt Var x,y,z Integer; Begin Clrscr; Write(‘nhap x,y:’); Readln(x,y); Z: x+y; Writeln(‘tong z là:’, z); Readln End. Trang 12 A. 2 lỗi B. 3 lỗi C. 4 lỗi D. 5 lỗi Câu 25: Để nhập giá trị từ bàn phím và xuất câu thông báo cho biến M ta dùng cặp thủ tục: (1) Write (‘nhap M’); (2) Readln(M); (3) Writeln(M); (4) Realn(M) A. (1) - (4) B. (3) - (1) C. (2) - (3) D. (3) - (4). Câu 26: Xét chương trình sau Var s,i,n: Integer; Begin Write(‘nhap n:’); readln(n); S:=0; For i:=1 to n do s:= s+i; Writeln(‘tong s la:’, s:6); Readln End. Với n=4 thì kết quả thực hiện chương trình là: A. 104 B. 110 C. 100 D. 10 Câu 27: Cho đoạn chương trình Begin x:= a; If a < b then x:= b; End. Cho a = 20, b = 15 thì kết quả của x = ? A. 20 B. 10 C. 5 D. 35 Câu 28: Trong những từ dưới đây từ nào không phải là từ khoá trong Pascal A. End B. Real C. Uses D. Var Câu 29: Trong các tên dưới đây tên nào sai theo quy ước A. Tong B. Bai_tap C. Bai-tap D. Tinhtong Câu 30: Xét biểu thức logic ((n mod 100 < 10) and (n div 100 > 0)) với giá trị nào của n dưới dây biểu thức cho giá trị True A. 99 B. 2000 C. 116 D. 2008 Trang 13 II/ Phần tự luận:(2.5 điểm) A- Phần dành cho ban KHTN: Sử dụng ngôn ngữ lập trình Pascal để viết đoạn chương trình thực hiện bài toán tính tổng sau đây 100 y i 1 i i 2 B- Phần dành cho ban cơ bản Sử dụng ngôn ngữ lập trình Pascal để Viết đoạn chương trình thực hiện câu lệnh rẽ nhánh sau: Nếu a2+b2 <= 1 thì gán y = a2+b2 Nếu a2+b2 >1 và b < a thì gán y = a + b Nếu a2+b2 >1 và b > = a thì gán y = 1/ 2. - Thứ tám: Bước này chấm bài nhanh và trả đúng vào tiết sau là tốt nhất đồng thời dành thời gian cho các học sinh xem lại nội dung bài làm của mình để còn gì vước mắc thì phát biểu, hỏi để giáo viên giải đáp. Có nhiều cách làm khác nhau có thể có một số học sinh có tư duy tốt sẽ làm cách tối ưu nên giáo viên sẽ lấy bài đó làm mẫu ghi lên bảng, sau đó hỏi lại một số học sinh khác đánh giá về bài đó xem thế nào. Nếu không có học sinh nào có cách tối ưu thì giáo viên lấy 1 mẫu bài làm trung bình ghi lên bảng đồng thời cũng ghi lên bảng cách tối ưu cùng song hành với cách của học sinh rồi giải thích để học sinh so sách được 2 cách này như thế nào. Trang 14 * Ví dụ thực hiện: ở đây tôi xin lấy bài của ban cơ bản làm dẫn chứng và xin lấy 2 cách làm cơ bản nhất ghi lên bảng như sau: Cách thông thường của nhiều học sinh Var a, b, y: real; Begin Readln(a,b); If a*a + b*b <= 1 then y:= a*a+b*b; If (a*a + b*b > 1) and (b < a) then y := a+b; If (a*a + b*b > 1) and (b >= a) then y := 0.5; Writeln(y); End. Cách ngắn gọn của học sinh khá giỏi Var a, b, y: real; Begin Readln(a,b); If a*a + b*b <= 1 then y:= a*a+b*b Else (b - Xem thêm -