Tài liệu Tổ chức cho học sinh làm phiếu học tập trong dạy học toán thcs

  • Số trang: 22 |
  • Loại file: DOC |
  • Lượt xem: 800 |
  • Lượt tải: 0

Mô tả:

PHÒNG GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠOVỊ HUYỆN THỦY (TÊN CƠ QUAN, ĐƠN CHỦGIAO QUẢN) TRƯỜNG TRUNG ÁP HỌCDỤNG CƠ SỞ SÁNG GIAO TIẾN (TÊN CƠ QUAN KIẾN) BÁO CÁO SÁNG KIẾN BÁO CÁO SÁNG KIẾN (Tên sáng kiến) TỔ CHỨC CHO HỌC SINH LÀM PHIẾU HỌC TẬP TRONG DẠY HỌC TOÁN THCS Tác giả: Nguyễn Thị Nga Tác giả:.................................................................. Chức vụ: Phó hiệu trưởng . Nơi công tác: THCS Giao Tiến Trình độ chuyên môn:........................................... Chức vụ:................................................................. Trình độ chuyên môn: ĐHSP Toán Nơi công tác:................................................................... Nam Định, ngày 20 tháng 3 năm 2015 THÔNG TIN CHUNG VỀ SÁNG KIẾN 1. Tên sáng kiến: TỔ CHỨC CHO HỌC SINH LÀM PHIẾU HỌC TẬP TRONG DẠY HỌC TOÁN THCS 2. Lĩnh vực áp dụng sáng kiến: T O Á N H Ọ C 3. Thời gian áp dụng sáng kiến: Từ ngày 01 tháng 9 năm 2010 đến nay 4. Tác giả: Họ và tên: Nguyễn Thị Nga Năm sinh: 1981 Nơi thường trú: Xã Giao Tiến, huyện Giao Thủy, tỉnh Nam Định. Trình độ chuyên môn: ĐHSP Toán Chức vụ công tác: Phó hiệu trưởng Nơi làm việc: Trường THCS Giao Tiến Điện thoại: 0918 584 838 Tỷ lệ đóng góp tạo ra sáng kiến: 100% 5. Đơn vị áp dụng sáng kiến: Tên đơn vị: Trường THCS Giao Tiến Địa chỉ: Giao Tiến- Giao Thủy- Nam Định Điện thoại: 03503 895 800 BÁO CÁO SÁNG KIẾN I. ĐIỀU KIỆN, HOÀN CẢNH TẠO RA SÁNG KIẾN. Xuất phát từ mục tiêu cấp học, mục tiêu môn học, định hướng chung về dạy học môn toán THCS trong giai đoạn mới là: Đổi mới phương pháp dạy học theo hướng đảm bảo chuẩn kiến thức, kỹ năng, chú trọng phát triển năng lực của học sinh, phân hóa học sinh. Tích cực đổi mới kiểm tra đánh giá, chuyển dần từ kiểm tra đánh giá theo chuẩn kiến thức kỹ năng sang hình thức đánh giá năng lực học sinh. Trong định hướng dạy học này, giáo viên là người thiết kế, tổ chức hướng dẫn, điều khiển học sinh học tập và giáo viên là người giữ vai trò chủ đạo, còn học sinh là chủ thể nhận thức, biết cách tự học, tự rèn luyện từ đó hình thành phát triển nhân cách và các năng lực cần thiết của con người lao động mới đã đề ra. Để đạt được điều đó, giáo viên phải là người thiết kế, sáng tạo các hình thức tổ chức dạy học sao cho linh hoạt phù hợp với từng bài, từng nội dung kiến thức, phù hợp với từng đối tượng học sinh trong đó có việc tổ chức cho học sinh làm phiếu học tập. Vậy tổ chức cho học sinh làm phiếu học tập như thế nào để đạt hiệu quả cao nhất ? Qua trực tiếp giảng dạy môn toán, qua dự giờ thăm lớp các đồng nghiệp tôi nhận thấy, giáo viên cũng đã tổ chức cho học sinh làm phiếu học tập để củng cố kiến thức và phát hiện ra kiến thức mới song bên cạnh đó còn những tồn tại sau: - Giáo viên chưa định hướng rõ khi nào thì nên dùng phiếu và lựa chọn nội dung phiếu học tập chưa phù hợp nên chưa phát huy hết được tác dụng và ý nghĩa của việc dùng phiếu học tập . - Cách tiến hành tổ chức cho học sinh làm phiếu học tập chưa hợp lý nhiều khi mang tính hình thức dẫn đến hiệu quả không cao. Chính vì những lý do trên, tôi đã đi vào nghiên cứu để tìm ra nội dung và cách thức tổ chức cho học sinh làm phiếu học tập với mục đích giúp cho bản thân tôi và đồng nghiệp lựa chọn những nội dung và cách tiến hành làm phiếu học tập trong dạy Toán để đạt hiệu quả . II. MÔ TẢ GIẢI PHÁP 1. Mô tả giải pháp trước khi tạo ra sáng kiến Qua thực tế cho thấy, nhiều học sinh khả năng ghi nhớ kiến thức, vận dụng kiến thức để làm bài chưa tốt. Nếu không được củng cố một cách chi tiết và có hệ thống thì kỹ năng làm bài của các em không đạt hiệu quả, thậm chí nhầm kiến thức. Bên cạnh đó, việc hình thành kiến thức mới, rèn luyện kỹ năng làm bài, rèn luyện các thao tác tư duy cho học sinh cũng vô cùng quan trọng. Qua nghiên cứu tôi nhận thấy, một trong những phương pháp đơn giản nhưng có tác dụng rất lớn đối với học sinh để học sinh chủ động lĩnh hội kiến thức, độc lập vận dụng kiến thức để làm bài tập, rèn luyện được kỹ năng làm bài… đó là phương pháp dùng phiếu học tập. 2. Mô tả giải pháp sau khi có sáng kiến: Phiếu học tập cá nhân được dùng nhằm mục đích: củng cố và kiểm tra kiến thức của học sinh. Bên cạnh đó phiếu học tập còn có tác dụng giúp học sinh tìm ra kiến thức mới ở mức độ đơn giản, cá nhân học sinh có thể tự giải quyết được. Ngoài ra, phiếu học tập còn dùng để rèn luyện, để tập dượt cho học sinh một kỹ năng, một thao tác hoặc để thăm dò một thái độ của học sinh trước một vấn đề. Khi tổ chức cho học sinh làm phiếu học tập tôi đã thực hiện theo những bước sau: - Lựa chọn nội dung cho học sinh làm phiếu học tập. - Lựa chọn cách thức tổ chức và thời điểm làm phiếu học tập. 2.1. Lựa chọn nội dung cho học sinh làm phiếu học tập. a. Nội dung làm phiếu học tập nhằm củng cố, kiểm tra kiến thức Sau khi dạy xong một đơn vị kiến thức hoặc trước khi dạy một đơn vị kiến thức, muốn củng cố kiến thức vừa học hoặc kiểm tra kiến thức cũ thì giáo viên có thể tung ra phiếu học tập. Ví dụ 1: Bài hình bình hành trong chương trình hình học lớp 8 rất quan trọng. Để củng cố định nghĩa, các tính chất và dấu hiệu nhận biết của hình bình hành tôi đã cho học sinh làm 2 phiếu học tập: Phiếu 1: Cho hình bình hành MNPQ như hình vẽ. Hãy điền nội dung thích hợp vào dấu (…) để hoàn thành các khẳng định sau: + MN // ……..; ……….//……… + ……… = ; = ……. + ……… = QP; ………= MQ + MI = ……….; …….. = IN Phiếu này học sinh sẽ được làm ngay sau khi học xong tính chất của hình bình hành. Qua phiếu này, học sinh biết vận dụng định nghĩa, tính chất của hình bình hành đồng thời học sinh khái quát được: Cho hình bình hành thì suy ra được: Các cạnh đối song song và bằng nhau, các góc đối bằng nhau, hai đường chéo cắt nhau tại trung điểm của mỗi đường. Phiếu 2: Trong các tứ giác sau tứ giác nào là hình bình hành? 750 1100 700 1000 O 800 P S R Phiếu này giáo viên cho học sinh làm cá nhân sau khi học xong dấu hiệu nhận biết. Học sinh phải biết vận dụng dấu hiệu nhận biết tứ giác là hình bình hành và giải thích. Hình thức này vừa củng cố được dấu hiệu vừa rèn được ngôn ngữ nói cho học sinh. Ví dụ 2: Bài phương trình bậc nhất và cách giải- Đại số 8. Tuy học sinh nắm được dạng của phương trình bậc nhất một ẩn và 2 phép biến đổi phương trình nhưng khi vận dụng vào làm bài tập cụ thể thì thường hay lúng túng. Khi dạy bài này tôi cũng dùng phiếu học tập dạng lựa chọn đáp án để củng cố cho học sinh. 1) Trong các phương trình sau đây phương trình nào là phương trình bậc nhất một ẩn? A. x -1 = x + 2 C. x + 2y = 0 B. (x – 1)(x - 2) = 0 D. 2x + 1 = 3x + 5 2) Cặp phương trình nào sau đây không tương đương? A. 3x = 9 và x – 3 = 0 B. x + 3 = 4x – 2 và 0,5(x + 3) = 2x – 1 C. 2x – 1 = 2 và x(2x - 1) = 2x D. (x - 4)(x2 + 1) = 0 và x – 4 = 0 Phiếu trên có tác dụng rất lớn trong việc củng cố kiến thức cho học sinh đồng thời giúp học sinh tránh được những sai sót dễ mắc phải: Phương trình có hệ số a = 0, phương trình có hai ẩn hoặc một ẩn nhưng bậc của ẩn lại lớn hơn 1 thì đều không phải là phương trình bậc nhất một ẩn; khi nhân hoặc chia cả hai vế của một phương trình với cùng một biểu chứa ẩn thì ta được một phương trình mới có thể không tương đương với phương trình đã cho. Phiếu học tập còn dùng để kiểm tra một khối lượng kiến thức lớn có tính tổng hợp trong một khoảng thời gian ngắn. Ví dụ 3: Khi dạy bài rút gọn biểu thức chứa căn thức bậc hai - Toán 9, tôi cho học sinh làm phiếu sau : Điền vào chỗ (…) để hoàn thành các công thức sau: 1) A2  ........................... 2) A.B  ...................., với A.........., B............... 3) 4) 5) 6) A  ................... , với A.........., B............... B A2 B  ......... B , với B.................... A AB  , với A.B............, B................... B ......... C C (...................)  , với………………………….. A B A B Bài tập: Cho hình vẽ. Hãy điền nội dung thích hợp vào các nhánh và bổ sung các nhánh (nếu cần) để hoàn thành bản đồ tư duy sau: Hoàn thành phiếu học tập trên, học sinh có cái nhìn khái quát về các phép biến đổi căn thức bậc hai, từ đó biết vận dụng linh hoạt vào dạng toán rút gọn biểu thức chứa căn thức bậc hai. Ví dụ 4: Khi dạy bài ôn tập chương I Hình học lớp 9, tôi tiến hành phát phiếu cho học sinh dưới dạng bản đồ tư duy mở sau : Có thể nói dạy học bằng bản đồ tư duy là một phương pháp dạy học mới mang lại hiệu quả rất tốt trong việc khắc ghi kiến thức cho học sinh. Dùng bản đồ tư duy dưới dạng điền khuyết vừa rút ngắn được thời gian ôn lý thuyết, vừa giúp học sinh có cái nhìn khái quát, trực quan, dễ nhớ, nhớ lâu từ đó học sinh biết vận dụng kiến thức vào làm bài tập. Phiếu này học sinh có thể giữ lại làm tư liệu học tập cho mình, có những em còn tự vẽ cho mình một bản đồ tư duy theo ý thích cá nhân trong thời gian ôn tập ở nhà. 1)Vẽ tam giác đo 3 góc củathành tam giác đó rồi tínhmới tổng số b. Nội dung phiếu họcbất tậpkỳ,nhằm hình kiến thức đo của 3 góc đó. Có nhận xét gì về kết quả trên? 2) nội Lấy dung một tấm bìa hìnhgặp tamnhằm giác ABC. rờisinh góc Bphát và góc C ra Đây là thường giúpCắt học hiện ra rồi đặt chúng kề với góc A. Hãy nêu dự đoán về tổng 3 góc A, B, C kiến thức mới của tam giácnhưng ABC ? ở mức độ đơn giản mà cá nhân học sinh có thể tự giải3)quyết được. Mứcđểđộ yêuminh cầuđịnh đốilí với phiếu Điền vào chỗ trống chứng “ Tổng ba góchọc của tập tamhiện giác bằng 1800thức ” nhằmmột phát ra kiến mới thường là một thử nghiệm bằng các thao tác, quan sát, đo đạc, cắt ghép… từ đó phát hiện ra một vấn đề. Ví dụ 1: Khi dạy chứng minh định lý tổng 3 góc của một tam giác- Toán 7 tôi đã cho học sinh làm phiếu với các hoạt động thành phần sau: Chứng minh Qua A kẻ đường thẳng xy// BC (Hình 2) � =� B xAB vì …………………………………..……….…………… � = yAC � C vì ………………………………….……….……………. � +� Suy ra, A B +� C = ……………..……..………………………….….. * Giải thích các hoạt động trên. Hoạt động 1 là một thử nghiệm nhằm phát hiện ra định lí phải chứng minh. Hoạt động 2 cũng là một thử nghiệm bằng các thao tác vẽ, cắt ghép có tác dụng gợi ý cho việc chứng minh (gợi ý kẻ đường thẳng xy// BC). Hoạt động 3 là gợi ý để học sinh tự lực chứng minh định lí. Có nhiều cách gợi ý khác nhau và điền vào chỗ trống là dễ thực hiện nhất đối với học sinh. Phiếu học tập trên tuỳ theo từng đối tượng học sinh mà tôi có thể cho học sinh làm cá nhân hoặc nhóm nhỏ, qua đó học sinh phát hiện ra và chứng minh được định lí tổng 3 góc của một tam giác bằng 1800. � � � ? ”- Toán 6, tôi yOz  xOz Ví dụ 2: Khi dạy bài “khi nào thì xOy cũng cho học sinh làm phiếu học tập với các thao tác sau: 1) Vẽ góc xOy và tia Oy nằm giữa hai cạnh của góc xOz. � � � 2) Đo các góc có trong hình và so sánh xOy yOz với xOz 3) Qua kết quả trên rút ra nhận xét gì? Sau khi tiến hành các thao tác vẽ, đo và so sánh, học sinh rút ra nhận xét: “ Nếu tia Oy nằm giữa hai tia Ox và Oz thì � � � . xOy yOz  xOz Ví dụ 3: Ở tiểu học, học sinh đã học phân số bằng nhau nhưng chỉ đối với phân số có tử, mẫu là các số tự nhiên. Lên lớp 6 học sinh đã được học phân số mà tử, mẫu là các số nguyên, để a c giúp học sinh hiểu bản chất khi nào b  d tôi đã tiến hành cho học sinh làm phiếu học tập sau. 1) Lấy ví dụ về hai phân số bằng nhau. So sánh các tích của tử phân số này với các mẫu của phân số kia. 2) Lấy ví dụ về hai phân số không bằng nhau. Có nhận xét gì về các tích trên? 3) Qua các ví dụ trên em có nhận xét gì? Một ví dụ về kết quả: 2 4 1) 5  10 ta có 2.10 = 4.5( = 20) 1 2  3 6 2 1 ≠ 3 5 ta có 1.6 = 2.5( = 6) 2) ta có 2.5 ≠1.3 3) Các nhận xét : - Với hai phân số bằng nhau thì tích của tử phân số này với mẫu phân số kia bằng tích của mẫu phân số này với tử của phân số kia. - Với hai phân số không bằng nhau thì tích trên không bằng nhau. Từ đó giáo viên hình thành định nghĩa : a c  nếu a.d = b.c (a,b,c,d  Z, b, d ≠ 0). b d Trong quá trình hình thành kiến thức mới cho học sinh, việc sử dụng phiếu học tập dưới dạng bản đồ tư duy tôi thấy hiệu quả rất tốt. Qua đó đã hình thành cho học sinh năng lực tự học, tư duy sáng tạo, khả năng ghi nhớ nhanh và vận dụng làm bài tập rất tốt. Ví dụ 4: Bài “tính chất của phép cộng các số nguyên” - Toán 6 Đặc điểm của bài này là học sinh đã biết quy tắc cộng 2 số nguyên cùng dấu, khác dấu và tính chất của phép cộng các số tự nhiên. Vì vậy, vào đầu tiết học, có thể gợi ý cho học sinh vẽ bản đồ tư duy về các tính chất của phép cộng số tự nhiên (đã học). Sau khi vẽ xong bản đồ tư duy đối với số tự nhiên, giáo viên gợi ý cho học sinh vẽ thêm nhánh và lấy ví dụ tương tự đối với số nguyên. Giáo viên đặt câu hỏi các tính chất trên có đúng với phép cộng các số nguyên hay không, từ đó dẫn đến kiến thức bài mới. Giáo viên có thể giao việc cho học sinh dưới dạng phiếu học tập một số bản đồ tư duy chưa đầy đủ để học sinh vẽ tiếp, viết tiếp lên đó hoặc cũng có thể vẽ lên bìa, hay bảng cho các nhóm hoàn thiện. Ví dụ 5: Bài “lũy thừa của một số hữu tỷ”- Toán 7. Đặc điểm của bài này là học sinh đã học về lũy thừa với số mũ tự nhiên từ lớp 6, vì vậy có thể đưa ra bản đồ tư duy thiếu nội dung hoặc thiếu nhánh cho học sinh hoàn thiện tiếp như hình sau: c. Nội dung phiếu học tập nhằm rèn luyện và hình thành kỹ năng giải toán cho học sinh. Ví dụ 1: Khi dạy bài nhân đa thức với đa thức (Toán 8) để hình thành cho học sinh kĩ năng tính nhẩm tôi đã cho học sinh làm phiếu sau: Cho hai số tự nhiên có 2 chữ số ab và ac trong đó b + c = 10 + Hãy chứng minh. ab . ac = 100(a + 1) + bc + Từ đó rút ra cách tính nhẩm phép nhân hai số tự nhiên có hai chữ số mà chữ số hàng chục bằng nhau còn chữ số hàng đơn vị có tổng bằng 10 Kết quả: Biến đổi vế trái ab . ac = (10a + b)(10a + c) = 100a2+ 10 ac + 10ab + bc = 100a2 +10a(b + c) + bc = 100a2 + 100a + bc = 100a(a + 1) + bc = VP Vậy ab . ac = 100(a+1) + bc Cách tính nhẩm: Muốn nhân ab với ac trong đó b + c = 10, ta viết tích a(a + 1) rồi viết thêm tích bc vào sau Áp dụng 84.86 =? ; 27.23 = ? ; 38.32 = ? Cách nhẩm 8.(8+1) = 72; 4.6 = 24 . Vậy 84.86 = 7224 Tương tự 27.23 = 621 ; 38.32 = 1216 Ví dụ 2: Khi học về đồ thị của hàm số y = ax (a ≠ 0), để củng cố kỹ năng vẽ đồ thị cho học sinh, tôi đưa ra bài toán sau: Bài toán: + Vẽ trên cùng một hệ trục toạ độ Oxy đồ thị của các hàm số sau : a) y = x; b) y = 3x; c) y = -2x; d) y = -x + Đồ thị của hàm số y = ax nằm ở góc phần tư nào của mặt phẳng toạ độ Oxy nếu : *a>0 *a<0 Qua bài toán trên học sinh sẽ xác định được vị trí của đồ thị hàm số y = ax khi cho a các giá trị cụ thể và sau này khi gặp các bài toán vẽ đồ thị , học sinh sẽ vận dụng để có những định hướng khi vẽ đồ thị sao cho chính xác. Ví dụ 3: Khi dạy học về định lý Pytago , tôi đã đưa ra bài toán sau . “Cho tam giác ABC có AB =8, AC = 17, BC = 15. Để xét xem ABC có là tam giác vuông hay không, bạn An đã làm như sau: Ta có AB2 +AC2 = 82 + 172 = 64 + 289 = 353 BC2 = 152 = 225 Vì 353 ≠ 225 nên AB2 +AC2 ≠ BC2 Do đó, tam giác ABC không phải là tam giác vuông” Hãy cho biết bạn An giải đúng hay sai? Nếu sai hãy sửa lại cho đúng. Học sinh phát hiện được lời giải của An là sai vì đã không so sánh bình phương độ dài cạnh lớn nhất với tổng bình phương độ dài của hai cạnh còn lại. Sửa lại: AB2 + BC2 = 82 + 152 = 64+225 = 289 AC2 = 172 = 289 Nên AB2 + BC2 = AC2 Do đó, tam giác ABC vuông tại B. Qua bài toán trên, học sinh được hình thành kỹ năng giải toán xét xem tam giác ABC có vuông hay không nhờ định lý Pytago đảo. Một tam giác biết độ dài 3 cạnh, muốn xét xem tam giác đó có phải là tam giác vuông hay không, ta so sánh bình phương độ dài cạnh lớn nhất với tổng các bình phương độ dài của hai cạnh còn lại: - Nếu chúng bằng nhau thì tam giác đó vuông tại đỉnh đối diện với cạnh lớn nhất - Nếu chúng không bằng nhau thì tam giác đó không phải là tam giác vuông d. Nội dung phiếu học tập nhằm rèn luyện một thao tác tư duy hoặc thăm dò thái độ của học sinh trước một vấn đề. Rèn luyện một thao tác hoặc nhiều thao tác tư duy cho học sinh là một mục tiêu của tiết học. Bằng hình thức phiếu học tập học sinh sẽ được rèn luyện về khả năng khái quát hoá, tương tự hoá, khả năng suy luận… Ví dụ 1: Khi dạy bài “Tính chất của thứ tự trên tập hợp Q” ( Toán 7) tôi đã dùng phiếu học tập sau. + Điền dấu thích hợp vào ô trống(<; >; =) và hoàn thành nội dung tổng quát. 6  20 5 6 5  5 4 6  ( 20) 5 6 0 5 5  20 4 5  ( 20) 4 5 0 4 Tổng quát: Nếu a < b, m là số bất kỳ thì………………………… Qua phiếu học tập trên, tuy mới chỉ qua một ví dụ song để phù hợp với tư duy của học sinh lớp 6, hoàn toàn có thể cho học sinh dự đoán nội dung tổng quát bằng cách tương tự hóa, khái quát từ đó hình thành tính chất: Nếu a < b thì: a.m < b.m (nếu m > 0) a.m > b.m (nếu m < 0) a.m = b.m (nếu m = 0) Ví dụ 2: Khi dạy bài“ Trường hợp đồng dạng gócgóc”( Toán 8) tôi đã đưa ra bài tập dưới dạng phiếu học tập sau để rèn luyện khả năng suy luận cho học sinh. Bài tập: Trong các khẳng định sau, khẳng định nào đúng, khẳng định nào sai? Đánh dấu “x” vào ô thích hợp. Từ đó hãy rút ra các dấu hiệu nhận biết tam giác cân đồng dạng. T T 1 2 3 4 5 Khẳng định Hai tam giác cân luôn đồng dạng với nhau. Hai tam giác vuông cân luôn đồng dạng với nhau. Hai tam giác đều luôn đồng dạng với nhau. Hai tam giác cân có góc ở đỉnh bằng nhau thì đồng dạng với nhau. Hai tam giác cân có một góc ở đáy bằng nhau thì đồng dạng với nhau. Đ S Kết quả: Các khẳng định đúng: 2,3,4,5 Khẳng định sai: 1 Qua đây học sinh rút ra được các dấu hiệu nhận biết tam giác cân đồng dạng. - Hai tam giác cân có góc ở đỉnh bằng nhau thì đồng dạng với nhau.( Trường hợp đặc biệt: Góc ở đỉnh bằng 60 0 → tam giác đều; góc ở đỉnh bằng 900 → tam giác vuông). - Hai tam giác cân có một góc ở đáy bằng nhau thì đồng dạng với nhau. Ngoài ra phiếu học tập còn có tác dụng thăm dò thái độ của học sinh trước một vấn đề, từ đó giúp học sinh loại trừ được những sai lầm dễ mắc phải đồng thời góp phần giáo dục học sinh giữ vững lập trường quan điểm. Ví dụ 3: Khi dạy bài“ Phương trình chứa ẩn ở mẫu”( Toán 8) tôi đã cho học sinh làm phiếu học tập sau: Bài tập: Cho phương trình x2  5x = 5 (1) x5 Bạn Sơn giải phương trình (1) như sau: (1)  x2 – 5x = 5(x - 5)   x2 – 5x = 5x – 25  x2 – 10x + 25 = 0  (x – 5)2 = 0 x=5 Bạn Hà cho rằng Sơn giải sai vì đã nhân 2 vế với biểu thức x –5 có chứa ẩn. Hà giải bằng cách rút gọn vế trái như sau: (1)  x( x  5) =5 x5  x=5 Hãy cho biết ý kiến của em về hai lời giải trên? Học sinh sẽ nêu được hai lời giải trên thiếu điều kiện xác định của phương trình nên dẫn tới kết luận sai. Lời giải đúng: ĐKXĐ: x ≠ 5  x2  5x x5 =5 x2 – 5x = 5(x - 5)  x2 – 5x = 5x – 25  x2 – 10x + 25 = 0  (x – 5)2 = 0  x = 5 ( không thoả mãn ĐKXĐ) Vậy phương trình (1) vô nghiệm Hoặc: x( x  5) (1)  x  5 = 5  x = 5( không thoả mãn ĐKXĐ) Vậy phương trình (1) vô nghiệm 2.2. Lựa chọn cách thức tổ chức và thời điểm làm phiếu học tập. Ngoài việc lựa chọn nội dung cho học sinh làm phiếu học tập, thì giáo viên cần lựa chọn cách thức tổ chức cho học sinh làm phiếu sao cho khoa học và hợp lý. Để làm được điều đó tôi đã tiến hành như sau: * Chọn thời điểm phát phiếu: - Đối với phiếu nhằm củng cố kiến thức thì giáo viên sẽ phát phiếu ngay sau khi học xong một đơn vị kiến thức hoặc củng cố toàn bài hoặc kiểm tra bài cũ trước khi học bài mới - Đối với phiếu nhằm mục đích phát hiện kiến thức mới thì cần phát cho học sinh trước khi dạy một đơn vị kiến thức. Tuỳ từng trường hợp, từng đối tượng mà tôi phát phiếu cho học sinh dưới hình thức cá nhân hoặc nhóm nhỏ (2 hoặc 3 học sinh ngồi liền kề nhau) * Cách thức xử lý phiếu học tập. Sau khi thu hồi phiếu, để khẳng định kết quả của phiếu giáo viên có thể dùng các biện pháp sau: - Đưa trước đáp án, biểu điểm và chấm mẫu còn học sinh thì trao đổi bài để chấm chéo. Tôi thường dùng hình thức này đối với phiếu củng cố kiến thức dạng bài tập trắc nghiệm. - Chiếu phiếu của một vài học sinh để cả lớp cùng theo dõi nhận xét và đối chiếu bài. Tôi thường dùng hình thức này đối với phiếu rèn luyện kỹ năng giải toán. Nhờ biện pháp này cho phép giáo viên có điều kiện lưu ý học sinh về kỹ năng trình bày và giải quyết được những chỗ yếu của học sinh - Cho học sinh tự phát biểu ý kiến của mình qua đó giáo viên đánh giá. Hình thức này tôi thường sử dụng đối vớí loại phiếu tìm kiến thức mới hoặc phiếu có nội dung thăm dò thái độ của học sinh trước vấn đề trên. III. HIỆU QUẢ DO SÁNG KIẾN ĐEM LẠI 1. Hiệu quả kinh tế 2. Hiệu quả về mặt xã hội Vận dụng những kinh nghiệm trên vào giảng dạy tôi thấy có hiệu quả khá tốt. Nhờ đó học sinh nắm chắc kiến thức hơn, có kỹ năng làm bài tốt hơn, lường trước và tránh được những sai sót dễ mắc phải. Bên cạnh đó, học sinh được làm việc nhiều hơn, các em hiểu bài ngay tại lớp và vận dụng tốt những kiến thức đã học vào giải toán. Ngoài ra, học sinh còn được rèn luyện các thao tác tư duy, giáo dục cho học sinh tính tự lực, biết giữ vững quan điểm, lập trường trong học tập và rèn luyện. Chính vì vậy, kết quả học tập của học sinh được nâng lên. Các kỳ thi chất lượng và các bài kiểm tra các em đều đạt kết quả khá tốt. Hơn nữa việc làm trên đã kích thích được học sinh niềm say mê, hứng thú đối với môn học. IV. ĐỀ XUẤT, KIẾN NGHỊ Để đạt hiệu quả cao nhất trong việc dùng phiếu học tập, người dạy cần chú ý một số điểm sau: 1. Lựa chọn nội dung cho học sinh làm phiếu học tập phải phù hợp với mục tiêu bài học, với định hướng của giáo viên; 2. Nội dung phiếu học tập không quá khó, nặng nề như nội dung hoạt động nhóm bởi vì nội dung phức tạp quá thì cá nhân học sinh không thể giải quyết được trọn vẹn hoặc không giải quyết được một cách nhanh chóng, mất nhiều thời gian của tiết học; 3. Chọn hình thức xử lý phiếu sao cho phù hợp, sao cho phát huy hết được hiệu quả của việc dùng phiếu, kích thích được hứng thú học tập của học sinh; 4. Không quá lạm dụng hình thức dùng phiếu học tập hoặc dùng phiếu có tính chất hình thức, hời hợt, không triệt để. Giáo viên cần phải kết hợp với các hình thức dạy học khác nhằm hình thành và phát triển ở học sinh tư duy tích cực, độc lập, sáng tạo. V. CAM KẾT KHÔNG SAO CHÉP HOẶC VI PHẠM BẢN QUYỀN Tôi xin cam kết báo cáo sáng kiến “ Tổ chức cho học sinh làm phiếu học tập trong dạy học toán THCS” tôi đã trình bày không sao chép hoặc vi phạm bản quyền. CƠ QUAN ĐƠN VỊ TÁC GIẢ SÁNG KIẾN ÁP DỤNG SÁNG KIẾN Trường THCS Giao Tiến xác nhận: Sáng kiến kinh nghiệm “Tổ chức cho học sinh làm phiếu học tập trong dạy học toán THCS” của tác giả Nguyễn Thị Nga xếp loại xuất sắc cấp trường đủ điều kiện dự thi cấp huyện. Nguyễn Thị Nga PHÒNG GD&ĐT HUYỆN GIAO THỦY
- Xem thêm -